Hôm nay,  

Khánh Ly - Tiếng Hát và Tấm Lòng

27/06/202500:00:00(Xem: 4766)

Khánh Ly hát trong 'Quán Văn' sau vườn nhà
Khánh Ly hát trong 'Quán Văn' sau vườn nhà
Lần đầu tiên tôi được nghe kể chuyện về ca sĩ Khánh Ly là vào khoảng 10 tuổi. Lúc đó, bố tôi là giáo sư trường Sư Phạm Sài Gòn. Vào một buổi tối, nghe nói Khánh Ly được mời về trường hát. Trong nhà tôi, chị Khánh được theo bố đi nghe nhạc, khuya về kể rằng bố được giao nhiệm vụ tặng hoa cho Khánh Ly. Khi nhận hoa, cô ca sĩ nổi tiếng này còn hỏi rằng: “…Trong truyện Giòng Sông Định Mệnh, tại sao anh không cho Thiệu và Yến lấy nhau?”
 
Chị Khánh mê Khánh Ly lắm, cho nên ở nhà thỉnh thoảng còn được gọi là “Khánh Lỳ”. Chị có mấy cuốn băng cối, hình như có tên là “Khánh Ly Hát Cho Quê Hương Việt Nam”. Chị còn chép lời vào một cuốn nhạc gồm đủ loại tác giả, trong đó có nhiều nhạc Trịnh Công Sơn. Nhờ vậy mà từ nhỏ tôi đã được nghe Khánh Ly hát Ca Khúc Da Vàng, có lời để hát theo, cho nên nhập tâm lúc nào không hay…
 
Lớn lên một chút, sau 1975, người hay kể chuyện về Khánh Ly nhất là anh Trần Đại Lộc. Đi tù cải tạo về từ năm 1978, anh đến nhà tôi chơi, rồi từ đó trở thành “anh Hai Lộc” trong nhà. Anh kể thời làm Chương Trình Phát Triển Sinh Hoạt Học Đường (CPS), trong Bộ Dân Vận Chiêu Hồi đã tổ chức nhiều chương trình có Khánh Ly hát, cho nên trở nên thân thiết. Anh Lộc cũng chụp hình chân dung cho Khánh Ly khá nhiều. Đối với anh, Khánh Ly là một ca sĩ sống đặc biệt có tình nghĩa với bạn bè. Dù dư luận văn nghệ sĩ trong nước có một số người nói những điều không hay về người ca sĩ đã di tản từ 1975 này, anh vẫn luôn nói rằng đó là một người bạn mà anh luôn quí trọng.
 
Sang Mỹ vào cuối năm 2006, vào làm cho Việt Báo từ năm 2009, tôi gặp chị Khánh Ly lần đầu tiên là trong tòa soạn, và bắt đầu làm quen với chị từ dạo ấy. Trong một nhóm bạn nhỏ như vậy, tôi có dịp gần gũi với chị hơn, và tự chiêm nghiệm rằng những điều anh Hai Lộc nói về “Khánh Ly sống có tình với bằng hữu” vẫn đúng cho đến tận hôm nay.
 
Vào Tháng Ba vừa rồi là đêm nhạc kỷ niệm sinh nhật 80 của Khánh Ly, và cũng có thể là lần cuối chị trình diễn trên sân khấu lớn. Chỉ vài ngày trước đó, chị bị stroke nhẹ phải vào nhà thương, tưởng đã không thể có mặt. Nhưng rồi chị cũng đến được, vẫn hát trong tình thương yêu của bạn bè, thân hữu. Sau đó Việt Báo có đăng rất nhiều bài viết về Khánh Ly, người ca sĩ huyền thoại gắn liền với những ca khúc của Trịnh Công Sơn, gắn liền với quê hương Việt Nam “…hai mươi năm nội chiến từng ngày…”, là đề tài không bao giờ cũ trong suốt nửa thế kỷ qua. Tình cảm của những người hâm mộ dành cho Khánh Ly sau 60 năm vẫn còn sâu đậm lắm.
 
