Hôm nay,  

Dầu Hỏa Việt Nam Cộng Hòa: Chuyện 2 Năm Đình Trệ Gọi Thầu Hồi 1971 - 54 Năm Sau (2025): ĐÃ GIẢI MẬT: Mỹ Có Tính, Có Dính - CHƯA GIẢI MẬT: Còn Gì Mà Nhạy Cảm?

15/11/202520:24:00(Xem: 1010)
dầu mỏ VNCH
Nguồn: US Energy Information Administration


Việc đình trệ gọi thầu dầu hỏa hai năm từ 1971 phải chờ qua 1973 rút cục đã giết chết chương trình tìm dầu của Việt Nam Cộng Hòa (VNCH) và theo đó đã đốt cháy một cơ may lớn lao có nhiều triển vọng cứu vãn, duy trì và phát triển miền Nam. VNCH đã tìm được dầu hỏa ở Mỏ Bạch Hổ trong tháng Hai năm 1975. Thật nhiều dầu mà lại thật quá trễ.

 

Tại sao lại bị đình trệ? Tại sao Tổng Thống Nguyễn Văn Thiệu im lìm không cho phép xúc tiến sau khi Ủy Ban Quốc Gia Dầu Hỏa (UBQGDH) đã họp báo công bố thời biểu gọi thầu ngày 10 tháng Sáu năm 1971? Là người thi hành chương trình, câu hỏi đối với tôi bao lâu nay vẫn là điều bí ẩn bao trùm một niềm luyến tiếc ngày càng phôi pha.

 

Các nguồn từ viên chức VNCH từ bao lâu nay không cung cấp được một lý do nào thỏa đáng cho việc đình trệ. Một số tài liệu của Mỹ đã giải mật và cả chưa giải mật (như trình bày trong bài này) cho thấy hơn 50 năm trước đây, Chính Phủ Mỹ đã đưa ra và bàn thảo ở cấp chính sách, và đã dự tính can thiệp làm đình hoãn gọi thầu tìm dầu của VNCH. Nhưng những tài liệu đã giải mật đó chưa đủ để khách quan kết luận Mỹ đã thực sự làm đình trệ gọi thầu, và nhất là lý do tại sao; còn cần thêm tin tức từ tài liệu chưa giải mật mới may ra thấy đủ ngọn ngành của việc Mỹ can thiệp lúc đó. Tôi đã có thư yêu cầu cho xin giải mật thêm các tài liệu này. Trong khi đó, những chi tiết đã giải mật đến nay cho thấy rõ ràng Hoa Kỳ đã có tính đến và dính đến chuyện làm đình trệ việc gọi thầu năm 1971.

 

655 Ngày Mỏi Mòn Chờ Lệnh

Trong cuốn “Dầu Hỏa Việt Nam 1970-1975: Những Ngày Còn Nhớ” (Houston, tháng Tư 2002, có thể tìm đọc ở website vietmessenger), tôi đã dành một chương dài để nói về hai năm đình trệ việc gọi thầu tìm dầu trong thềm lục địa ngoài khơi VNCH, có thể tóm lược như sau:

Đáng lẽ ra thì giếng dầu đầu tiên ở thềm lục địa VN phải được khoan hồi 1972 hay chậm lắm là trong năm 1973, đến năm 1974 VNCH may ra đã có thể trang bị dàn sản xuất ngoài khơi để khai thác thương mại và biết đâu khi đó VNCH đã có thể xuất cảng những thùng dầu đầu tiên, thu hoạch được những Mỹ kim dầu hỏa đầu tiên.

 

Sau 6 tháng làm việc từ khi ban hành Luật Dầu Hỏa tháng 12 năm 1970 , kể cả 3 tuần học hỏi, tham khảo và hội ý với chuyên gia của Công Ty Quốc Gia Dầu Hỏa Ba Tư (National Iranian Oil Company) , mọi chuyện đã chuẩn bị sẵn sàng để gọi thầu tìm dầu. Bộ Kinh Tế đã công bố ý định qua Nghị Định số 249-BKT/VP/UBQGDH ngày 9 tháng Sáu năm 1971 của Tổng Trưởng Kinh Tế Phạm Kim Ngọc.

 

Nghị định đã mời các công ty dầu hỏa nạp bản trả lời một vấn-đề-lục (questionnaire) trước  ngày 15 tháng Tám năm 1971 để chính phủ cứu xét và thừa nhận tư cách tham dự cuộc đấu thầu quốc tế, dự định sẽ tổ chức ngay sau đó. Hợp đồng mẫu và các tài liệu tổ chức gọi thầu được Bộ Kinh Tế trình cho chính phủ, bên Phủ Thủ Tướng cũng như bên Phủ Tổng Thống, để phúc trình kết quả và xin xúc tiến tổ chức gọi thầu, coi như là một thủ tục thông thường và sẽ được chấp thuận để nhanh chóng đi tới. UBQGDH đã chính thức công bố nghị định này trong một cuộc họp báo đã được tường trình rộng rãi ngày hôm sau, 10 tháng Sáu năm 1971.

 

Đến hạn nhận bản trả lời vấn-đề-lục 15 tháng Tám, UBQGDH nhận được phúc đáp của 15 công ty ngoại quốc và 3 công ty Việt Nam, nhưng vì chưa được lệnh nên UBQGDH không thể tổ chức xúc tiến cuộc gọi thầu, và do đó cũng không cứu xét các bản trả lời của các công ty. Các công ty dầu không ngớt hỏi thăm thì tôi cũng đành ngượng ngùng không biết nói gì hơn là vẫn chưa có “đèn xanh.”

 

Qua năm 1972 chính phủ bận rộn với tình hình  quân sự ngày càng khốc liệt, tôi không thắc mắc chuyện gọi thầu nữa, chỉ chú tâm vào các tranh chấp ranh giới thềm lục địa với các nước láng giềng; ông Ngọc cũng không thấy nhắc nhở tới. Các công ty thấy tình hình chiến sự sôi bỏng nên cũng lơ là, không ai hỏi thăm.

 

Hết năm 1972, qua năm 1973, sau khi hiệp định Ba Lê được ký kết xong, tôi lại thúc ông Ngọc hỏi thăm xin xúc tiến gọi thầu. Cho đến một ngày khoảng trung tuần tháng 3 năm 1973, ông Ngọc nói cho tôi hay rằng Tổng Thống vừa cho phép tiến hành tổ chức gọi thầu. Bộ Kinh Tế lại công bố ý định cấp quyền đặc nhượng tìm kiếm và khai thác dầu hỏa qua một nghị định mới vào ngày 24 tháng 3 năm 1973.” Thời gian giữa hai ngày ban hành hai nghị định công bố ý định tính ra là 655 ngày.” Cuộc gọi thầu được tổ chức sau đó, đưa tới ký kết những hợp đồng tìm dầu đầu tiên của Việt Nam trong tháng Tám năm 1973.

