Hôm nay,  

Tạp Ghi Sapy Nguyễn Văn Hưởng: Cúm Lnnl

20/02/201000:00:00(Xem: 6641)

Tạp Ghi Sapy Nguyễn Văn Hưởng: Cúm LNNL

Dù từng đi lại nhiều lần trên con đường xuyên Việt, tai đã nghe qua biết bao giọng nói, nhưng tôi vẫn không thể biết được, đất nước mình có bao nhiêu thứ giọng khác nhau. Lần vào đến Nam Đàn, một vùng quê nơi đất Nghệ An, tôi cố ý lắng nghe hai người dân địa phương nói chuyện, nhưng vẫn chẳng hiểu họ nói gì với nhau. Lần ra tới Quảng Nam, ghé vào một quán bên đường, chú tài xế người miền Nam chở tôi đi, vừa dứt tiếng gọi nước: “Bà chủ ơi! Cho tui 3 ly trà đá.” Thế là cả quán cười ầm lên. Miệng bà chủ cũng như hoa lên tiếng hỏi ngược lại: “Anh kêu 3 ly tròa đóe hả"”. “Tròa đóe”, “trà đá”, hỏi qua đáp lại chỉ hai tiếng đó, vậy mà đã làm cho chúng tôi và mọi người trong quán có một trận cười thỏa thê.
Nhiều người cho rằng, giọng Hà Nội nói chuẩn nhất. Nhất là so với giọng các nơi khác thôi, chứ vẫn chưa phát âm đúng hoàn toàn theo lối viết chữ Việt. Với riêng tôi, hầu hết những phát âm sai hoặc nói trài trại, đều có thể tạm chấp nhận được. Chỉ trừ mỗi việc nói lẫn lộn hai chữ “L” và “N” với nhau, tôi thấy không thể nào để nó tồn tại mãi. Vì thế hai tiếng “nói ngọng” trong bài tạp ghi này, tôi dùng để chỉ mỗi việc nói lẫn lộn hai chữ “L” và “N” với nhau mà thôi.
Lần về thăm đất Bắc cách nay ngoài chục năm, nhận thấy khá nhiều người làng tôi và bà con họ hàng mắc “bệnh” nói ngọng. Lúc đó tôi cứ đinh ninh, chỉ có người ít học mới nói vậy. Khi trò chuyện với chú em họ, một sinh viên đại học tổng hợp Hà Nội, tôi mới biết mình lầm, bởi chú ấy cũng nói sai. Đến lúc nghe vài người nói ngọng nghịu mà xưng là dân Hà Nội, khiến tôi phải suy gẫm lại nhận xét của bác tôi cách nay đã ngoài nửa thế kỷ: “Dân Hà Nội không ai nói lẫn lộn hai chữ “L” và “N” cả”.
Trong mấy ngày lưu lại đất ngàn năm văn vật cuối năm 2009 này. Tôi thấy chứng nói ngọng dường như đã biến thành dịch bệnh. Tràn vào tận trung tâm thủ đô, từ khi nhiều quận ngoại thành được sát nhập vào Hà Nội. Trầm trọng nhất có lẽ là cánh tài xế taxi, kế đến là người lao động chân tay, từ quê ra tỉnh, lang thang kiếm sống bằng đủ mọi ngành nghề trên vĩa hè.
Một hôm tôi ngồi taxi gần hai tiếng đồng hồ, để đi một đoạn đường chỉ ngoài chục cây số. Hôm ấy tôi còn phải nghe chú tài than phiền đủ mọi chuyện, từ đường xá đến công an, chính quyền… Giọng chú y như súng liên thanh nổ. Chú phát âm rõ từng tiếng một. Mỗi lần có chữ “L” hay “N” phát ra, tôi như bị búa bổ vào đầu, khó chịu vô cùng. Nên liền một lúc, tôi đã phạm hai tội: nói dối và có lời lẽ khiếm nhã đối với người khác. Bởi tôi hơi gắt gỏng bảo chú tài đừng nói nữa, vì tôi đang cần sự yên tĩnh để nghỉ ngơi.
Chú tài vừa im tiếng, tôi nghĩ ngay đến việc, tìm một phương kế nào để chữa tuyệt nọc căn bệnh này. Bắt chước các nhà khoa học, đã đặt cho mầm bệnh lan truyền từ loài heo sang con người, cái tên mỹ miều cúm H5N1. Tôi cũng đặt cho riêng bệnh nói ngọng theo kiểu lẫn lộn hai chữ “L” và “N” với nhau, cái tên cúm LNNL (xin vui lòng đừng đọc NLLN), nghe giông giống thương hiệu AT&T hiện đang nổi tiếng khắp thế giới. Tôi nghĩ ngợi cho có chuyện để nghĩ, cho mắt khỏi phải nhìn cảnh xe cộ kẹt cứng trên đường, cho lòng bớt cắn rứt vì đã để cả nhà chú em họ phải ngồi chờ cơm. Chứ ngay như việc em cháu nói tôi ngọng, tôi vẫn chưa dám hé môi khuyên bảo lấy một lời, thì làm sao lo chuyện thiên hạ cho nổi! 
Giã từ đất Bắc, vào tới phương Nam, tôi thấy cúm LNNL lây lan đến tận đất mũi Cà Mau. Lúc ra tới Côn Đảo, tôi lại gặp một hướng dẫn viên du lịch Saigon Tourist, anh ta bị nhiễm LNNL rất nặng. Nhờ vậy mỗi khi anh cất tiếng, kể chuyện cai tù Pháp lẫn Việt hành hạ tù nhân cộng sản, tôi thường lảng ra xa vừa đỡ nhức đầu vừa bớt để lọt vào tai những điều đã bị thêm mắn thêm muối đến mặn chát, không thể nào nuốt trôi.
Nhận thấy cúm LNNL giờ đã lan tràn khắp nước, ra tận các hải đảo xa xôi. Tôi cũng xin mạn phép cảnh báo người Việt gốc Bắc hiện sinh sống ở hải ngoại, cần phải cẩn trọng để tránh bị dịch bệnh này lây lan, trong thời gian chưa tìm ra phương thuốc chữa trị.