Riêng tôi đợi cho chị nghỉ ngơi hồi phục sau cơn bệnh, xin một ngày được đến nhà, ngồi tâm tình riêng với chị. Không phải như một người hâm mộ ca sĩ Khánh Ly, mà chỉ là một người bạn nhỏ, nghe chị kể về những vui buồn của 80 năm cuộc đời…
 
Đặc điểm cá nhân nào đã tạo nên một Khánh Ly với một chỗ đứng không thể thay thế trong nền tân nhạc Việt Nam? Theo chị, đó là một niềm đam mê ca hát không gì có thể đánh đổi được. Không hiểu vì sao từ lúc còn bé cắp sách đến trường, chị chỉ nghĩ đến văn học, nghệ thuật âm nhạc; chỉ có một ước mơ và sẵn sàng đánh đổi tất cả mọi thứ để thực hiện cho bằng được: trở thành một ca sĩ chuyên nghiệp. Trong cuốn tự truyện “Đằng Sau Những Nụ Cười”, chị kể lại chuyện mới 12 tuổi đã dám trốn nhà từ Đà Lạt về Sài Gòn để dự thi một cuộc thi tuyển lựa ca sĩ vào năm 1956. Chị hát bài Ngày Trở Về của Phạm Duy, và đoạt giải nhì. Quả là “gan liền tướng quân!”  Cũng may là ước mơ một đời người cũng đã thực hiện được; để ở tuổi 80 chị không có gì hối tiếc khi chấm dứt sự nghiệp. Để trở thành một ca sĩ đi vào lòng hàng triệu người thuộc nhiều thế hệ, ngoài thiên phú về giọng hát, theo chị điều quan trọng trong đời sống hàng ngày là biết quên đi bản thân để có thể vui buồn cùng với mọi người. Trong suốt 60 năm ca hát từ Việt Nam ra hải ngoại rồi lại trở về Việt Nam, niềm say mê của khán giả bao giờ cũng là niềm hạnh phúc của chị. Chị hát lúc nào cũng đam mê như người yêu với tình yêu đầu đời.
 
Kỷ niệm nào là đẹp nhất, đáng nhớ nhất trong 60 năm ca hát? Đó là lần đầu tiên gặp nhạc sĩ Trịnh Công Sơn (TCS). Vào một buổi tối năm 1964, TCS và một vài người bạn đến nghe chị hát tại một phòng trà ở Đà Lạt; rồi ông tự giới thiệu mình. Hồi đó, chị chưa hề biết TCS là ai, và cũng chưa từng nghe nhạc của ông. Những ngày sau đó, ông hẹn gặp, tự đàn hát những ca khúc của mình: Tiếng Hát Dạ Lan, Nắng Thủy Tinh, Xin Mặt Trời Ngủ Yên… Chị nghe thấy thích và hát theo, học cách người nhạc sĩ diễn đạt những bài hát. Chị bắt đầu hát nhạc TCS tình cờ như vậy đó. Chị không hề cố ý lựa chọn để hát nhạc TCS; mà cũng không chắc là ông có chủ đích chọn Khánh Ly để hát nhạc của mình. Vậy mà nhạc TCS ngấm vào tâm hồn lúc nào không hay, để rồi nhạc TCS trở thành một phần không thể tách rời giọng hát của Khánh Ly. TCS cũng không hướng dẫn chị phải hát nhạc mình như thế nào. Ông chỉ nói là “…Đừng hát giọng óc nữa, nghe khó chịu lắm…!” Thuở mới đi hát, chị hát toàn nhạc tiền chiến: Con Thuyền Không Bến, Đêm Đông… cho nên hát giọng cao; bây giờ có cố hát lại như vậy cũng không được… Trong cuộc đời ca hát, chị hát nhiều thể loại nhạc, nhiều tác giả, và cũng để lại dấu ấn riêng không kém gì nhạc TCS. Nhưng chị nói rằng chỉ khi hát nhạc TCS là cảm thấy thoái mái, dễ dàng nhất.