 

Thử Tìm Hiểu Lý Do

Tôi không hề được biết đích xác về một lý do nào có thể đưa tới việc đình trệ. Rõ ràng là  Tổng Thống Thiệu đã ban hành Luật Dầu Hỏa tháng 12 năm 1970, một tháng sau cho lập UBQGDH với toàn là giới chức hàng tổng giám đốc ở các bộ trong chính phủ, có thêm 3 tư nhân uy tín mà Tổng Thống thuận cho mời (quí ông Vương Văn Bắc, Đinh Quang Chiêu, Âu Ngọc Hồ), được chuyên viên của Ba Tư chỉ dẫn và giúp soạn thảo hồ sơ gọi thầu, làm việc đến tháng Sáu thì UBQGDH sẵn sàng mọi chuyện để gọi thầu, thì Tổng Thống còn cần gì nữa mới cho đi tới?. Cho nên khi đó tôi chỉ có thể nhìn lại và lần mò thử khảo xét những diễn tiến chính yếu trong thời gian 1971-1973 xem có thể ảnh hưởng ra sao..

 

Năm 1971: chiến sự, mật đàm, bầu cử

Trong năm 1971, chính phủ VNCH đã bận tâm nhiều bề: Chiến trường năm 1971 mang thêm một thử thách mới: quân đội VNCH càng gia tăng trách nhiệm trong khi Hoa Kỳ tiếp tục rút quân. Cuộc hành quân Lam Sơn 719 gây tạo một số nghi ngờ cho tiến trình Việt hóa. Hoa Kỳ tiếp tục rút hết cố vấn cấp tiểu đoàn rồi đến cố vấn cấp trung đoàn. Đề nghị của VNCH yêu cầu Hoa Kỳ giữ 100 ngàn quân ở lại lâu dài không được đón nhận nghiêm chỉnh.

Kinh tế năm 1971 cũng bị thử thách nặng nề vì ảnh hưởng của sự giảm chi tiêu liên quan đến việc rút quân của Hoa Kỳ, vì thay đổi trong chương trình viện trợ Mỹ và vì giá dầu quốc tế tăng nhảy vọt. Để đáp ứng, Bộ Kinh Tế tung ra bảy biện pháp kinh tế mới và dân chúng không biết làm gì hơn là đành tự bóp bụng nhìn giá cả leo thang.

 

Năm 1971 cũng có những mật nghị ảnh hưởng đến vận mệnh của VNCH, từ Bruce-Xuân Thủy, rồi Porter-Xuân Thủy ở Ba Lê, đến Kissinger-Chu Ân Lai ở Bắc Kinh chuẩn bị cho Tổng Thống Nixon viếng thăm Trung Cộng.

 

Sau cùng, diễn biến quan trọng nhất trong năm 1971 là cuộc bầu cử tổng thống VNCH vào ngày 3 tháng 10. Cuộc bầu cử chính nó không có gì gây cấn vì chỉ có một liên danh độc cử Nguyễn Văn Thiệu-Trần Văn Hương. Nhưng trong gần nửa năm trời, chính trường Saigon đã sôi động với những đòn phép qua lại của liên danh Thiệu-Hương và các liên danh Nguyễn Cao Kỳ-Trương Vĩnh Lễ, Dương Văn Minh-Hồ Văn Minh, và Nguyễn Trân-Nguyễn Tấn Chức. Cụ thể là Phó Tổng Thống Kỳ đã xác nhận “Họ chơi trò ăn cướp thì mình phải giở trò cao bồi” (Chính Luận ngày 6-6-1971), là Đại Tướng Minh đã công bố “Đã nắm bằng chứng cụ thể cho thấy Tổng Thống Thiệu lo bầu gian “ (Chính Luận ngày 12-8-1971), là Tổng Thống Thiệu thì cương quyết  rằng “ tiến trình bầu cử là hoàn toàn hợp hiến pháp, với Tối Cao Pháp Viện có thẩm quyền quyết định tối hậu về các liên danh “ (Chính Luận ngày 4-9-1971).

 

Quả thật 1971 là một năm bận rộn. Nhưng nhìn lại thì khó lòng thấy có lý do gì để chính phủ không cho phép UBQGDH tổ chức gọi thầu. Trái lại, điều vô cùng oái ăm là trong khi Tổng Thống Thiệu loan báo những biện pháp hướng về tương lai “nhằm xây dựng nền thịnh vượng chung cho xứ sở” thì chương trình tìm kiếm dầu hỏa đã bị ướp lạnh từ mấy tháng qua và đang bắt đầu bị đông cứng.

 

Năm 1972: hòa đàm, Mùa Hè Đỏ Lửa

Năm 1972 mở đầu bằng quả bom ở hòa đàm Ba Lê khi Hoa Kỳ công bố hai nhượng bộ lớn nhất là Mỹ rút đơn phương, quân Cộng Sản Bắc Việt cứ ở lại, và giải quyết cùng lúc cả quân sự lẫn chính trị (Chính Luận ngày 31-1-1972), rồi sau đó tiếp tục với những quả bom ở chiến trường Mùa Hè Đỏ Lửa. Suốt cả năm, chính phủ phải đương đầu với sự sống còn của quốc gia, ở mặt trận cũng như ở bàn hội nghị.

 

Giữa tháng 5, Tổng Thống Thiệu ban bố tình trạng thiết quân luật trên toàn lãnh thổ VNCH. Ưu tiên hàng ngày của chính phủ là cứu trợ nạn nhân chiến cuộc. Trong khi đó, hòa đàm Ba Lê càng như thêm căng thẳng, dồn dập trong những ngày cuối cùng của cuộc vận động bầu cử tổng thống Hoa Kỳ vào đầu tháng 11.

 

Trong hoàn cảnh lúc đó thì ai cũng nhìn nhận chính phủ đã phải bận tâm với quá nhiều ưu tiên nguy ngập trước mắt. Dầu hỏa ở thềm lục địa thật là chuyện quá xa vời.

 

Không tin có dầu

Trước khi có Luật Dầu Hỏa cuối năm 1970, triển vọng dầu hỏa ở Việt Nam chỉ là một đề tài chuyên môn trong lãnh vực tài nguyên thiên nhiên, đại đa số dân chúng không hay biết đến.  Nói đúng ra thì hầu như ai cũng tỏ vẻ hoài nghi, hoặc không thấy có gì ảnh hưởng trực tiếp đến sinh hoạt hàng ngày của mình.