* * *
Từ Sài Gòn vợ chồng tôi mua vé tour đi Thái Lan chơi ít hôm. Chẳng hiểu sao trước lúc bước vào máy bay, tay tôi lại chộp lấy tờ nhật báo Lao Động. Tôi cho đây là một việc trời xui đất khiến, vì ít khi tôi xem truyền hình hay đọc báo chí trong nước. Nhờ vậy tôi mới biết, tờ báo đó có đăng lại bài viết “Chuyện Tình Du Học Sinh” của ông bạn Bồ Tùng Ma, đã được phổ biến trên trang Vietbao online. Trong đầu tôi lóe lên một ý nghĩ, cứ viết đại ra cái nhìn của riêng mình về việc chữa trị cúm LNNL, rồi gởi đến tòa soạn Việt Báo nhờ phổ biến. Biết đâu chừng báo “Nao Động” sẽ cho đăng lại. Nếu được vậy, mình sẽ có dịp công khai tỏ lòng ra với người trong nước. Rất có thể việc chọn con đường vòng vo tam tứ quốc này sẽ tiêu diệt được loài cúm ấy!
Từ ý nghĩ chuyển sang hành động cũng chẳng dễ dàng gì, bởi điều tôi muốn thổ lộ quá khô khan, có thể mang tiếng dạy đời, lại dễ đụng chạm đến tự ái người khác. Cho nên phải đợi mãi đến khi nghe được bài tường trình về “Tình trạng khan hiếm đô la Mỹ tại Việt Nam” của phóng viên Thanh Trúc trên đài Á Châu Tự Do. Một đề tài chẳng có chút liên quan gì đến loài cúm mà tôi đang muốn tìm phương chữa trị. Nhưng chữ nghĩa lại tự nhiên thoát ra, buộc tôi phải ngồi xuống ghi nó lại.