Khánh Ly và các 'bạn nhỏ'
Khánh Ly và các 'bạn nhỏ' 
 
Ca Khúc Da Vàng và hát tình khúc TCS có gì khác nhau? Mới nghe thoáng qua, cả hai có cùng loại giai điệu đơn giản mà giàu cá tính; ca từ với thứ ngôn ngữ giàu trí tưởng tượng đặc trưng của TCS. Tuy nhiên, chúng khác nhau ở phần hồn. Hát tình khúc TCS là hát cho một người, cho chính mình; trong khi hát Ca Khúc Da Vàng (CKDV) là hát cho nhiều người, hát cho dân tộc, hát cho quê hương Việt Nam. Trong CKDV có cả tình yêu quê hương, dân tộc và cả tình yêu đôi lứa; có cả hạnh phúc, nỗi đau và niềm hy vọng. Chính CKDV mới thể hiện được trái tim, tâm hồn đáng trân trọng của TCS, một người luôn nghĩ đến nỗi đau, niềm vui của những người khác; muốn an ủi và đem niềm hy vọng chia sẻ với những mảnh đời bất hạnh trong chiến tranh. Có thể vì vậy mà chị dễ đồng cảm với TCS trong CKDV. Khi hát tình ca TCS, chị nghĩ đến bản thân, đến người yêu. Nhưng khi hát CKDV, chị thấy mình có trách nhiệm với quê hương đất nước, với xã hội, với con người, đặc biệt là những người kém may mắn trong chiến tranh.
 
Tình bạn tri kỷ trong âm nhạc với TCS là một mối quan hệ đặc biệt trong cả cuộc đời chị, nhưng chưa bao giờ là tình yêu nam nữ. TCS là một người nhỏ nhẹ, dịu dàng, từ tốn, nghiêm túc. Chị kính nể ông ngay từ lần đầu gặp gỡ, và vẫn giữ sự kính trọng này cho đến ngày hôm nay. Sự tương kính này hình như đã được xác lập một cách tự nhiên, và cả hai đều giữ mối thâm giao theo đúng cách; nhờ vậy mà tình bạn vẫn giữ được tốt đẹp đến trọn đời.
 
Với Khánh Ly, tình bằng hữu là vô cùng đáng trân trọng, không phân biệt giàu nghèo, xấu đẹp. Đã là bạn sẽ là bạn suốt đời, và chị đối với bạn bè lúc nào cũng đầy, bao giờ cũng hết lòng. Nhóm thân hữu NTM có lẽ là những người cảm nhận điều này nhiều nhất. Bất kể tuổi tác, có tiếng tăm hay không, mới gặp hay đã biết từ lâu, những ai đến chơi với chị đều nhận được sự trân quí như nhau. Chị kho cá, muối cà ngon lắm. Làm xong chia thành từng phần, chị nhớ những ai thích, gọi để đến lấy phần. Vườn nhà chị trồng nhiều cây ăn quả. Đến mùa có trái, chị rủ nhóm đến nhà chơi, mời hái cho hết trái cây bơ, cây bưởi. Hình như niềm vui của mọi người cũng là niềm vui của chị. 
 
Và rồi chị chạm đến tuổi tám mươi… Đến cuối đời, rời xa sân khấu, khán giả, quên đi kẻ ghét người thương, quên đi những vinh nhục của “…đời ca hát ngày tháng cho người mua vui…” (Ánh Đèn Màu). Bên cạnh con cháu, chị vẫn còn những người bạn mà chị yêu quí, có dịp là lại quây quần bên chị. Tôi hỏi chị có tiếc điều gì chưa thực hiện được khi đã rời sân khấu hay không? Chị trả lời là có; vẫn còn một số ca khúc của Phạm Duy, Trịnh Công Sơn chị rất thích mà vẫn chưa bao giờ trình diễn, như bài Đường Chiều Lá Rụng của Phạm Duy. À! Vậy là đối với chị, những bài hát vẫn là niềm say mê đến cuối cuộc đời.
 
