Hôm nay,  

Khánh Ly - Tiếng Hát và Tấm Lòng

6/27/202500:00:00(View: 4768)

Khánh Ly hát trong 'Quán Văn' sau vườn nhà
Khánh Ly hát trong 'Quán Văn' sau vườn nhà
Lần đầu tiên tôi được nghe kể chuyện về ca sĩ Khánh Ly là vào khoảng 10 tuổi. Lúc đó, bố tôi là giáo sư trường Sư Phạm Sài Gòn. Vào một buổi tối, nghe nói Khánh Ly được mời về trường hát. Trong nhà tôi, chị Khánh được theo bố đi nghe nhạc, khuya về kể rằng bố được giao nhiệm vụ tặng hoa cho Khánh Ly. Khi nhận hoa, cô ca sĩ nổi tiếng này còn hỏi rằng: “…Trong truyện Giòng Sông Định Mệnh, tại sao anh không cho Thiệu và Yến lấy nhau?”
 
Chị Khánh mê Khánh Ly lắm, cho nên ở nhà thỉnh thoảng còn được gọi là “Khánh Lỳ”. Chị có mấy cuốn băng cối, hình như có tên là “Khánh Ly Hát Cho Quê Hương Việt Nam”. Chị còn chép lời vào một cuốn nhạc gồm đủ loại tác giả, trong đó có nhiều nhạc Trịnh Công Sơn. Nhờ vậy mà từ nhỏ tôi đã được nghe Khánh Ly hát Ca Khúc Da Vàng, có lời để hát theo, cho nên nhập tâm lúc nào không hay…
 
Lớn lên một chút, sau 1975, người hay kể chuyện về Khánh Ly nhất là anh Trần Đại Lộc. Đi tù cải tạo về từ năm 1978, anh đến nhà tôi chơi, rồi từ đó trở thành “anh Hai Lộc” trong nhà. Anh kể thời làm Chương Trình Phát Triển Sinh Hoạt Học Đường (CPS), trong Bộ Dân Vận Chiêu Hồi đã tổ chức nhiều chương trình có Khánh Ly hát, cho nên trở nên thân thiết. Anh Lộc cũng chụp hình chân dung cho Khánh Ly khá nhiều. Đối với anh, Khánh Ly là một ca sĩ sống đặc biệt có tình nghĩa với bạn bè. Dù dư luận văn nghệ sĩ trong nước có một số người nói những điều không hay về người ca sĩ đã di tản từ 1975 này, anh vẫn luôn nói rằng đó là một người bạn mà anh luôn quí trọng.
 
Sang Mỹ vào cuối năm 2006, vào làm cho Việt Báo từ năm 2009, tôi gặp chị Khánh Ly lần đầu tiên là trong tòa soạn, và bắt đầu làm quen với chị từ dạo ấy. Trong một nhóm bạn nhỏ như vậy, tôi có dịp gần gũi với chị hơn, và tự chiêm nghiệm rằng những điều anh Hai Lộc nói về “Khánh Ly sống có tình với bằng hữu” vẫn đúng cho đến tận hôm nay.
 
Vào Tháng Ba vừa rồi là đêm nhạc kỷ niệm sinh nhật 80 của Khánh Ly, và cũng có thể là lần cuối chị trình diễn trên sân khấu lớn. Chỉ vài ngày trước đó, chị bị stroke nhẹ phải vào nhà thương, tưởng đã không thể có mặt. Nhưng rồi chị cũng đến được, vẫn hát trong tình thương yêu của bạn bè, thân hữu. Sau đó Việt Báo có đăng rất nhiều bài viết về Khánh Ly, người ca sĩ huyền thoại gắn liền với những ca khúc của Trịnh Công Sơn, gắn liền với quê hương Việt Nam “…hai mươi năm nội chiến từng ngày…”, là đề tài không bao giờ cũ trong suốt nửa thế kỷ qua. Tình cảm của những người hâm mộ dành cho Khánh Ly sau 60 năm vẫn còn sâu đậm lắm.
 