Trước tiên tôi xin được trương bảng biểu tình phản đối việc nhân viên đài Á Châu Tự Do, đã đánh máy lại không đúng sự thật. Nghĩa là viết sai lạc nguyên văn lời phát biểu của ông Võ Trí Thành, Phó Viện Trưởng Viện Nghiên Cứu Phát Triển Chiến Lược. Tôi thiển nghĩ, nắm giữ tới chức vụ này, chắc ông Thành phải là một nhà khoa bảng. Vì vậy thoáng nghe qua lời ông, tôi không tin vào tai mình. Phải nghe thêm vài lần nữa, tôi mới tin đó là sự thật. Giọng ông ta nói trơn tru, lưu loát, nhẹ nhàng, tuy có hơi nhanh một chút. Nhờ cùng đồng bệnh, nên tôi nghe rất rõ, ông Thành nói “đồng đô na”, vậy mà quý vị trong đài lại viết thành “đồng đô la”… Tóm lại, tất cả những chữ “L” và “N” ông Thành phát âm, đều đã bị chỉnh sửa lại trong bài viết. Nếu không tin lời tôi, hoặc muốn nghe rõ từng chữ, từng lời, xin mời vào trang:
http://www.rfa.org/vietnamese/in_depth/Why-it-hard-for-businesses-and-individuals-to-purchase-usd-from-banks-in-vietnam%20-02022010102840.html"searchterm=None.
Đối với người ở hải ngoại, việc vào trang web này không có gì trở ngại. Riêng người trong nước, hơi khó và mất công một chút vì bị bức tường lửa ngăn chận. Muốn vượt tường lửa hay không là quyền tự do của mỗi người. Tôi hoàn toàn không chịu trách nhiệm.
Nhân việc “phê bình” ông Phó Viện Trưởng Viện Nghiên Cứu Phát Triển Chiến Lược. Tôi cũng xin thành thật khai báo về bản thân cùng gia cảnh mình. Tôi sinh ra tại vùng châu thổ Sông Hồng, cái nôi của người Việt cổ. Lúc theo bố mẹ di cư vào Nam, tôi cũng mang theo cái giọng nói lẫn lộn hai chữ “L” và “N”. May mà lúc vào đến Sài Gòn, nhà bố mẹ tôi ở sát cạnh nhà bác tôi, một người rời quê ra sống ở Hà Nội từ hồi còn ẵm ngửa trên tay, nên giọng nói bác đã được Hà Nội hóa. Mỗi lúc nghe tôi nói ngọng, bác tôi đều nghiêm mặt, bắt phải nói lại cho đúng. Phần sợ bác, phần sợ đòn, nên chỉ sau vài lần cố gắng sửa chữa, giọng tôi không còn ngọng nghịu nữa.
Phần nhà tôi, quê mãi tận Cà Mau, rời ruộng đồng lên Mỹ Tho học. Lúc ra đi cũng mang theo luôn cái giọng “cá gô”, “cái gổ” (cá rô, cái rổ)…
Có lần nhà tôi nghe bạn bè cùng lớp to nhỏ:
- Ê tụi bay có nghe con Dĩ nó nói: “bắt cá gô bỏ vô giỏ kêu gột gột” chưa"
Nhà tôi chỉ cảm thấy hơi phiền vì bị chọc ghẹo vậy thôi. Đến khi nghe bà cô, người nuôi dưỡng mình, nghiêm giọng mắng Ngọc, đứa cháu ngoại của bà:
- Ngọc! Con không được bắt chước chị Dĩ, phải nói cá rô, cái rổ nghe không"
