Hôm nay,  

Đọc Tuyển Tập Trịnh Y Thư: Theo Dấu Thư Hương 2

19/12/202509:54:00(Xem: 582)

TDTH II Cover PreOrder 

Nhà văn Trịnh Y Thư vừa ấn hành tuyển tập Theo Dấu Thư Hương 2, gồm nhiều bài viết trong nhiều chủ đề đa dạng, phần lớn là về văn học nghệ thuật, đôi khi là lịch sử, khoa học, xã hội. Tuyển tập dày 294 trang, đang lưu hành trên các mạng, như Amazon và Barnes & Noble. Nhìn chung, tác phẩm giúp độc giả soi rọi thêm nhiều cách nhìn đa dạng, mới mẻ, kể cả khi tác giả viết về những người viết chúng ta đã quen thuộc trong văn học Việt Nam, như về Ngô Thế Vinh, Đỗ Hồng Ngọc, Nguyễn Thị Khánh Minh, và nhiều người khác.

Tác giả gọi tuyển tập này là “tạp luận”, nhưng đọc cho kỹ, không có gì có thể gọi là “tạp” nơi đây, vì đây là trường hợp, như với truyện Khuất Đẩu, theo Trịnh Y Thư, “tôi đã nghiền ngẫm đọc để có bài viết trong cuốn sách” (TDTH2, trang 13) hay có khi là “tôi chọn ra được vài ba bài đắc ý” (trang 14) từ các bài anh viết trên Việt Báo Daily News, hay như “những chuyện xảy ra bên lề lịch sử hay bị chính sử gạt sang một bên, bôi xóa, bóp méo, khiến tôi cảm thấy thôi thúc muốn nói lên cảm nghĩ của mình” (trang 14) – và, thế đó, chỉ từ việc anh đọc sách để rồi viết sách, “không chỉ là hành động đơn độc mà là cách sống trong cô đơn một cách có ý nghĩa. Nó biến cô đơn thành kết nối, dửng dưng thành suy ngẫm, và im lặng thành đối thoại.” (trang 13).

Trịnh Y Thư hy vọng một cuộc đối thoại. Có thực là đối thoại có thể xảy ra trên quê nhà chúng ta, nơi chữ nghĩa đã trở thành vũ khí chứ không chắc bao nhiêu phần là ghi lại sự thật và thảo luận? Để hình thành một cuộc đối thoại, trước tiên là cần lắng nghe. Đặc biệt là các đề tài liên hệ lịch sử, cần phải trung tính để đọc cả những sự thật khó nghe đối với phe ta, phe mình... nơi trong nhiều thập niên chúng ta bị đẩy vào dòng sông lịch sử hai bờ. Như trường hợp tiểu thuyết của Bảo Ninh đang được (hay bị) tranh luận hiện nay, từ những trang sách viết từ cô đơn, lặng lẽ rồi trở thành chuyện chụp mũ ngay trong các pháo đài văn học Hà Nội. Nếu Bảo Ninh không phải người bên kia, mà là người bên này, thì bạn sẽ không tìm được bản sách giấy nào trong quê nhà chúng ta. Bất kể rằng, Bảo Ninh đã dựng một số chuyện không thật để bôi nhọ tư cách người lính Miền Nam.

Tuy nhiên, Trịnh Y Thư là một người rất thơ mộng, và chàng đã viết với hy vọng “im lặng thành đối thoại.

Sách Theo Dấu Thư Hương 2 mở đầu bằng một “Lời Ngỏ” dài bốn trang, kế tiếp là 18 bài viết nhiều chủ đề, cuối cùng là cuộc đối thoại thực sự với Nhã Lan trong chương trình phát thanh “Tản Mạn Văn Học” trong hình thức Nhã Lan hỏi và Trịnh Y Thư đáp. Sau cùng là vài trang tiểu sử và danh sách tác phẩm.

Nhìn chung, tuyển tập Theo Dấu Thư Hương 2 thuộc loại “nghiêm và buồn,” nghĩa là, sách dày 294 trang, cầm lên rất là nhẹ, nhưng khi bạn càng đọc, càng suy nghĩ, càng ngấm từng dòng chữ của tác giả, sách bỗng trở nên nặng trĩu tay. Nhưng đó là một nỗi buồn rất nghiêm túc mà bất kỳ người viết nào cũng có sẵn và dễ dàng được khơi dậy.