Riêng tôi đợi cho chị nghỉ ngơi hồi phục sau cơn bệnh, xin một ngày được đến nhà, ngồi tâm tình riêng với chị. Không phải như một người hâm mộ ca sĩ Khánh Ly, mà chỉ là một người bạn nhỏ, nghe chị kể về những vui buồn của 80 năm cuộc đời…
 
Đặc điểm cá nhân nào đã tạo nên một Khánh Ly với một chỗ đứng không thể thay thế trong nền tân nhạc Việt Nam? Theo chị, đó là một niềm đam mê ca hát không gì có thể đánh đổi được. Không hiểu vì sao từ lúc còn bé cắp sách đến trường, chị chỉ nghĩ đến văn học, nghệ thuật âm nhạc; chỉ có một ước mơ và sẵn sàng đánh đổi tất cả mọi thứ để thực hiện cho bằng được: trở thành một ca sĩ chuyên nghiệp. Trong cuốn tự truyện “Đằng Sau Những Nụ Cười”, chị kể lại chuyện mới 12 tuổi đã dám trốn nhà từ Đà Lạt về Sài Gòn để dự thi một cuộc thi tuyển lựa ca sĩ vào năm 1956. Chị hát bài Ngày Trở Về của Phạm Duy, và đoạt giải nhì. Quả là “gan liền tướng quân!”  Cũng may là ước mơ một đời người cũng đã thực hiện được; để ở tuổi 80 chị không có gì hối tiếc khi chấm dứt sự nghiệp. Để trở thành một ca sĩ đi vào lòng hàng triệu người thuộc nhiều thế hệ, ngoài thiên phú về giọng hát, theo chị điều quan trọng trong đời sống hàng ngày là biết quên đi bản thân để có thể vui buồn cùng với mọi người. Trong suốt 60 năm ca hát từ Việt Nam ra hải ngoại rồi lại trở về Việt Nam, niềm say mê của khán giả bao giờ cũng là niềm hạnh phúc của chị. Chị hát lúc nào cũng đam mê như người yêu với tình yêu đầu đời.
 
Kỷ niệm nào là đẹp nhất, đáng nhớ nhất trong 60 năm ca hát? Đó là lần đầu tiên gặp nhạc sĩ Trịnh Công Sơn (TCS). Vào một buổi tối năm 1964, TCS và một vài người bạn đến nghe chị hát tại một phòng trà ở Đà Lạt; rồi ông tự giới thiệu mình. Hồi đó, chị chưa hề biết TCS là ai, và cũng chưa từng nghe nhạc của ông. Những ngày sau đó, ông hẹn gặp, tự đàn hát những ca khúc của mình: Tiếng Hát Dạ Lan, Nắng Thủy Tinh, Xin Mặt Trời Ngủ Yên… Chị nghe thấy thích và hát theo, học cách người nhạc sĩ diễn đạt những bài hát. Chị bắt đầu hát nhạc TCS tình cờ như vậy đó. Chị không hề cố ý lựa chọn để hát nhạc TCS; mà cũng không chắc là ông có chủ đích chọn Khánh Ly để hát nhạc của mình. Vậy mà nhạc TCS ngấm vào tâm hồn lúc nào không hay, để rồi nhạc TCS trở thành một phần không thể tách rời giọng hát của Khánh Ly. TCS cũng không hướng dẫn chị phải hát nhạc mình như thế nào. Ông chỉ nói là “…Đừng hát giọng óc nữa, nghe khó chịu lắm…!” Thuở mới đi hát, chị hát toàn nhạc tiền chiến: Con Thuyền Không Bến, Đêm Đông… cho nên hát giọng cao; bây giờ có cố hát lại như vậy cũng không được… Trong cuộc đời ca hát, chị hát nhiều thể loại nhạc, nhiều tác giả, và cũng để lại dấu ấn riêng không kém gì nhạc TCS. Nhưng chị nói rằng chỉ khi hát nhạc TCS là cảm thấy thoái mái, dễ dàng nhất.


Khánh Ly và các 'bạn nhỏ'
Khánh Ly và các 'bạn nhỏ' 
 
Ca Khúc Da Vàng và hát tình khúc TCS có gì khác nhau? Mới nghe thoáng qua, cả hai có cùng loại giai điệu đơn giản mà giàu cá tính; ca từ với thứ ngôn ngữ giàu trí tưởng tượng đặc trưng của TCS. Tuy nhiên, chúng khác nhau ở phần hồn. Hát tình khúc TCS là hát cho một người, cho chính mình; trong khi hát Ca Khúc Da Vàng (CKDV) là hát cho nhiều người, hát cho dân tộc, hát cho quê hương Việt Nam. Trong CKDV có cả tình yêu quê hương, dân tộc và cả tình yêu đôi lứa; có cả hạnh phúc, nỗi đau và niềm hy vọng. Chính CKDV mới thể hiện được trái tim, tâm hồn đáng trân trọng của TCS, một người luôn nghĩ đến nỗi đau, niềm vui của những người khác; muốn an ủi và đem niềm hy vọng chia sẻ với những mảnh đời bất hạnh trong chiến tranh. Có thể vì vậy mà chị dễ đồng cảm với TCS trong CKDV. Khi hát tình ca TCS, chị nghĩ đến bản thân, đến người yêu. Nhưng khi hát CKDV, chị thấy mình có trách nhiệm với quê hương đất nước, với xã hội, với con người, đặc biệt là những người kém may mắn trong chiến tranh.
 