Lúc đó nhà tôi mới ý thức được việc nói năng không đúng của mình đã gây ảnh hưởng xấu cho người khác. Nên tự tập tành để nói lại cho đúng. Năm đó nhà tôi được chẵn mười tuổi.
Đôi lần tôi đem chuyện nói ngọng của mình kể cho bạn hữu nghe. Có người bảo tại phong thổ, nước uống… Tôi cũng đinh ninh như vậy. Mãi cho đến khi phát hiện giọng nói của hai đứa con tôi. Đứa lớn rời đất nước lúc mới 13 tháng tuổi, đứa bé chào đời trên đất Mỹ. Cả hai đều nói “cá gô”, ‘cái gổ”… y chang giọng quê mẹ chúng. Còn mấy đứa cháu ngoại của bác tôi, cũng sinh ra ở đây, cứ gọi nhau ríu rít “em Niên”, “anh Nân”… Tôi suy nghĩ mãi về “hiện tượng” này, mà chẳng rõ nguyên nhân.
Tôi nhận thấy mình không đủ can đảm mở miệng nói thẳng, nói thật với người đã trưởng thành bị cúm LNNL. Tôi sợ chạm tới tự ái họ, biết đâu sự việc còn tệ hại hơn. Còn khuyên nhủ bọn trẻ, tôi đã thử qua, nhưng chẳng mang lại kết quả gì.
Tôi biết chắc chắn việc chữa trị này rất dễ, khỏi mất công đến văn phòng bác sĩ, khỏi tốn tiền chủng ngừa hay thuốc thang, nếu người nhiễm bệnh nhận thức được tầm quan trọng của việc sửa đổi. Người cố tâm muốn chữa trị, chỉ mất đôi ba ngày hoặc nhiều lắm vài tuần lễ là cùng sẽ nói đúng ngay.
Ta có thể bắt đầu từ đâu" Ngay từ học đường chăng" Rất tốt! Nếu chọn giải pháp này, thầy cô nào nói ngọng lo chữa trị trước. Thầy cô khỏi bệnh rồi, sẽ lần lượt xuống tới học trò. Học trò mà ý thức được thì chính chúng sẽ là cái loa tuyên truyền, quảng bá đến mọi người trong gia đình, hàng xóm. Nó cũng giống như việc cai hút thuốc lá. Một khi trẻ con nhận thức được sự tai hại của khói thuốc. Chính chúng sẽ nài nỉ, khuyên can, đốc thúc ông bà cha mẹ nên bỏ hút, bởi chúng là người bị ảnh hưởng trước tiên. Rồi tình thương con cháu biến thành sức mạnh giúp cho người lớn bỏ hút thuốc dễ dàng hơn.
Nhiều lần tôi tự hỏi. Người mình mỗi khi viết, ai cũng cố tránh viết sai chính tả. Thì tại sao cứ để nói sai mãi. Tôi biết khả năng mình hạn hẹp về mọi mặt, nên chỉ dám lạm bàn sơ qua về việc nói ngọng này thôi. Tôi biết có khá nhiều người cả trong lẫn ngoài nước đã nêu vấn đề này ra rất thường xuyên. Nhưng mãi cho đến nay căn bệnh vẫn chưa bị diệt, mà còn ngày một lan rộng ra thêm. Chúng ta đành chịu đầu hàng vô điều kiện hay chăng"
Là một dân đen, tôi chỉ biết trải lòng mình ra như vậy. Rồi chắp hai tay khẩn cầu các vị nắm giữ quyền cao tước trọng hãy lưu tâm đến. Có quyền có hành mới có đủ phương tiện để tìm ra phương thuốc chữa dứt căn bệnh cúm LNNL này.
Sapy Nguyễn Văn Hưởng