Ngay nơi trang bìa sau của tuyển tập, in một trích dẫn từ “Lời Ngỏ” của Trịnh Y Thư, cũng là những hình ảnh “nghiêm và buồn” (như: cô đơn, định hình và tái định hình đời sống nội tâm, hiện sinh, cái chết, ý nghĩa cuộc đời, tình yêu, sự vong thân...) được tác giả mô tả:

Sự cô đơn của việc đọc sách trở thành chất xúc tác cho việc định hình và tái định hình đời sống nội tâm. Đọc sách cũng khiến bật lên những khía cạnh triết học, đặc biệt là sách văn học và triết học, bởi nó giúp chúng ta tiếp cận với những câu hỏi hiện sinh như cái chết, ý nghĩa cuộc sống, tình yêu, sự vong thân. Tính cách đối đầu này chỉ có thể xảy ra trong một tâm trạng quán chiếu cô đơn; nhưng nó giúp ta đối mặt không phải trong tuyệt vọng, mà trong sự thấu hiểu lẫn nhau. Tóm lại, như một thái độ đối với cô đơn, không phải đối đầu lại mà hòa nhập vào, đọc sách không chỉ là hành động đơn độc mà là cách sống trong cô đơn một cách có ý nghĩa. Nó biến cô đơn thành kết nối, dửng dưng thành suy ngẫm, và im lặng thành đối thoại.

Bài đầu tiên in sau Lời Ngỏ là bài “Sự Lãng Quên” đã kể về trường hợp Nguyễn Hữu Đang, người đứng trên lễ đài sau lưng ông Hồ trong buổi lễ đọc Tuyên Ngôn Độc Lập của Việt Nam ngày 2 tháng 9 năm 1945 và khoảng thập niên sau tham dự nhóm Nhân Văn Giai Phẩm để đòi tự do trong sáng tác văn học, đã bị nhà nước chuyên chính vô sản tẩy xóa từ hình ảnh (tẩy trắng hình chụp ở lễ đài) cho tới tẩy xóa mọi mặt trong xã hội, đẩy vào từ nhà tù cho tới cô lập. Trịnh Y Thư ghi nhận rằng Nguyễn Hữu Đang và các nạn nhân Mậu Thân 1968 “bây giờ chỉ còn là những bóng ma, bóng ma quá khứ.” (trang 21).

Trong cương vị một người đọc (làm ơn, xin đừng ai nghĩ rằng tôi đang phê bình văn học), tôi đặc biệt “dị ứng” với bài “Tiếng nói như là kết nối giữa hiện tại với quá khứ” (các trang 25-43). Bài viết có tính sử học công phu này cũng dựa vào thông tin từ GS Trần Huy Bích và chị Ngọc Dung. Điều cực kỳ “nguy hiểm” của bài này: các em thiếu nhi (như tôi) sẽ khóc suốt một tuần lễ, vì nơi đây Trịnh Y Thư đã làm tan biến huyền thoại con rồng cháu tiên của dân tộc Việt Nam. Thế rồi một ngày, chúng ta thấy mình không phải là con nhà rồng-tiên nữa, khi mở sách ra và đọc về cội nguồn cổ đại của người Việt, người Lạc, người Giao Chỉ, và vân vân. Nghĩa là, nơi trang sách này, thần tiên đã chắp cánh bay xa.

Điều tuyệt vời là, trong tuyển tập Theo Dấu Thư Hương 2, chúng ta sẽ thấy Trịnh Y Thư viết rất là thơ, nơi những dòng chữ có sức mạnh buộc tôi đọc đi đọc lại, để suy nghĩ xem thế nào, chất thơ nơi đâu trong chữ của tác giả.

Bạn có thể mở bất kỳ trang sách nào của Theo Dấu Thư Hương 2, và xác suất rất cao là bạn sẽ gặp thơ trong văn xuôi Trịnh Y Thư. Thí dụ, tôi mở ra tình cờ (thật sự là tình cờ, không cố ý, dĩ nhiên, lúc khác sẽ cố ý) nơi trang 105, Trịnh Y Thư viết:

Đọc thơ Nguyễn Thị Khánh Minh là chìm đắm trong một khu vườn chữ nghĩa óng ả, nhiệm mầu, sáng lấp lánh như những chuỗi ngọc. Chị không phát minh nhiều từ mới như các nhà thơ Tượng trưng, nhưng các từ trong thơ nằm cạnh nhau thân thiết như đàn chim thiên di rủ nhau xuôi nam tìm nắng ấm. Chữ nghĩa đẹp, gợi cảm, như có ma lực làm say đắm lòng người đọc. Chị sử dụng phép hoán dụ rất tài tình trong thơ, điều đó càng làm tăng sự phong phú và gợi cảm. Mặt dệt của chữ nghĩa lóng lánh như hoa gấm, ý tứ tuy kín đáo, thâm trầm nhưng nồng nàn hơi thở.” (TDTH2, tr. 105).

Những dòng chữ đó là thơ, không phải phê bình văn học. Nếu cụ Nguyễn Du mà viết về thơ Hồ Xuân Hương như thế, hẳn là tôi sẽ xé trang giấy ra, đưa ra tiệm đóng khung rồi treo lên tường. May quá, không phải cụ Nguyễn và chị Hồ. Có thể sẽ là người của hai trăm năm sau sẽ làm như thế?