 

Hồi đó có nhiều tin đồn chuyện dầu hỏa là do Mỹ bịa ra, do CIA thúc đẩy chỉ để tìm cách nâng cao tinh thần dân chúng. Thêm vào đó, giáo sư địa chất Trần Kim Thạch thuộc trường Đại Học Khoa Học Saigon đã nhiều lần nói là nội địa VNCH không thể có dầu, và triển vọng ở thềm lục địa cũng rất mong manh. Tuy vậy, nghĩ cho cùng thì lý do này cũng không đứng vững vì các giới chức cao cấp ai cũng phải hiểu rằng công ty ngoại quốc sẵn sàng bỏ vốn tìm dầu, khoan trật lỗ lã thì công ty chịu, khoan trúng thì công ty sản xuất đóng thuế chia lời, VNCH có mất mát gì đâu?

 

Mỹ không cho làm vì e ngại phản chiến

Trong những tháng đầu năm 1971 sau khi Luật Dầu Hỏa được ban hành, UBQGDH được thành lập và VNCH liên lạc với Ba Tư (Iran) để xin trợ giúp kỹ thuật thì phản chiến Mỹ cũng bắt đầu đưa dầu hỏa làm đề tài khai thác. Một nhóm mệnh danh là “Hội Các Bà Mẹ Tranh Đấu Cho Hòa Bình” đã gởi 8600 bức thư cho Ủy Ban Ngoại Giao Thượng Viện Hoa Kỳ yêu cầu cho mở những cuộc điều trần về sự liên hệ giữa sự hiện diện của quân đội Mỹ tại Việt Nam với kế hoạch khai thác dầu hỏa.

 

Những hoạt động phản chiến này đã gây một số phiền phức cho Bộ Ngoại Giao Mỹ khi Ủy Ban Ngoại Giao Thượng Viện than phiền là đã gặp nhiều khó khăn khi liên lạc với Bộ Ngoại Giao để tìm hiểu những chi tiết liên quan đến những kế hoạch của chính phủ VNCH nhằm đặc nhượng việc khai thác dầu hỏa cho các công ty Mỹ.

 

Hồi đó, ảnh hưởng của Mỹ đã lan tràn khắp mọi hoạt động của chính phủ VNCH, nên nếu Mỹ có cản trở không cho xúc tiến gọi thầu thì chuyện đó cũng không phải là khó tin mà có thể có thực.

 

Khi soạn viết sách, tôi cũng có sưu tìm tài liệu đã giải mật của Mỹ, tương đối rất ít ỏi, mà không tìm được tài liệu nào liên quan đến chuyện gọi thầu dầu hỏa.

 

Dù vậy từ lâu tôi vẫn nghĩ rằng trong tất cả các nguyên nhân khả dĩ có thể làm đình trệ cuộc gọi thầu thì hành động của Mỹ lại có nhiều tính khả thi và tính thuyết phục hơn cả các nguyên nhân khác đã khảo xét ở trên.

 

Chính Phủ và Công Ty Dầu Mỹ

Qua hơn 25 làm việc với nhiều công ty trong kỹ nghệ dầu khí ở Hoa Kỳ, tôi không còn lạ gì về mối quan hệ giữa chính phủ Hoa Kỳ với các công ty dầu Mỹ, đặc biệt là với Bộ Ngoại Giao và ban tham mưu của Hội Đồng An Ninh Quốc Gia. Các công ty dầu lớn thường có văn phòng ở Hoa Thịnh Đốn, do một Phó Tổng Giám Đốc về Liên Lạc Chính Phủ đứng đầu. Các liên lạc thường là thông tin hai chiều, trao đổi tóm tắt về tin tức, diễn tiến và nhân sự ở các quốc gia; cũng có khi nhờ nhau làm một công chuyện cụ thể. Một đề mục mà hầu như buổi gặp gỡ nào cũng có bàn tới là các ảnh hưởng tương giao đối với Quốc Hội, dư luận và mọi ngành truyền thông ở Hoa Kỳ.

 

Sau khi đã tham dự nhiều lần vào các trao đổi này, tôi càng tin rằng nếu trong thập niên 1970, với chính phủ trong tay đảng Cộng Hòa, mà có công ty dầu nào nhờ chính phủ Mỹ can thiệp về một chuyện gì ở VNCH thì đó cũng không phải là chuyện bất bình thường.

 

Theo Bước AI “Thông Minh Nhân Tạo” ChatGPT

Mới đây, sau khi nghe biết về AI (artificial intelligence), tôi đã mò tìm sử dụng thử ChatGPT. Tôi rất ngạc nhiên về khả năng sưu lục tài liệu từ các websites khác và đúc kết tin tức của chương trình mới lạ này.

 

Rồi tôi hỏi ChatGPT về chuyện đình trệ gọi thầu dầu hỏa ngoài khơi VNCH hồi 1971. Qua nhiều lần thu thập tin tức, rốt cục ChatGPT đã đưa tôi tới bốn tài liệu có liên quan đến lịch trình gọi thầu, hai đã giải mật, một đã giải mật một phần, và một vẫn chưa được giải mật tuy soạn trình đã tới 54 năm qua. Xếp theo thứ tự thời gian sau ngày UBQGDH họp báo chính thức công bố ý định gọi thầu ngày 10 tháng 6 năm 1971, các tài liệu đó như sau:

 

Tài liệu chưa giải mật soạn ngày 13 tháng 6 năm 1971

Đây là một memorandum (bảng ghi nhớ/giác thư) của Tướng Haig về “Petroleum Exploration in Viet Nam” (Tìm Kiếm Dầu Hỏa ở Việt Nam), không biết gởi cho ai. Khi đó thì Tướng Alexander Haig làm phụ tá cho Cố Vấn An Ninh Quốc Gia Henry Kissinger. Điều đáng chú ý của tài liệu chưa giải mật này là đã soạn trình ngày 13 tháng 6 năm 1971, chỉ 3 ngày sau ngày họp báo 10 tháng 6 năm 1971 của UBQGDH nói trên; ngoài ra không có thông tin nào về nội dung của tài liệu. Sự hiện hữu của tài liệu này là dựa trên lời tham chiếu về tài liệu này trong một tài liệu khác ngày 27 tháng 1 năm 1972 đã giải mật dưới đây.