Gửi ý kiến của bạn
Vui lòng nhập tiếng Việt có dấu. Cách gõ tiếng Việt có dấu ==> https://youtu.be/ngEjjyOByH4
Tên của bạn
Email của bạn
)
Chủ quyền tại Biển Đông là một vấn đề tranh chấp lâu đời và phức tạp nhất giữa Việt Nam và Trung Quốc. Đây sẽ còn là một thách thức trọng yếu trong chính sách đối ngoại của Việt Nam trong nhiều thập niên tới. Hiện nay, dù tình hình Biển Đông vẫn âm ỉ căng thẳng nhưng chưa bùng phát thành xung đột nghiêm trọng, song tình trạng cạnh tranh chiến lược giữa Hoa Kỳ và Trung Quốc trong khu vực Ấn Độ Dương-Thái Bình Dương đang ngày càng gia tăng...
Ngay chính cái tên “Tôi, Không Là Của Ai” đã là một tiếng kêu vừa thẳng thắn, vừa đau đớn. Tôi không là của ai trong cuộc đời này. Tôi không là con của cha tôi. Nhà văn, ký giả Amy Wallace từng lên tiếng, Virginia cũng từng bị chính cha mình ức hiếp khi cô 7 tuổi. Cô khước từ cái quyền sở hữu của những kẻ đã lạm dụng mình. Cô bị khước từ quyền được sống và được làm người, dù đó là những ngày hạnh phúc muộn màng của hơn 20 năm sau ngày cô thoát khỏi Jeffrey Epstein và Ghislaine Maxwell. Khi Virginia viết cuốn tự truyện này là lúc cô đã được hưởng 22 năm tự do. Tự do khỏi Epstein, Maxwell, đường dây mua bán tình dục trẻ em mà cô là một trong những nô lệ tình dục của Epstein. Hai mươi hai năm đó, cô tự thú, “không dễ dàng chút nào.” Không bao giờ có vết thương nào không để lại vết sẹo. Không bao giờ có sự hồi phục nào không để lại trầm tích.
Trump tắt CNN lúc ba giờ sáng. Không phải vì tức giận, mà vì ông vừa nảy ra ý tưởng điên rồ nhất đời mình. “Alexa, triệu tập Washington.” Câu lệnh vang lên trong bóng tối Phòng Bầu Dục như tiếng thần chú của một pháp sư già gọi linh hồn của quá khứ về để chứng minh rằng mình vẫn còn đúng. Thanksgiving năm nay, ông sẽ không ăn gà tây thật. Ông sẽ ăn ký ức. Phòng Bầu Dục rực ánh xanh lam – thứ ánh sáng lạnh của công nghệ và tự mãn. Trên bàn, con gà tây hologram vàng óng, chín hoàn hảo, không mùi, không khói, không có thịt thật. Một con gà tây ảo cho thời đại ai cũng sợ máu thật. Mọi thứ được lập trình để hoàn hảo: bàn tiệc dài, ly rượu đầy, bốn vị lập quốc hiện ra – George Washington, Benjamin Franklin, Thomas Jefferson, James Madison – được tái tạo bằng toàn bộ diễn văn, thư từ, và những câu họ chưa bao giờ nói. Bốn AI hoàn hảo.
Hội nghị khí hậu Liên Hiệp Quốc lần thứ ba mươi COP30 ở Belém, diễn ra trong bầu khí quyển nặng trĩu: trái đất nóng dần, còn các cường quốc vẫn cãi nhau về “mục tiêu” và “cam kết”. Biểu mức phát thải, phần trăm, hạn kỳ — tất cả lặp lại như những mùa họp cũ. Nhưng đằng sau lớp từ ngữ ấy, trật tự năng lượng của thế giới đã chuyển hướng. Cái trục quyền lực của thời đại đã dời khỏi phương Tây. Từ Tô Châu đến Quảng Đông, những nhà máy nối dài đã âm thầm định giá tương lai của mặt trời và gió. Trung Quốc không nói nhiều. Họ làm. Đến cuối năm 2024, Bắc Kinh vượt sớm mục tiêu 2030, đạt hơn một ngàn bốn trăm gigawatt gió và mặt trời — gấp bốn lần toàn Liên hiệp Âu châu. Tám phần mười chuỗi cung ứng quang điện nằm trong lãnh thổ của họ. Pin và xa điện xuất khẩu hàng chục tỉ Mỹ kim, kéo giá năng lượng sạch xuống một mức không còn cần trợ cấp.