Tình bạn tri kỷ trong âm nhạc với TCS là một mối quan hệ đặc biệt trong cả cuộc đời chị, nhưng chưa bao giờ là tình yêu nam nữ. TCS là một người nhỏ nhẹ, dịu dàng, từ tốn, nghiêm túc. Chị kính nể ông ngay từ lần đầu gặp gỡ, và vẫn giữ sự kính trọng này cho đến ngày hôm nay. Sự tương kính này hình như đã được xác lập một cách tự nhiên, và cả hai đều giữ mối thâm giao theo đúng cách; nhờ vậy mà tình bạn vẫn giữ được tốt đẹp đến trọn đời.
 
Với Khánh Ly, tình bằng hữu là vô cùng đáng trân trọng, không phân biệt giàu nghèo, xấu đẹp. Đã là bạn sẽ là bạn suốt đời, và chị đối với bạn bè lúc nào cũng đầy, bao giờ cũng hết lòng. Nhóm thân hữu NTM có lẽ là những người cảm nhận điều này nhiều nhất. Bất kể tuổi tác, có tiếng tăm hay không, mới gặp hay đã biết từ lâu, những ai đến chơi với chị đều nhận được sự trân quí như nhau. Chị kho cá, muối cà ngon lắm. Làm xong chia thành từng phần, chị nhớ những ai thích, gọi để đến lấy phần. Vườn nhà chị trồng nhiều cây ăn quả. Đến mùa có trái, chị rủ nhóm đến nhà chơi, mời hái cho hết trái cây bơ, cây bưởi. Hình như niềm vui của mọi người cũng là niềm vui của chị. 
 
Và rồi chị chạm đến tuổi tám mươi… Đến cuối đời, rời xa sân khấu, khán giả, quên đi kẻ ghét người thương, quên đi những vinh nhục của “…đời ca hát ngày tháng cho người mua vui…” (Ánh Đèn Màu). Bên cạnh con cháu, chị vẫn còn những người bạn mà chị yêu quí, có dịp là lại quây quần bên chị. Tôi hỏi chị có tiếc điều gì chưa thực hiện được khi đã rời sân khấu hay không? Chị trả lời là có; vẫn còn một số ca khúc của Phạm Duy, Trịnh Công Sơn chị rất thích mà vẫn chưa bao giờ trình diễn, như bài Đường Chiều Lá Rụng của Phạm Duy. À! Vậy là đối với chị, những bài hát vẫn là niềm say mê đến cuối cuộc đời.
 
Điều quan trọng nhất đối với chị là được hát. Bởi vì giọng hát cho chị tất cả những gì có được trong cuộc đời. Chị tin rằng giọng hát mình có được là do ý chỉ của Thiên Chúa. Tại sao trong hàng triệu Việt người có giọng nói chỉ có một giọng hát Khánh Ly? Cũng vì thế, chị tin rằng đi hát là theo ý chỉ của Chúa; Đức Tin là kim chỉ nam trong suốt sự nghiệp ca hát của chị. Về cuối đời, chị làm nhiều việc thiện cho nhà thờ, đi hát cho cả nhà thờ lẫn chùa chiền; đến thăm viện dưỡng lão, trại mồ côi… đều là cho lý tưởng phục vụ con người.
 