 

Tài liệu đã giải mật soạn ngày 28 tháng 7 năm 1971 (phóng ảnh ở cuối bài AID1-4of4)

Tài liệu nhan đề “AID PROCUREMENT PROCEDURES FOR VIETNAM” (Những Thủ Tục Thu Mua Của AID Cho Việt Nam), có 4 trang ghi lại nhiều chuyện: một memorandum trình cho Thứ Trưởng Ngoại Giao về những thủ tục phức tạp và rắc rối trong việc sử dụng ngân quỹ của chương trình CIP (Commodity Import Program), những trao đổi cấp cao liên quan đến đề nghị thiết lập một Quỹ Phát Triển Kinh Tế (Economic Development Fund) cho Việt Nam, và ở trang chót, bắt đầu từ dòng thứ bảy, nói về chuyện gọi thầu tìm dầu ở Việt Nam. Đoạn này lược dịch như sau:

“Dầu Hỏa Ngoài Khơi ở Mục C là một công điện của Bộ Ngoại Giao, chưa được Nhà Trắng thông qua, yêu cầu Tòa Đại Sứ ở Saigon cứu xét khuyến cáo Nam Việt Nam đình hoãn có thể là hai năm những nỗ lực thêm nữa của Chính Phủ Việt Nam để đưa việc tìm kiếm dầu hỏa ngoài khơi tới xúc tiến trong vùng biển của Nam Việt Nam. Công điện đã nêu lên những áp lực không nói rõ từ Quốc Hội như là để biện minh cho việc đình hoãn đó. Tôi được Ông Nooter của AID nói rằng ông ta miễn cưỡng đồng ý với công điện, và Ngoại Trưởng Rogers đã trực tiếp liên hệ tới việc soạn thảo công điện này. Tôi không thể tưởng tượng những áp lực chính trị nào mà có thể biện minh cho sự đình trệ mà có thể ảnh hưởng nghiêm trọng tới ngày kinh tế Việt Nam có thể trở thành tự túc. Cũng có thể tiên liệu được rằng phía Việt Nam sẽ chống đối việc đình trệ đó, và sẽ nhờ các quốc gia khác giúp tìm dầu. Tôi đề nghị ông ủy quyền một nhân viên trong ban tham mưu ngưng hành động của Saigon trong khi chờ Bộ Ngoại Giao trình Nhà Trắng biện minh cho việc gởi công điện.” thi hành cho KÍN/NHẠY CẢM Haig Kennedy Holdridge Smith Không Phản Đối Giải Mật Toàn Bộ 2013/02/13:LOC-HAK-13-3-19-1.


Một đoạn sau đó, tiếp theo những mã số liên quan đến các hồ sơ giải mật, như sau:

“Từ Tổng Trưởng Ngoại Giao WashDC Gởi Tòa Đại Sứ Saigon – Đề mục Dầu hỏa Ngoài Khơi – Tham chiếu State 115903. 1- Chúng tôi hiểu rằng bây giờ thì Mobil Oil quyết định không gởi tàu tham-khảo địa-chấn tới vùng biển Việt Nam như đã tạm thời dự tính như đã nói trong tham chiếu. Chúng tôi còn hiểu thêm rằng các công ty Mỹ khác càng miễn cưỡng dính vào chuyện dầu hỏa ngoài khơi Việt Nam vào lúc này. HTTS Mối quan ngại của các công ty đã được ref-conseyuence of 2- T LECTFD ở Quốc Hội, từ đó chúng tôi đang nhận được khuyến cáo Chính Phủ Hoa Kỳ can thiệp yêu cầu Chính Phủ Việt Nam đình hoãn việc gọi thầu cấp quyền đặc nhượng dầu hỏa ngoài khơi cho tới lúc thuận lợi hơn (thí dụ hai năm từ bây giờ). Chúng tôi đã giải thích cho những người hỏi han từ Quốc Hội rằng chính sách của Chính Phủ Hoa Kỳ là không nhúng tay hoàn toàn có thể dùng lý do cần phải có thêm kỹ thuật trước khi cấp quyền đặc nhượng, và đình hoãn việc này vô hạn định. Vấn đề Chính Phủ Việt Nam, để các quyết định do Chính Phủ Việt Nam và các công ty dầu trực tiếp giải quyết. Những giải thích này không, nói lại là không, làm hài lòng những người hỏi han 3- Vì vậy chúng tôi đang cứu xét lại chính sách không nhúng tay và đang dự tính chỉ thị ông tiếp cận Thiệu để tìm được hành động của Chính Phủ Việt Nam ngưng những kế hoạch hiện tại chuẩn bị sớm gọi thầu dầu hỏa mà đã biểu thị rõ ràng trong các cuộc gặp gỡ ở New York của Tổng Trưởng Ngọc với các viên chức công ty dầu. 4- Xin vui lòng cho chúng tôi biết ý kiến xác đáng của ông sớm nhất làm cách nào để đi tới. GP-2 BT soạn thảo do :EA/VN:WBHarbin/EA:WHSullivan Chấp thuận bởi EA-MrGreen…….Không Phản Đối Giải Mật Toàn Bộ 2013/02/13: LOC-HAK-15-3-19-1 Bộ Ngoại Giao.”

 

Tài liệu đã giải mật soạn ngày 27 tháng 1 năm 1972 (phóng ảnh ở cuối bài Memo1-2of2)

Tài liệu này là một memorandum của Theodore L Eliot, Jr.. Tham Vụ Chấp Hành của Bộ Ngoại Giao, do Parker W. Borg ký thay, gởi cho Henry Kissinger ở Nhà Trắng. Đề mục là Petroleum Exploration in Vietnam, nội dung lược dịch như sau:

“ Theo như memorandum của Tướng Haig ngày 13 tháng 6, 1971 về đề mục nói trên, tôi xin đính kèm theo đây một tờ trình về hiện trạng của Tìm Kiếm Dầu Hỏa ở Nam Việt Nam. Tờ trình này bao gồm những phát triển có ý nghĩa tới ngày 25 tháng 1 năm 1972.”

Tờ trình đính kèm chỉ là một trang, lược dịch như sau:

“ KÍN (Confidential)

Tờ Trình Hiện Trạng về Tìm Kiếm Dầu Hỏa ở Nam Việt Nam Đến Ngày 25 Tháng 1 Năm 1972

Chính Phủ Việt Nam Dự Tính Gia Hạn Mời Gọi Thầu Đặc Nhượng Ngoài Khơi trong Vòng Ba Tuần Lễ.

Tòa Đại Sứ trình rằng Chính Phủ Việt Nam hoạch định gia hạn thực thụ mời thầu quyền đặc nhượng dầu hỏa ngoài khơi tới ba tuần lễ. Bộ Kinh Tế nói với Tòa Đại Sứ họ ước tính tiến trình gọi thầu sẽ mất vào khoảng ba tháng.

Mặc dù các đơn xin vào thành phần dự thầu phải được đệ nạp hồi tháng Tám, Chính Phủ Việt Nam đã chấp nhận các đơn nạp trễ, và hiện có 26 công ty ở trong danh sách.