Điều quan trọng nhất đối với chị là được hát. Bởi vì giọng hát cho chị tất cả những gì có được trong cuộc đời. Chị tin rằng giọng hát mình có được là do ý chỉ của Thiên Chúa. Tại sao trong hàng triệu Việt người có giọng nói chỉ có một giọng hát Khánh Ly? Cũng vì thế, chị tin rằng đi hát là theo ý chỉ của Chúa; Đức Tin là kim chỉ nam trong suốt sự nghiệp ca hát của chị. Về cuối đời, chị làm nhiều việc thiện cho nhà thờ, đi hát cho cả nhà thờ lẫn chùa chiền; đến thăm viện dưỡng lão, trại mồ côi… đều là cho lý tưởng phục vụ con người.
 
Đến tuổi 80, chị tin rằng mình đã không phung phí điều gì trong cuộc sống, và đã sống trọn vẹn. Chi không còn hối tiếc, không ăn năn, không trông chờ bất cứ một điều gì. Nếu ngoài vườn có một đóa hoa mới nở, chị sẽ ngắm nó mà chẳng nghĩ là hoa nở vì mình. Ngày nào có người thân, bè bạn bên cạnh sẽ vui, mà không có cũng chẳng sao. Tri túc ở tuổi già, chị cảm thấy bình yên, hạnh phúc…
 
Câu chuyện giữa hai chị em kết thúc lúc buổi chiều nhá nhem tối. Tôi lái xe ra về, lòng cảm thấy vui. Là một người mê giọng hát Khánh Ly, thuở bé đã từng mơ ước được một lần được nhìn, được nghe Khánh Ly hát trên sân khấu. Sang đến Mỹ, từng mong có dịp đệm guitar cho chị hát Ca Khúc Da Vàng. Đến nay, những điều này đều đã làm được. Và hôm nay, tôi còn được ngồi với chị, nghe chị kể chuyện buồn vui cuộc đời. Hai chị em cùng ngắm lại những bức ảnh anh Trần Đại Lộc chụp chị từ hồi trước 1975, nhắc lại những câu chuyện về người bạn chung hiền lành, chân tình này. Chị như còn nhắn nhủ với tôi một điều: có những thứ còn tồn tại lâu hơn cả một giọng hát huyền thoại. Đó là tình bằng hữu, là tấm lòng yêu thương nhân ái. Như câu hát chị đã từng nhiều lần ngân nga:

Sống trong đời sống cần có một tấm lòng
Để làm gì, em biết không?
Để gió cuốn đi…
 