Đến tuổi 80, chị tin rằng mình đã không phung phí điều gì trong cuộc sống, và đã sống trọn vẹn. Chi không còn hối tiếc, không ăn năn, không trông chờ bất cứ một điều gì. Nếu ngoài vườn có một đóa hoa mới nở, chị sẽ ngắm nó mà chẳng nghĩ là hoa nở vì mình. Ngày nào có người thân, bè bạn bên cạnh sẽ vui, mà không có cũng chẳng sao. Tri túc ở tuổi già, chị cảm thấy bình yên, hạnh phúc…
 
Câu chuyện giữa hai chị em kết thúc lúc buổi chiều nhá nhem tối. Tôi lái xe ra về, lòng cảm thấy vui. Là một người mê giọng hát Khánh Ly, thuở bé đã từng mơ ước được một lần được nhìn, được nghe Khánh Ly hát trên sân khấu. Sang đến Mỹ, từng mong có dịp đệm guitar cho chị hát Ca Khúc Da Vàng. Đến nay, những điều này đều đã làm được. Và hôm nay, tôi còn được ngồi với chị, nghe chị kể chuyện buồn vui cuộc đời. Hai chị em cùng ngắm lại những bức ảnh anh Trần Đại Lộc chụp chị từ hồi trước 1975, nhắc lại những câu chuyện về người bạn chung hiền lành, chân tình này. Chị như còn nhắn nhủ với tôi một điều: có những thứ còn tồn tại lâu hơn cả một giọng hát huyền thoại. Đó là tình bằng hữu, là tấm lòng yêu thương nhân ái. Như câu hát chị đã từng nhiều lần ngân nga:

Sống trong đời sống cần có một tấm lòng
Để làm gì, em biết không?
Để gió cuốn đi…
 