Bộ Kinh Tế đã lưu ý với Tòa Đại Sứ rằng họ biết chúng ta không muốn dính líu tới dầu hỏa Việt Nam. Tuy vậy Chính Phủ Việt Nam muốn có các công ty Mỹ tham dự.

Chúng tôi sẽ trình báo cho Ông về những phát triển kế tiếp.”

Tài liệu này đã xác nhận sự hiện hữu của memorandum của Tướng Haig ngày 13 tháng Sáu năm 1971, đến nay vẫn chưa được giải mật, như đã nói ở trên.

Tài liệu giải mật một phần soạn ngày 1 tháng 2 năm 1972 (phóng ảnh ở cuối bài nsc1-4of4)

Tài liệu lược dịch như sau:

Không Phản Đối Giải Mật Một Phẩn 2009/10/22: LOC-HAK-20-3-9-6

Hội Đồng An Ninh Quốc Gia                                                  Hồ Sơ Lưu (FILE)

MẬT/NHẠY CẢM                                                                         Tháng Hai 1, 1972

Memorandum gởi cho: TƯỚNG HAIG      ; tên bị gạch ngang với 3 chữ HAK

Từ: JOHN H HOLDRIDGE JAN for (ký thay)

Đề mục: Hiện trạng Tìm kiếm Dầu Hỏa Ngoài Khơi của Nam Việt Nam

Bộ Ngoại Giao đã phúc trình rằng Chính Phủ Việt Nam dự trù sẽ gia hạn mời gọi thầu để cấp quyền đặc nhượng dầu hỏa ngoài khơi khoảng giữa tháng 2 (Mục A). Chính Phủ Việt Nam ước tính tiến trình gọi thầu sẽ mất khoảng ba tháng. Có khoảng 26 công ty dầu đã nộp bản vấn-đề-lục sơ khởi và có đủ tư cách dự thầu, tuy một số rất nhỏ hơn sẽ nhận được thư mời dự thầu.

Kế đó, khoảng ¼ trang được bỏ trống.

Tiếp theo là ba chữ bút phê “Potential Political trouble” ( Có Tiềm Năng Rắc Rối Chính Trị), với chữ ký tắt coi như A hoặc H hoặc cả hai.


MẬT/NHẠY CẢM.

Hết trang thứ nhất.

Ba trang kế tiếp của tài liệu đều để trống với hai chữ đậm Page Denied (trang bị từ chối).

Trên hàng đầu của cả 4 trang đều có ghi “No Objection to Declassification in Part 2009/10/22: LOC-HAK-20-3-9-6”, phần để trống đều có ghi 25X1, cho thấy 4 trang này là chung một tài liệu đã được giải mật một phần ở trang đầu.

Trong 16 năm qua, tài liệu này không được giải mật thêm.

 

Yêu cầu xin giải mật

Theo lời chỉ dẫn của ChatGPT, đồng thời sử dụng văn bản do ChatGPT soạn thảo, tôi đã gởi thư cho hai viên chức phụ trách về Luật Tự Do của Thông Tin (Freedom of Information Act) ở Richard M. Nixon Presidential Library and Museum và ở Bộ Ngoại Giao Hoa Kỳ, yêu cầu xin giải mật memorandum của Tướng Haig ngày 13 tháng Sáu năm 1971, và memorandum của John H. Holdridge ngày 1 tháng 2 năm 1972. Thư gởi bảo đảm, như lời ChatGPT dặn.

Theo tôi biết thì tiến trình giải mật đã được định chế hóa từ năm 2009 do Sắc Lệnh (excutive order) số 13526. Các tài liệu nói trong bài này đã được giải mật năm 2009 và 2013. Nói chung thì tiến trình rất phức tạp vì bao gồm nhiều tiêu chuẩn và nhiều cơ quan liên quan đến an ninh quốc gia và tình báo hải ngoại. Một yếu tố tương đối thuận lợi cho việc xin giải mật lúc này là các nhân vật nhắc đến trong tài liệu về tìm dầu ở ngoài khơi Việt Nam đều đã qua đời (quí ông Nixon 1994, Thiệu, Rogers và Holdridge 2001, Haig 2010, Ngọc và Eliot 2019, và Kissinger mới đây, 2023). Thường thì chuyện liên quan tới chính phủ thì phải mất nhiều thì giờ; lúc này lại bị thêm chuyện chính phủ Mỹ còn “shutdown” cả tháng nay nên chắc là phải chờ lâu mới thấy có gì được giải mật.

 

Suy ngẫm trong khi chờ giải mật thêm

Bức tranh “đình hoãn gọi thầu” tuy còn nhiều chỗ trống, giờ này có thể mô tả theo thời gian như sau:

  • 10/6/1971: UBQGDH họp báo chính thức công bố gọi thầu tìm dầu;
  • 13/6/1971: memorandum của Tướng Haig, chưa giải mật;
  • 19/6/1971: báo Chính Luận: Trong chuyến đi Mỹ cầu viện, Tổng Trưởng Ngọc đem mồi dầu hỏa ra nhữ các tư bản Hoa Kỳ (ký giả Đường Thiên Lý)
  • 28/7/1971: memorandum gởi Thứ Trưởng Ngoại Giao Hoa Kỳ, đã giải mật toàn bộ, theo đó
    • Bộ Ngoại Giao có soạn thảo một công điện, chưa được Nhà Trắng thông qua, yêu cầu Tòa Đại Sứ ở Saigon cứu xét khuyến cáo VNCH đình hoãn có thể 2 năm các nỗ lực thúc đẩy gọi thầu tìm dầu. Tác giả memo e ngại sẽ ảnh hưởng nghiêm trọng đến triển vọng VNCH tự túc về kinh tế. Tác giả memo sợ VNCH sẽ phản đối chuyện trì hoãn, sẽ đi nhờ các nước khác tìm dầu, và đề nghị cho ngưng không gởi cho Saigon và chờ trình Nhà Trắng lý do biện minh cho công điện;
    • Công điện của Tổng Trưởng Ngoại Giao Hoa Kỳ gởi Tòa Đại Sứ Mỹ ở Saigon về việc dầu hỏa ngoài khơi: (1) Chúng tôi hiểu rằng bây giờ thì Mobil Oil đã quyết định chống lại việc gởi tàu địa chấn qua vùng biển Việt Nam như đã dự trù trước đây; ngoài ra thì các công ty khác cũng càng miễn cưỡng không muốn dính vào chuyên dầu hỏa ngoài khơi Việt Nam lúc này (2) Chúng tôi có nhận được nhiều gợi ý từ Quốc Hội nhắn Hoa Kỳ nên khuyến cáo VNCH đình hoãn chuyện gọi thầu cấp quyền tìm dầu cho đến lúc thích hợp hơn (thí dụ như 2 năm từ lúc này). Chúng tôi đã giải thích với Quốc Hội rằng chính sách của chúng ta là không-nhúng-tay vào chuyện này, nhưng những giải thích này không làm hài lòng phía Quốc Hội. (3) Vì vậy chúng tôi đang cứu xét lại chính sách không-nhúng-tay và đang suy tính chỉ thị cho ông tiếp cận Thiệu để tìm hành động của Chính Phủ Việt Nam ngưng các kế hoạch lúc này sớm gọi thầu tìm dầu như đã thấy trong các cuộc gặp gỡ của Tổng Trưởng Ngọc và viên chức dầu khí ở New York.(4) Xin vui lòng cho chúng tôi biết ý kiến xác đáng của ông làm cách nào để chúng ta có thể đi tới. Chấp thuận bởi EA-Mr.Green ( lúc đó là Phụ Tá Tổng Trưởng Ngoại Giao đặc trách Đông Á).
    • Tôi hỏi ChatGPT tìm cho công điện của Tòa Đại Sứ ở Saigon trả lời công điện trên. ChatGPT tìm không ra, và cho rằng như vậy thì Tòa Đại Sứ ở Saigon có thể không trả lời, trả lời qua hệ thống khác, hoặc công điện trả lời chưa được giải mật; không biết Tòa Đại Sứ có thi hành hay không. Công điện nói “Tiếp xúc Thiệu” mà phía VNCH thì đến nay không thấy ông Thiệu hay ai khác nói gì về việc ông Thiệu có được tiếp xúc và nhận khuyến cáo đình hoãn gọi thầu khi đó hay không; chắc là giờ thì sẽ không bao giờ biết được.
  • 15/8/1971: Hết hạn công ty nạp trả lời questionnaires. Chưa được lệnh xúc tiến. Đáng lẽ thì ngay sau đó UBQGDH sẽ phải gởi hồ sơ dự thầu cho các công ty được chọn tham dự; 45 ngày kế tiếp các công ty sẽ phải nạp hồ sơ đấu thầu (offers);
  • 03/10/1971: bầu cử tổng thống VNCH; liên danh độc cử Thiệu Hương trúng cử.
  • 27/01/1972: memorandum gởi Henry Kissinger về việc tìm dầu ở Việt Nam, tham chiếu memorandum ngày 13/6/1971 của Tướng Haig, và cho ông Kissinger biết là Việt Nam dự tính gia hạn mời thầu; tiến trình gọi thầu sẽ mất khoảng 3 tháng. Bộ Kinh Tế có nói rõ họ biết Mỹ muốn tránh dính líu tới chuyện dầu hỏa Việt Nam nhưng họ lại muốn có công ty Mỹ tham dự.
  • 01/02/1972: memorandum của John H Holdridge (do JAN ký thay) gởi Tướng Haig về Hiện Trạng Tìm Dầu Ngoài Khơi Việt Nam. Memo có ¼ trang bị bạch hóa, và 3 trang để trống với chữ “Page denied”.
  • Chữ “General Haig” được gạch đi, thay bằng 3 chữ HAK; phía cuối trang thứ nhất có bút phê “Potential Political trouble”, với chữ ký tắt có thể đọc là A hay H hay cả hai.
  • Theo cách làm việc thông thường thì có thể suy đoán rằng Tướng Haig đã đọc memorandum, chuyển lên cho HAK (Henry Kissinger) và ghi rõ lưu ý rằng tài liệu này có “tiềm năng rắc rối chính trị”.

 

Thật ra thì giờ này, sau 54 năm, cũng rất khó mà suy đoán được có vấn đề gì có thể làm Bộ Ngoại Giao Mỹ quan tâm tới chuyện gọi thầu tìm dầu của VNCH hồi tháng Sáu năm 1971, đưa lên tới mức Phụ Tá Tổng Thống về An Ninh Quốc Gia Hoa Kỳ; ẩn tàng trong tài liệu 4 trang mà có hơn 3 trang còn chưa giải mật, xếp hàng NHẠY CẢM với lưu ý có “tiềm năng rắc rối chính trị”. Và cũng không thể nào nghĩ được có gì trong memorandum của Tướng Haig soạn thảo khi đó, chỉ 3 ngày sau khi VNCH công bố ý định gọi thầu, mà đến giờ này vẫn chưa thấy tăm hơi.

 

Điều rõ ràng là chương trình gọi thầu tìm dầu của VNCH hồi tháng Sáu 1971 đã được cấp cao chính phủ Hoa Kỳ lưu ý, thảo luận và quan tâm. Thời gian đình trệ gần 2 năm đã xảy ra trong thực tế ở Saigon, và thời gian “2 năm kể từ bây giờ” nhắc nhở trong các tài liệu của Mỹ có thể là chuyện tình cờ, mà cũng có thể là chuyện không tình cờ. Dù gì thì cũng phải chờ kết quả của tiến trình giải mật thêm tài liệu của Hoa Kỳ trong thời gian tới.

 

Trần Văn Khởi

 

Trần Văn Khởi trước đây đã tổ chức và điều hành UBQGDH, sau làm Tổng Cục Trưởng Dầu Hỏa và Khoáng Sản. Đính kèm theo đây là phóng ảnh các tài liệu đã trích dịch trong bài.