Việc đình trệ gọi thầu dầu hỏa hai năm từ 1971 phải chờ qua 1973 rút cục đã giết chết chương trình tìm dầu của Việt Nam Cộng Hòa (VNCH) và theo đó đã đốt cháy một cơ may lớn lao có nhiều triển vọng cứu vãn, duy trì và phát triển miền Nam. VNCH đã tìm được dầu hỏa ở Mỏ Bạch Hổ trong tháng Hai năm 1975. Thật nhiều dầu mà lại thật quá trễ.
“Tôi từ chức để có thể lên tiếng, ủng hộ các vụ kiện tụng và hợp tác với các cá nhân và tổ chức khác tận tâm bảo vệ pháp quyền và nền dân chủ Mỹ. Tôi cũng dự định sẽ bảo vệ những thẩm phán không thể công khai lên tiếng bảo vệ chính mình. Tôi không thể chắc chắn rằng mình sẽ tạo ra sự khác biệt. Tuy nhiên, tôi nhớ lại những gì Thượng nghị sĩ Robert F. Kennedy đã nói vào năm 1966 về việc chấm dứt chế độ phân biệt chủng tộc ở Nam Phi: “Mỗi khi một người đứng lên vì một lý tưởng, hoặc hành động để cải thiện cuộc sống của người khác, hoặc chống lại sự bất công, người đó sẽ tạo ra một đợt sóng hy vọng nhỏ bé.” Khi những đợt sóng nhỏ bé này hội tụ đủ, lúc đó có thể trở thành một cơn sóng thần.
Khi lịch sử bị xem nhẹ, nó không ngủ yên mà trở lại, nghiêm khắc hơn. Và mỗi khi nước Mỹ bước vào thời kỳ chia rẽ sâu sắc, tiếng vọng ấy lại dội về – nhắc rằng ta từng đi qua những năm tháng hỗn loạn, và vẫn tìm được lối ra. Robert A. Strong, học giả tại Đại học Virginia, cho rằng để hiểu nước Mỹ hiện nay, ta nên nhìn lại giai đoạn giữa hai đời tổng thống Ulysses S. Grant và William McKinley – từ năm 1876 đến 1896. Hai mươi năm ấy là một bài học sống động về cách một nền dân chủ có thể trượt dài trong chia rẽ, rồi chậm chạp tự điều chỉnh để tồn tại.
Khu vực Ấn Độ Dương-Thái Bình Dương (Indo-Pacific) đang nổi lên như trung tâm chiến lược của thế kỷ XXI, nơi giao thoa lợi ích của các cường quốc hàng đầu thế giới. Với 60% dân số toàn cầu, hơn một nửa GDP thế giới, và các tuyến hàng hải trọng yếu nhất hành tinh, khu vực này giữ vai trò quyết định trong ổn định an ninh, thương mại và năng lượng quốc tế...
Washington vừa bật sáng lại sau bốn mươi ngày tê liệt. Nhưng cái cảm giác “ổn rồi” chỉ là ảo giác. Đằng sau cái khoảnh khắc “chính phủ mở cửa trở lại” là câu chuyện nhiều tính toán, mà trung tâm của cuộc mặc cả chính là Obamacare – chương trình từng giúp hàng chục triệu người có bảo hiểm y tế – nay trở thành bệnh nhân bị đặt lên bàn mổ của chính quyền Trump, với con dao ngân sách trong tay Quốc hội.
Đã là người Việt Nam, nếu không trải qua, thì ít nhất cũng đã từng nghe hai chữ “nạn đói.” Cùng với lịch sử chiến tranh triền miên của dân tộc, hai chữ “nạn đói” như cơn ác mộng trong ký ức những người đã sống qua hai chế độ. Sử sách vẫn còn lưu truyền “Nạn đói năm Ất Dậu” với hình ảnh đau thương và những câu chuyện sống động. Có nhiều người cho rằng cũng vì những thăng trầm chính trị, kinh tế, mà người Việt tỵ nạn là một trong những dân tộc chịu thương chịu khó nhất để sinh tồn và vươn lên. Thế giới nhìn chung cho đến nay cũng chẳng phải là vẹn toàn. Dù các quốc gia bước sang thế kỷ 21 đã sản xuất đủ lương thực để nuôi sống tất cả mọi người, nạn đói vẫn tồn tại, bởi nhiều nguyên nhân. Có thể kể như chiến tranh, biến đổi khí hậu, thiên tai, bất bình đẳng, bất ổn kinh tế, và hệ thống lãnh đạo yếu kém.