Doãn Hưng
  

Gửi ý kiến của bạn
Vui lòng nhập tiếng Việt có dấu. Cách gõ tiếng Việt có dấu ==> https://youtu.be/ngEjjyOByH4
Tên của bạn
Email của bạn
)
Người đời thường nói Beethoven cô độc trong tình yêu, nhưng cái chết của ông không khép lại trái tim ấy. Giữa đống giấy tờ trong ngăn bàn của thiên tài điếc, người ta tìm thấy một bức thư tình chưa gửi – ngọn lửa còn cháy dở của một cuộc tình bị giấu kín. Bức thư không đề tên người nhận. Chỉ có mấy chữ run rẩy: “Gửi người yêu bất tử.”“Anh chỉ có thể sống trọn vẹn bên em, hoặc không sống gì cả... Anh sẽ lang thang mãi cho đến khi được bay về với vòng tay em.”
Giờ học hôm nay lớp Đại Dương học đọc bài hát Việt Nam! Việt Nam! của nhạc sĩ Phạm Duy. Cô giáo cắt nghĩa những chữ khó bằng tiếng Việt, học trò thay phiên nhau lên bảng viết tiếng Việt và dịch ra tiếng Đức. Trong bài hát, học trò làm quen với những chữ dùng phép ẩn dụ (Metapher) như “vành nôi”, “xương máu”... Học trò đã học “đất” là Erde, “nước” là Wasser. Giờ đây học trò hiểu thêm, khi nói chung, hai chữ “đất nước” nghĩa là quê hương, là tổ quốc. Cô giáo hỏi học trò có những ấn tượng gì sau khi đọc và hiểu nội dung bài hát. Một trò phát biểu: “Việt Nam là đất nước đẹp. Việt Nam muốn sống trong hòa bình.” Cô giáo khen trò giỏi, vì trò đã hiểu câu hát: “Việt Nam không đòi xương máu.” Trò khác nói: “Con thích nhất câu: Việt Nam! Việt Nam! Nghe từ vào đời/ Việt Nam hai câu nói bên vành nôi”. Có mấy trò lại thích câu: Tình yêu đây là khí giới/ Tình thương đem về muôn nơi.
Nói gì thì nói, màu da vẫn là loại “giấy tờ” đầu tiên mà nhân loại cấp cho nhau. Nó quyết định bạn được vào đâu, bị nhìn thế nào, bị xét đoán ra sao. Wole Soyinka từng nói: “Da tôi đen, nhưng trí óc tôi không có màu.” Thế mà biên giới thế giới lại chỉ hiểu được màu trắng. Có người bảo: “Đó là lỗi hệ thống.” Nhưng hệ thống nào lại sợ một ông già bảy mươi mấy tuổi với cây bút và mái tóc bạc như sợi chỉ khói?
Viet Film Festival Năm 2025 vẫn tiếp tục đặt những cột mốc mới, với hơn 100 phim gửi về tham dự. Trong đó, 60 phim được chọn – bao gồm 47 phim ngắn và 13 phim dài – đến từ các đạo diễn tại Hoa Kỳ, Việt Nam, Úc, Canada, Pháp, Đức, Anh, Tiệp Khắc...
Có một anh chàng trẻ tuổi gốc Việt, hồi ở Việt Nam học nhạc viện Hà Nội, sau đó đi du học ở Nhật, hiện nay đã trở thành công dân Nhật theo diện di dân có tay nghề. Anh nhận xét rằng nền âm nhạc cổ truyền của Nhật thật đặc sắc, và còn độc đáo hơn nữa khi được các ban nhạc rock trẻ Nhật trình diễn theo phong cách mới. Thí dụ như Wagakki Band phối hợp đàn koto, trống taiko, sáo trúc… chơi cùng với những nhạc cụ rock, làm say mê hàng triệu khán giả trẻ của Nhật. Anh chàng trẻ gốc Việt tin rằng các ban nhạc trẻ ở Việt Nam rồi cũng sẽ làm được điều tương tự. Một chị quê ở Hà Nội, hiện nay đang sống ở Canada theo diện di dân đầu tư. Là người mê dân nhạc Việt Nam, chị cho biết vẫn nghe đủ thể loại chèo, quan họ, chầu văn… để đỡ nhớ quê nhà. Có một lần xem trên Youtube một nhóm trẻ ở Hà Nội kết hợp hát xẩm với nhạc rap, nhảy hip hop, chị nhận xét: “…nhạc chơi theo kiểu hiện đại, trang phục thì khá lố lăng, nhưng chắc phải hát xẩm kiểu này tụi trẻ mới thích và mới biết đến hát xẩm…”