***

tl1
tl2tl3tl4
tl5

tl6
tl7
tl8
tl9
tl10

Ý kiến bạn đọc
19/11/202518:37:28
Khách
Về vấn đề dầu hỏa của Việt Nam Cộng Hòa thì cho đến nay có lẽ chưa có một tài liệu nào nhiều chi tiết và trích dẫn nhiều tài liệu như bài viết này. Rất đáng đọc và lưu trữ. Cám ơn tác giả Trần Văn Khởi.
19/11/202517:37:40
Khách
Cám ơn tác giả Trần Văn Khởi rất nhiều. 50 năm qua tôi cứ thắc mắc về vấn đề dầu hỏa này.
16/11/202514:05:27
Khách
Cám ơn tác giả Trần Văn Khoi đã bỏ nhiều công sưừ tầm tài liệu để trả lời một nghi vấn chưa được giải đáp suốt nửa thế kỷ
Gửi ý kiến của bạn
Vui lòng nhập tiếng Việt có dấu. Cách gõ tiếng Việt có dấu ==> https://youtu.be/ngEjjyOByH4
Tên của bạn
Email của bạn
)
Chủ quyền tại Biển Đông là một vấn đề tranh chấp lâu đời và phức tạp nhất giữa Việt Nam và Trung Quốc. Đây sẽ còn là một thách thức trọng yếu trong chính sách đối ngoại của Việt Nam trong nhiều thập niên tới. Hiện nay, dù tình hình Biển Đông vẫn âm ỉ căng thẳng nhưng chưa bùng phát thành xung đột nghiêm trọng, song tình trạng cạnh tranh chiến lược giữa Hoa Kỳ và Trung Quốc trong khu vực Ấn Độ Dương-Thái Bình Dương đang ngày càng gia tăng...
Ngay chính cái tên “Tôi, Không Là Của Ai” đã là một tiếng kêu vừa thẳng thắn, vừa đau đớn. Tôi không là của ai trong cuộc đời này. Tôi không là con của cha tôi. Nhà văn, ký giả Amy Wallace từng lên tiếng, Virginia cũng từng bị chính cha mình ức hiếp khi cô 7 tuổi. Cô khước từ cái quyền sở hữu của những kẻ đã lạm dụng mình. Cô bị khước từ quyền được sống và được làm người, dù đó là những ngày hạnh phúc muộn màng của hơn 20 năm sau ngày cô thoát khỏi Jeffrey Epstein và Ghislaine Maxwell. Khi Virginia viết cuốn tự truyện này là lúc cô đã được hưởng 22 năm tự do. Tự do khỏi Epstein, Maxwell, đường dây mua bán tình dục trẻ em mà cô là một trong những nô lệ tình dục của Epstein. Hai mươi hai năm đó, cô tự thú, “không dễ dàng chút nào.” Không bao giờ có vết thương nào không để lại vết sẹo. Không bao giờ có sự hồi phục nào không để lại trầm tích.
Trump tắt CNN lúc ba giờ sáng. Không phải vì tức giận, mà vì ông vừa nảy ra ý tưởng điên rồ nhất đời mình. “Alexa, triệu tập Washington.” Câu lệnh vang lên trong bóng tối Phòng Bầu Dục như tiếng thần chú của một pháp sư già gọi linh hồn của quá khứ về để chứng minh rằng mình vẫn còn đúng. Thanksgiving năm nay, ông sẽ không ăn gà tây thật. Ông sẽ ăn ký ức. Phòng Bầu Dục rực ánh xanh lam – thứ ánh sáng lạnh của công nghệ và tự mãn. Trên bàn, con gà tây hologram vàng óng, chín hoàn hảo, không mùi, không khói, không có thịt thật. Một con gà tây ảo cho thời đại ai cũng sợ máu thật. Mọi thứ được lập trình để hoàn hảo: bàn tiệc dài, ly rượu đầy, bốn vị lập quốc hiện ra – George Washington, Benjamin Franklin, Thomas Jefferson, James Madison – được tái tạo bằng toàn bộ diễn văn, thư từ, và những câu họ chưa bao giờ nói. Bốn AI hoàn hảo.
Hội nghị khí hậu Liên Hiệp Quốc lần thứ ba mươi COP30 ở Belém, diễn ra trong bầu khí quyển nặng trĩu: trái đất nóng dần, còn các cường quốc vẫn cãi nhau về “mục tiêu” và “cam kết”. Biểu mức phát thải, phần trăm, hạn kỳ — tất cả lặp lại như những mùa họp cũ. Nhưng đằng sau lớp từ ngữ ấy, trật tự năng lượng của thế giới đã chuyển hướng. Cái trục quyền lực của thời đại đã dời khỏi phương Tây. Từ Tô Châu đến Quảng Đông, những nhà máy nối dài đã âm thầm định giá tương lai của mặt trời và gió. Trung Quốc không nói nhiều. Họ làm. Đến cuối năm 2024, Bắc Kinh vượt sớm mục tiêu 2030, đạt hơn một ngàn bốn trăm gigawatt gió và mặt trời — gấp bốn lần toàn Liên hiệp Âu châu. Tám phần mười chuỗi cung ứng quang điện nằm trong lãnh thổ của họ. Pin và xa điện xuất khẩu hàng chục tỉ Mỹ kim, kéo giá năng lượng sạch xuống một mức không còn cần trợ cấp.
“Tôi từ chức để có thể lên tiếng, ủng hộ các vụ kiện tụng và hợp tác với các cá nhân và tổ chức khác tận tâm bảo vệ pháp quyền và nền dân chủ Mỹ. Tôi cũng dự định sẽ bảo vệ những thẩm phán không thể công khai lên tiếng bảo vệ chính mình. Tôi không thể chắc chắn rằng mình sẽ tạo ra sự khác biệt. Tuy nhiên, tôi nhớ lại những gì Thượng nghị sĩ Robert F. Kennedy đã nói vào năm 1966 về việc chấm dứt chế độ phân biệt chủng tộc ở Nam Phi: “Mỗi khi một người đứng lên vì một lý tưởng, hoặc hành động để cải thiện cuộc sống của người khác, hoặc chống lại sự bất công, người đó sẽ tạo ra một đợt sóng hy vọng nhỏ bé.” Khi những đợt sóng nhỏ bé này hội tụ đủ, lúc đó có thể trở thành một cơn sóng thần.
Khi lịch sử bị xem nhẹ, nó không ngủ yên mà trở lại, nghiêm khắc hơn. Và mỗi khi nước Mỹ bước vào thời kỳ chia rẽ sâu sắc, tiếng vọng ấy lại dội về – nhắc rằng ta từng đi qua những năm tháng hỗn loạn, và vẫn tìm được lối ra. Robert A. Strong, học giả tại Đại học Virginia, cho rằng để hiểu nước Mỹ hiện nay, ta nên nhìn lại giai đoạn giữa hai đời tổng thống Ulysses S. Grant và William McKinley – từ năm 1876 đến 1896. Hai mươi năm ấy là một bài học sống động về cách một nền dân chủ có thể trượt dài trong chia rẽ, rồi chậm chạp tự điều chỉnh để tồn tại.
Khu vực Ấn Độ Dương-Thái Bình Dương (Indo-Pacific) đang nổi lên như trung tâm chiến lược của thế kỷ XXI, nơi giao thoa lợi ích của các cường quốc hàng đầu thế giới. Với 60% dân số toàn cầu, hơn một nửa GDP thế giới, và các tuyến hàng hải trọng yếu nhất hành tinh, khu vực này giữ vai trò quyết định trong ổn định an ninh, thương mại và năng lượng quốc tế...
Washington vừa bật sáng lại sau bốn mươi ngày tê liệt. Nhưng cái cảm giác “ổn rồi” chỉ là ảo giác. Đằng sau cái khoảnh khắc “chính phủ mở cửa trở lại” là câu chuyện nhiều tính toán, mà trung tâm của cuộc mặc cả chính là Obamacare – chương trình từng giúp hàng chục triệu người có bảo hiểm y tế – nay trở thành bệnh nhân bị đặt lên bàn mổ của chính quyền Trump, với con dao ngân sách trong tay Quốc hội.
Đã là người Việt Nam, nếu không trải qua, thì ít nhất cũng đã từng nghe hai chữ “nạn đói.” Cùng với lịch sử chiến tranh triền miên của dân tộc, hai chữ “nạn đói” như cơn ác mộng trong ký ức những người đã sống qua hai chế độ. Sử sách vẫn còn lưu truyền “Nạn đói năm Ất Dậu” với hình ảnh đau thương và những câu chuyện sống động. Có nhiều người cho rằng cũng vì những thăng trầm chính trị, kinh tế, mà người Việt tỵ nạn là một trong những dân tộc chịu thương chịu khó nhất để sinh tồn và vươn lên. Thế giới nhìn chung cho đến nay cũng chẳng phải là vẹn toàn. Dù các quốc gia bước sang thế kỷ 21 đã sản xuất đủ lương thực để nuôi sống tất cả mọi người, nạn đói vẫn tồn tại, bởi nhiều nguyên nhân. Có thể kể như chiến tranh, biến đổi khí hậu, thiên tai, bất bình đẳng, bất ổn kinh tế, và hệ thống lãnh đạo yếu kém.
Từng là một trung tâm thương mại sầm uất và biểu tượng cho niềm hy vọng đang dâng cao về tương lai dân chủ trong khu vực, Hồng Kông hiện đang đối mặt với các biện pháp kiểm soát ngày càng siết chặt của chính quyền Bắc Kinh. Từ năm 2019 cho đến nay, khoảng hơn 200.000 người đã ra đi để cố thoát khỏi bầu không khí chính trị ngày càng ngột ngạt. Với việc áp dụng Luật An ninh Quốc gia, quyền tự trị của Hồng Kông từng được cam kết trong mô hình “một quốc gia, hai chế độ” đã bị gần như hoàn toàn xoá bỏ. Xu hướng toàn trị của chính quyền Trung Quốc không những ảnh hưởng trực tiếp đến số phận nghiệt ngã của Hồng Kông mà còn gián tiếp đến trào lưu dân chủ hoá của Việt Nam.