Kính chào quý vị,

Tôi là Derek Trần, dân biểu đại diện Địa Hạt 45, và thật là một vinh dự lớn lao khi được đứng nơi đây hôm nay, giữa những tiếng nói, những câu chuyện, và những tâm hồn đã góp phần tạo nên diện mạo văn học của cộng đồng người Mỹ gốc Việt trong suốt một phần tư thế kỷ qua.
Hai mươi lăm năm! Một cột mốc bạc! Một cột mốc không chỉ đánh dấu thời gian trôi qua, mà còn ghi nhận sức bền bỉ của một giấc mơ. Hôm nay, chúng ta kỷ niệm 25 năm Giải Viết Về Nước Mỹ của nhật báo Việt Báo.

Khi những người sáng lập giải thưởng này lần đầu tiên ngồi lại bàn thảo, họ đã hiểu một điều rất căn bản rằng: Kinh nghiệm tỵ nạn, hành trình nhập cư, những phức tạp, gian nan, và sự thành công mỹ mãn trong hành trình trở thành người Mỹ gốc Việt – tất cả cần được ghi lại. Một hành trình ý nghĩa không những cần nhân chứng, mà cần cả những người viết để ghi nhận và bảo tồn. Họ không chỉ tạo ra một cuộc thi; họ đã và đang xây dựng một kho lưu trữ. Họ thắp lên một ngọn hải đăng cho thế hệ sau để chuyển hóa tổn thương thành chứng tích, sự im lặng thành lời ca, và cuộc sống lưu vong thành sự hội nhập.

Trong những ngày đầu ấy, văn học Hoa Kỳ thường chưa phản ánh đầy đủ sự phong phú và đa dạng về kinh nghiệm của chúng ta. Giải thưởng Viết Về Nước Mỹ thực sự đã lấp đầy khoảng trống đó bằng sự ghi nhận và khích lệ vô số tác giả, những người đã cầm bút và cùng viết nên một thông điệp mạnh mẽ: “Chúng ta đang hiện diện nơi đây. Trải nghiệm của chúng ta là quan trọng. Và nước Mỹ của chúng ta là thế đó.”


Suốt 25 năm qua, giải thưởng này không chỉ vinh danh tài năng mà dựng nên một cộng đồng và tạo thành một truyền thống.
Những cây bút được tôn vinh hôm nay không chỉ mô tả nước Mỹ; họ định nghĩa nó. Họ mở rộng giới hạn của nước Mỹ, làm phong phú văn hóa của nước Mỹ, và khắc sâu tâm hồn của nước Mỹ. Qua đôi mắt họ, chúng ta nhìn thấy một nước Mỹ tinh tế hơn, nhân ái hơn, và sau cùng, chân thật hơn.

Xin được nhắn gửi đến các tác giả góp mặt từ bao thế hệ để chia sẻ tấm chân tình trên các bài viết, chúng tôi trân trọng cảm ơn sự can đảm của quý vị. Can đảm không chỉ là vượt qua biến cố của lịch sử; can đảm còn là việc ngồi trước trang giấy trắng, đối diện với chính mình, lục lọi ký ức đau thương sâu đậm, và gửi tặng trải nghiệm đó đến tha nhân. Quý vị là những người gìn giữ ký ức tập thể và là những người dẫn đường cho tương lai văn hóa Việt tại Hoa Kỳ.

Với Việt Báo: Xin trân trọng cảm ơn tầm nhìn, tâm huyết, và sự duy trì bền bỉ giải thưởng này suốt một phần tư thế kỷ.
Khi hướng đến 25 năm tới, chúng ta hãy tiếp tục khích lệ thế hệ kế tiếp—những blogger, thi sĩ, tiểu thuyết gia, nhà phê bình, nhà văn trẻ—để họ tìm thấy tiếng nói của chính mình và kể lại sự thật của họ, dù đó là thử thách hay niềm vui. Bởi văn chương không phải là một thứ xa xỉ; đó là sự cần thiết. Đó là cách chúng ta chữa lành, cách chúng ta ghi nhớ, và là cách chúng ta tìm thấy nơi chốn của mình một cách trọn vẹn.

Xin cảm ơn quý vị.

NHẬN TIN QUA EMAIL
Vui lòng nhập địa chỉ email muốn nhận.