Viện Bảo Tàng The Getty toạ lạc tại thành phố Los Angeles, CA, USA. đã tổ chức một buổi triển lãm hy hữu kéo dài từ tháng 6 đến 28 tháng 9 năm nay, 2025. Buổi triển lãm có tên là "Queer Lens" tập trung vào chủ đề Lịch Sử Nhiếp Ảnh của Người Đồng Tính là một cuộc trưng bày thật đặc biệt và vĩ đại của Viện Bảo Tàng to lớn và nổi tiếng ở Nam California, Hoa Kỳ này. Hơn 270 bức ảnh thể hiện những biểu hiện về giới tính và tình dục qua hai thế kỷ đã xuất hiện như một khiêu khích mà chỉ Viện Getty mới đủ can đảm để dàn dựng. Phải mất gần 6 năm để chuẩn bị, sưu tầm, cùng những cố gắng và nỗ lực của nhiều người, buổi triển lãm mới được ra đời.
Việt Nam đã bất ngờ giành ngôi vị cao nhất tại cuộc thi ca khúc Intervision, do Nga tổ chức và được Tổng thống Vladimir Putin hậu thuẫn, diễn ra rạng sáng Chủ nhật ở ngoại ô Moskva. Đây là cuộc thi mà nhiều người xem là đối thủ chính trị và xã hội của Eurovision, vốn lâu nay nổi tiếng cởi mở và thân thiện với cộng đồng LGBTQ+. Ca nhạc sĩ Đức Phúc, với ca khúc “Phù Đổng Thiên Vương” dựa trên thơ Nguyễn Duy, đã giành chiến thắng thuyết phục. Bài hát lấy cảm hứng từ huyền thoại Thánh Gióng – vị anh hùng dân gian cưỡi ngựa sắt, nhổ tre đánh giặc Ân – được Nguyễn Duy chuyển thành thơ trong giai đoạn hậu chiến, rồi được Đức Phúc phổ nhạc và trình diễn bằng một phối khí pha trộn nhạc pop, rap và dubstep. Màn biểu diễn được dàn dựng công phu với pháo bông và vũ đạo, khiến ban giám khảo quốc tế trao giải tiết mục xuất sắc nhất. Phần thưởng là chiếc cúp pha lê cùng số tiền 30 triệu rúp (khoảng 360.000 đô la).
Buổi trình chiếu "Lật Mặt 8: Vòng Tay Nắng" (Face Off 8: Embrace Of Light) diễn ra vào tối 16 tháng 9 năm 2025, tại rạp chiếu phim Regal Irvine Spectrum. Cũng tại địa điểm này, vào năm ngoái, đạo diễn Lý Hải đã có mặt để giới thiệu bộ phim “Lật Mặt 7: Một Điều Ước”. Năm nay đứng bên cạnh phu nhân Minh Hà (cũng là nhà sản xuất phim), Lý Hải nói những lần ra mắt phim với khán giả Việt ở Nam California bao giờ cũng để lại một cảm giác đặc biệt, khó quên.
Hội Văn Học Nghệ Thuật Việt Mỹ (VAALA) bắt đầu bán vé cho Viet Film Fest 2025. Đây là lễ hội điện ảnh quốc tế lớn nhất của cộng đồng người Việt hải ngoại, nhằm tôn vinh những câu chuyện Việt Nam từ khắp nơi trên thế giới. Năm nay, khán giả có thể thưởng thức phim online từ ngày 4–19 tháng 10, đồng thời tham dự các buổi chiếu phim và trò chuyện cùng với các đoàn làm phim tại rạp The Frida Cinema, số 305 E. 4th Street #100, thành phố Santa Ana, vào các ngày 10, 11 và 12 tháng 10.
Tình cờ, cộng đồng Việt ở Mỹ từ đầu năm đến giờ đã được xem đến ba cuốn phim ma Việt Nam: ma cà rồng trong Người Mặt Trời, ma da trong Thám Tử Kiên Kỳ Án Không Đầu, và nay là ma giữ của trong Út Lan Oán Linh Giữ Của.