Kính chào quý vị,

Tôi là Derek Trần, dân biểu đại diện Địa Hạt 45, và thật là một vinh dự lớn lao khi được đứng nơi đây hôm nay, giữa những tiếng nói, những câu chuyện, và những tâm hồn đã góp phần tạo nên diện mạo văn học của cộng đồng người Mỹ gốc Việt trong suốt một phần tư thế kỷ qua.
Hai mươi lăm năm! Một cột mốc bạc! Một cột mốc không chỉ đánh dấu thời gian trôi qua, mà còn ghi nhận sức bền bỉ của một giấc mơ. Hôm nay, chúng ta kỷ niệm 25 năm Giải Viết Về Nước Mỹ của nhật báo Việt Báo.

Khi những người sáng lập giải thưởng này lần đầu tiên ngồi lại bàn thảo, họ đã hiểu một điều rất căn bản rằng: Kinh nghiệm tỵ nạn, hành trình nhập cư, những phức tạp, gian nan, và sự thành công mỹ mãn trong hành trình trở thành người Mỹ gốc Việt – tất cả cần được ghi lại. Một hành trình ý nghĩa không những cần nhân chứng, mà cần cả những người viết để ghi nhận và bảo tồn. Họ không chỉ tạo ra một cuộc thi; họ đã và đang xây dựng một kho lưu trữ. Họ thắp lên một ngọn hải đăng cho thế hệ sau để chuyển hóa tổn thương thành chứng tích, sự im lặng thành lời ca, và cuộc sống lưu vong thành sự hội nhập.

Trong những ngày đầu ấy, văn học Hoa Kỳ thường chưa phản ánh đầy đủ sự phong phú và đa dạng về kinh nghiệm của chúng ta. Giải thưởng Viết Về Nước Mỹ thực sự đã lấp đầy khoảng trống đó bằng sự ghi nhận và khích lệ vô số tác giả, những người đã cầm bút và cùng viết nên một thông điệp mạnh mẽ: “Chúng ta đang hiện diện nơi đây. Trải nghiệm của chúng ta là quan trọng. Và nước Mỹ của chúng ta là thế đó.”


Suốt 25 năm qua, giải thưởng này không chỉ vinh danh tài năng mà dựng nên một cộng đồng và tạo thành một truyền thống.
Những cây bút được tôn vinh hôm nay không chỉ mô tả nước Mỹ; họ định nghĩa nó. Họ mở rộng giới hạn của nước Mỹ, làm phong phú văn hóa của nước Mỹ, và khắc sâu tâm hồn của nước Mỹ. Qua đôi mắt họ, chúng ta nhìn thấy một nước Mỹ tinh tế hơn, nhân ái hơn, và sau cùng, chân thật hơn.

Xin được nhắn gửi đến các tác giả góp mặt từ bao thế hệ để chia sẻ tấm chân tình trên các bài viết, chúng tôi trân trọng cảm ơn sự can đảm của quý vị. Can đảm không chỉ là vượt qua biến cố của lịch sử; can đảm còn là việc ngồi trước trang giấy trắng, đối diện với chính mình, lục lọi ký ức đau thương sâu đậm, và gửi tặng trải nghiệm đó đến tha nhân. Quý vị là những người gìn giữ ký ức tập thể và là những người dẫn đường cho tương lai văn hóa Việt tại Hoa Kỳ.

Với Việt Báo: Xin trân trọng cảm ơn tầm nhìn, tâm huyết, và sự duy trì bền bỉ giải thưởng này suốt một phần tư thế kỷ.
Khi hướng đến 25 năm tới, chúng ta hãy tiếp tục khích lệ thế hệ kế tiếp—những blogger, thi sĩ, tiểu thuyết gia, nhà phê bình, nhà văn trẻ—để họ tìm thấy tiếng nói của chính mình và kể lại sự thật của họ, dù đó là thử thách hay niềm vui. Bởi văn chương không phải là một thứ xa xỉ; đó là sự cần thiết. Đó là cách chúng ta chữa lành, cách chúng ta ghi nhớ, và là cách chúng ta tìm thấy nơi chốn của mình một cách trọn vẹn.

Xin cảm ơn quý vị.

NHẬN TIN QUA EMAIL
Vui lòng nhập địa chỉ email muốn nhận.