Doãn Hưng
  

Send comment
Vui lòng nhập tiếng Việt có dấu.Cách gõ tiếng Việt có dấu ==> https://youtu.be/ngEjjyOByH4
Your Name
Your email address
)
Nhân kỷ niệm 50 năm kết thúc cuộc chiến ở Việt Nam, cũng là 50 năm xây dựng cộng đồng người Việt hải ngoại, Khoa Lịch sử trường Đại học California, Irvine tổ chức một chuỗi sự kiện trong 3-ngày: từ ngày 7 tới ngày 9 tháng Năm năm 2025.
Thương nhớ. Cảm động. Ngậm Ngùi. Và ước mơ một ngày quê nhà sẽ có dân chủ, khi đó Sài Gòn sẽ được hồi phục tên cũ. Đêm nhạc Trần Chí Phúc với chủ đề Sài Gòn Một Thoáng 50 Năm vào chiều Thứ Bảy 19/4/2025 đã chạm rất ngọt ngào và cay đắng vào trái tim của những người con Sài Gòn.
“Năm nay mang một ý nghĩa đặc biệt sâu sắc, là cột mốc 50 năm kể từ ngày những người tị nạn Việt Nam đầu tiên đặt chân đến Hoa Kỳ. Nửa thế kỷ kiên cường, dựng xây và tái định nghĩa thế nào là người Mỹ gốc Việt. Trong suốt hành trình đó, nghệ thuật kể chuyện đã đóng một vai trò thiết yếu—lưu giữ lịch sử, mở rộng tương lai, và thắt chặt cộng đồng. Chính vì thế, chúng tôi vô cùng tự hào được mang đến cho quý vị VietBook Fest năm nay—không chỉ một lễ hội sách, mà một không gian để kết nối, đối thoại và tôn vinh Bản Sắc Người Việt 50 Năm.”
Ngày Thứ Bảy 29 tháng 3 năm 2025 tại Citadel Art Gallery, một buổi Ra Mắt Thơ kèm thêm Triển Lãm đã được tổ chức rầm rộ và được sự hưởng ứng nồng nhiệt của khách thưởng ngoạn. Buổi hội ngộ văn học, nghệ thuật hy hữu này có sự góp mặt của nhiều tác giả với nhiều hình thái nghệ thuật như hội hoạ, điêu khắc, nhiếp ảnh, văn, thơ, sách, và âm nhạc. Gần 200 quan khách hiện diện đã làm bầu không khí nghệ thuật bừng sáng.
Sự ra đi lặng lẽ của họa sĩ Nguyễn Đồng là một một dư vang trầm mặc trong ký ức nghệ thuật Miền Nam – một miền nghệ thuật từng sống động, tự do, nơi mà hội họa được đặt ngang hàng với văn học, triết học, và cả chính trị. Ông không những là một trong những họa sĩ tiêu biểu của thời Đệ Nhị Cộng Hòa, mà còn là nhân chứng của một nền văn hóa từng rực rỡ trước khi bị chôn vùi dưới lớp bụi chiến tranh và chính trị hóa nghệ thuật.
Buổi ra mắt tuyển tập "Nguyễn Thị Khánh Minh, Bằng hữu & Văn chương – Tạp chí Ngôn Ngữ ấn bản đặc biệt" cho thấy sự đóng góp, quý trọng của nhiều nhà văn, nhà thơ đối với nhà thơ nữ này. Độ dày sách này là 544 trang, dày gấp nhiều lần các thi tập trước kia của nhà thơ nữ này. Nơi đây cũng lưu giữ những ký họa, tranh bìa, thủ bút, thơ tặng, bình luận từ hơn 40 văn nghệ sĩ cho Nguyễn Thị Khánh Minh, trong đó có các tên tuổi lớn như Thầy Tuệ Sỹ, Bùi Giáng, Đinh Cường, Đinh Trường Chinh, Trịnh Cung, Trương Đình Uyên, Lê Thánh Thư, Đỗ Hồng Ngọc, và nhiều người khác.
Họa sĩ Hồ Thành Đức sinh năm 1940 tại Đà Nẵng, Quảng Nam. Ông tốt nghiệp Cao Đẳng Quốc Gia Mỹ Thuật Sài Gòn, sáng lập viên của Hội Họa sĩ Trẻ Việt Nam (1968-1975), Giáo sư hội họa Viện Đại Học Vạn Hạnh (1969-1975), Khoa trưởng ngành Họa Thực Tiễn tại Đại Học Phương Nam (1974-1975). Ông đã có rất nhiều cuộc triển lãm trong và ngoài nước. Tranh của ông cũng có mặt tại nhiều viện bảo tàng danh tiếng trên thế giới trong đó phải kể đến Viện Bảo Tàng Nghệ Thuật Smithsonian tại thủ đô Washington. Tranh của ông được đánh giá cao bởi nhiều cây bút phê bình hội họa trong và ngoài nước..
“Để có thể nối kết đồng cảm ý nghĩa và tình tự của một ca khúc với người nghe, người hát cần hiểu ca từ sâu sắc và rung động với tâm tình trong lời và nhạc.”
Một lần tôi bất chợt nghe Khánh Ly hát: Ta không thấy em từ bấy lâu nay, mùa mưa làm rừng đước dâng đầy/trên cao gió hát mây như tóc/tràm đứng như em một dáng gầy. Mỗi con lạch là mỗi xót xa, mỗi giòng sông là mỗi tuổi già, thành phố đâu đây khuất hình khuất dạng, cuộc chiến già nua theo mỗi tiếng ca…. (Thơ U Minh- Nguyễn Tiến Cung, Phạm Duy phổ nhạc.) Tiếnh hát của chị rời rạc, kể lể. Bài hát không có tiếng súng tiếng bom nào cả, nhưng qua cái giọng nhừa nhựa chẫm rãi của chị ta thấy như những trang sách viết về chiến tranh đang lật từng tờ và người lính đó đang bì bõm trong rừng đước U Minh. Anh không bao giờ còn gặp lại người yêu nữa. Anh tử trận hay người yêu đã bỏ đi xa? Kết thúc nào cũng buồn cả. Tôi nghe đi nghe lại nhiều lần đoạn hát giản dị này và lúc nào nghe cũng ứa nước mắt.
Lần đầu tiên tôi có cơ hội được một mình ngồi trò chuyện với cô Khánh Ly là một ngày của Tháng 3 cách đây tròn 15 năm – khi được sếp phân công phỏng vấn viết bài về sự có mặt của cô trong một đêm nhạc mang tên “Du Mục” của nhóm The Friends. Tôi vẫn nhớ như in lần đầu gặp gỡ đó – giữa Khánh Ly – người được xem như một trong những huyền thoại của làng âm nhạc Việt Nam, và tôi – một phóng viên mới bước vào nghiệp cầm bút chưa đầy 2 năm. Nơi cô hẹn tôi là quán phở Nguyễn Huệ của chú Cảnh ‘Vịt’ (chú Cảnh đã bỏ trần gian đi rong chơi ở chốn xa lắc xa lơ nào cũng đã vài năm). Hôm đó, chồng cô, nhà báo Nguyễn Hoàng Đoan, chở cô tới. Trong hơn một tiếng đồng hồ, tôi đã hỏi cô nhiều câu – phần lớn chả ăn nhập gì đến chương trình cô sắp tham gia – mà chỉ là những câu hỏi tôi tò mò muốn biết về Khánh Ly – một người được bao người ngưỡng mộ, bao người mơ ước được gặp mặt – lại đang ngồi đối diện tôi, cùng tôi uống cà phê trong quán phở, và làm tôi bị say thuốc lá