Kính chào quý vị,

Tôi là Derek Trần, dân biểu đại diện Địa Hạt 45, và thật là một vinh dự lớn lao khi được đứng nơi đây hôm nay, giữa những tiếng nói, những câu chuyện, và những tâm hồn đã góp phần tạo nên diện mạo văn học của cộng đồng người Mỹ gốc Việt trong suốt một phần tư thế kỷ qua.
Hai mươi lăm năm! Một cột mốc bạc! Một cột mốc không chỉ đánh dấu thời gian trôi qua, mà còn ghi nhận sức bền bỉ của một giấc mơ. Hôm nay, chúng ta kỷ niệm 25 năm Giải Viết Về Nước Mỹ của nhật báo Việt Báo.

Khi những người sáng lập giải thưởng này lần đầu tiên ngồi lại bàn thảo, họ đã hiểu một điều rất căn bản rằng: Kinh nghiệm tỵ nạn, hành trình nhập cư, những phức tạp, gian nan, và sự thành công mỹ mãn trong hành trình trở thành người Mỹ gốc Việt – tất cả cần được ghi lại. Một hành trình ý nghĩa không những cần nhân chứng, mà cần cả những người viết để ghi nhận và bảo tồn. Họ không chỉ tạo ra một cuộc thi; họ đã và đang xây dựng một kho lưu trữ. Họ thắp lên một ngọn hải đăng cho thế hệ sau để chuyển hóa tổn thương thành chứng tích, sự im lặng thành lời ca, và cuộc sống lưu vong thành sự hội nhập.

Trong những ngày đầu ấy, văn học Hoa Kỳ thường chưa phản ánh đầy đủ sự phong phú và đa dạng về kinh nghiệm của chúng ta. Giải thưởng Viết Về Nước Mỹ thực sự đã lấp đầy khoảng trống đó bằng sự ghi nhận và khích lệ vô số tác giả, những người đã cầm bút và cùng viết nên một thông điệp mạnh mẽ: “Chúng ta đang hiện diện nơi đây. Trải nghiệm của chúng ta là quan trọng. Và nước Mỹ của chúng ta là thế đó.”


Suốt 25 năm qua, giải thưởng này không chỉ vinh danh tài năng mà dựng nên một cộng đồng và tạo thành một truyền thống.
Những cây bút được tôn vinh hôm nay không chỉ mô tả nước Mỹ; họ định nghĩa nó. Họ mở rộng giới hạn của nước Mỹ, làm phong phú văn hóa của nước Mỹ, và khắc sâu tâm hồn của nước Mỹ. Qua đôi mắt họ, chúng ta nhìn thấy một nước Mỹ tinh tế hơn, nhân ái hơn, và sau cùng, chân thật hơn.

Xin được nhắn gửi đến các tác giả góp mặt từ bao thế hệ để chia sẻ tấm chân tình trên các bài viết, chúng tôi trân trọng cảm ơn sự can đảm của quý vị. Can đảm không chỉ là vượt qua biến cố của lịch sử; can đảm còn là việc ngồi trước trang giấy trắng, đối diện với chính mình, lục lọi ký ức đau thương sâu đậm, và gửi tặng trải nghiệm đó đến tha nhân. Quý vị là những người gìn giữ ký ức tập thể và là những người dẫn đường cho tương lai văn hóa Việt tại Hoa Kỳ.

Với Việt Báo: Xin trân trọng cảm ơn tầm nhìn, tâm huyết, và sự duy trì bền bỉ giải thưởng này suốt một phần tư thế kỷ.
Khi hướng đến 25 năm tới, chúng ta hãy tiếp tục khích lệ thế hệ kế tiếp—những blogger, thi sĩ, tiểu thuyết gia, nhà phê bình, nhà văn trẻ—để họ tìm thấy tiếng nói của chính mình và kể lại sự thật của họ, dù đó là thử thách hay niềm vui. Bởi văn chương không phải là một thứ xa xỉ; đó là sự cần thiết. Đó là cách chúng ta chữa lành, cách chúng ta ghi nhớ, và là cách chúng ta tìm thấy nơi chốn của mình một cách trọn vẹn.

Xin cảm ơn quý vị.

NHẬN TIN QUA EMAIL
Vui lòng nhập địa chỉ email muốn nhận.