Kính chào quý vị,

Tôi là Derek Trần, dân biểu đại diện Địa Hạt 45, và thật là một vinh dự lớn lao khi được đứng nơi đây hôm nay, giữa những tiếng nói, những câu chuyện, và những tâm hồn đã góp phần tạo nên diện mạo văn học của cộng đồng người Mỹ gốc Việt trong suốt một phần tư thế kỷ qua.
Hai mươi lăm năm! Một cột mốc bạc! Một cột mốc không chỉ đánh dấu thời gian trôi qua, mà còn ghi nhận sức bền bỉ của một giấc mơ. Hôm nay, chúng ta kỷ niệm 25 năm Giải Viết Về Nước Mỹ của nhật báo Việt Báo.

Khi những người sáng lập giải thưởng này lần đầu tiên ngồi lại bàn thảo, họ đã hiểu một điều rất căn bản rằng: Kinh nghiệm tỵ nạn, hành trình nhập cư, những phức tạp, gian nan, và sự thành công mỹ mãn trong hành trình trở thành người Mỹ gốc Việt – tất cả cần được ghi lại. Một hành trình ý nghĩa không những cần nhân chứng, mà cần cả những người viết để ghi nhận và bảo tồn. Họ không chỉ tạo ra một cuộc thi; họ đã và đang xây dựng một kho lưu trữ. Họ thắp lên một ngọn hải đăng cho thế hệ sau để chuyển hóa tổn thương thành chứng tích, sự im lặng thành lời ca, và cuộc sống lưu vong thành sự hội nhập.

Trong những ngày đầu ấy, văn học Hoa Kỳ thường chưa phản ánh đầy đủ sự phong phú và đa dạng về kinh nghiệm của chúng ta. Giải thưởng Viết Về Nước Mỹ thực sự đã lấp đầy khoảng trống đó bằng sự ghi nhận và khích lệ vô số tác giả, những người đã cầm bút và cùng viết nên một thông điệp mạnh mẽ: “Chúng ta đang hiện diện nơi đây. Trải nghiệm của chúng ta là quan trọng. Và nước Mỹ của chúng ta là thế đó.”


Suốt 25 năm qua, giải thưởng này không chỉ vinh danh tài năng mà dựng nên một cộng đồng và tạo thành một truyền thống.
Những cây bút được tôn vinh hôm nay không chỉ mô tả nước Mỹ; họ định nghĩa nó. Họ mở rộng giới hạn của nước Mỹ, làm phong phú văn hóa của nước Mỹ, và khắc sâu tâm hồn của nước Mỹ. Qua đôi mắt họ, chúng ta nhìn thấy một nước Mỹ tinh tế hơn, nhân ái hơn, và sau cùng, chân thật hơn.

Xin được nhắn gửi đến các tác giả góp mặt từ bao thế hệ để chia sẻ tấm chân tình trên các bài viết, chúng tôi trân trọng cảm ơn sự can đảm của quý vị. Can đảm không chỉ là vượt qua biến cố của lịch sử; can đảm còn là việc ngồi trước trang giấy trắng, đối diện với chính mình, lục lọi ký ức đau thương sâu đậm, và gửi tặng trải nghiệm đó đến tha nhân. Quý vị là những người gìn giữ ký ức tập thể và là những người dẫn đường cho tương lai văn hóa Việt tại Hoa Kỳ.

Với Việt Báo: Xin trân trọng cảm ơn tầm nhìn, tâm huyết, và sự duy trì bền bỉ giải thưởng này suốt một phần tư thế kỷ.
Khi hướng đến 25 năm tới, chúng ta hãy tiếp tục khích lệ thế hệ kế tiếp—những blogger, thi sĩ, tiểu thuyết gia, nhà phê bình, nhà văn trẻ—để họ tìm thấy tiếng nói của chính mình và kể lại sự thật của họ, dù đó là thử thách hay niềm vui. Bởi văn chương không phải là một thứ xa xỉ; đó là sự cần thiết. Đó là cách chúng ta chữa lành, cách chúng ta ghi nhớ, và là cách chúng ta tìm thấy nơi chốn của mình một cách trọn vẹn.

Xin cảm ơn quý vị.

NHẬN TIN QUA EMAIL
Vui lòng nhập địa chỉ email muốn nhận.