Từ trang tình cờ mở ra đó, tôi dò ngược tới, và thấy ngôn ngữ Trịnh Y Thư viết về thơ của duyên, trích: “duyên làm thơ như nói chuyện. Nói thầm thì. Nói trong niềm vui. Nói trong nỗi buồn. Nói trong nỗi nhớ. Nói với người. Nói với cỏ cây hoa lá. Nói với hư vô. Nói với cô đơn.”(TDTH2, tr. 86). Cũng là thơ viết về thơ.

Trịnh Y Thư cũng viết về nỗi chấn động, khi anh phải đọc một mạch những bài thơ của Lê Chiều Giang, vì sức mạnh của những dòng chữ mà anh gọi là đầy ắp đau đớn, “Sự phẫn nộ trong thơ Lê Chiều Giang đã khiến người đọc là tôi phải chấn động, bởi quả thực tôi chưa bao giờ đọc một mạch những bài thơ mà bài nào cũng đầy ắp những nỗi đau đớn uất nghẹn như muốn tung hê mọi thứ, phá tan đập nát cuộc sống, chẳng cần biết hậu quả là gì.” (TDTH2, tr. 93).

Trong bài "Cảm nhận nhân đọc 'Thơ ngắn Đỗ Nghê'" Trịnh Y Thư dẫn ra bốn câu thơ Đỗ Nghê (Đỗ Hồng Ngọc) rồi nhận xét, trích (chữ “tôi” dưới đây là Trịnh Y Thư):

Tôi đặc biệt yêu thích bài Hội An sớm:
 
Hội An còn ngái ngủ
Mái chùa ôm vầng trăng
Giật mình nghe tiếng chổi
Gà gáy vàng trong sương…

Như một khúc Đường thi. Thi ảnh, tuy cổ điển, nhưng đẹp não nùng. Và, chao ơi, tiếng chổi. Sao lại tiếng chổi từ trong sân chùa một cách mơ hồ vọng ra? Sao không là tiếng tụng kinh, tiếng chuông, tiếng mõ vào buổi sớm? Chính sự bất ngờ ấy, đánh động tâm hồn khiến thi nhân giật mình, đã làm tăng thú vị khi đọc bài thơ. Bất ngờ hơn chuyện ông Trương Kế lúc từ Phong Kiều bước xuống thuyền nghe tiếng chuông chùa Hàn Sơn vọng lại. Bài thơ của Đỗ Nghê là bức tranh hiện thực được vẽ bằng bốn câu thơ năm chữ." (TDTH2, tr. 117).

Chỉ cần đọc vài trang bất kỳ của Theo Dấu Thư Hương 2, bạn sẽ kinh ngạc tự hỏi, rằng có mấy ai trên đời viết phê bình văn học y như làm thơ như thế? Dĩ nhiên là có. Trước kia, có Bùi Giáng, Tuệ Sỹ... nhưng mỗi người một kiểu riêng. Thí dụ, nhà sư Tuệ Sỹ viết về Tô Đông Pha, về Lý Hạ tuy là nói về các cõi thơ mộng nhưng vẫn giữ văn phong trong cổng chùa. Bùi Giáng viết về Ni cô Trí Hải, về Tuệ Sỹ tuy là đùa giỡn, phóng túng nhưng vẫn là nhà thơ nói với nhà thơ. Nơi đây, Trịnh Y Thư gây một kinh ngạc cho tôi, vì Trịnh Y Thư là một người biệt xứ từ năm 18 tuổi, du học lại chọn các ngành khoa học, kỹ thuật... không được đắm chìm trong một xã hội tiếng Việt nhiều thập niên như tôi và nhiều nhà văn khác.

Trong tuyển tập Theo Dấu Thư Hương 2, một nhà văn nổi bật qua các trang phê bình của Trịnh Y Thư là Ngô Thế Vinh, một bác sĩ nhưng cầm bút từ thời sinh viên và gắn liền với những sóng gió lịch sử của dân tộc, từ thời làm báo ở Đại học Y Khoa Sài Gòn cho tới tham gia cuộc nội chiến, và nhiều năm tù cải tạo trước khi sang Hoa Kỳ định cư. Ngô Thế Vinh được Trịnh Y Thư gọi là "nhà văn dấn thân" (TDTH2, tr. 139)  và là "nhà văn của lương tâm" (TDTH2, tr. 141) khi nhắc tới một thời trước 1975 khi “Ngô Thế Vinh bị bắt ra hầu tòa với tội danh ‘phổ biến những luận điệu phương hại trật tự công cộng và làm suy giảm kỷ luật, tinh thần chiến đấu của quân đội’…” (TDTH2, tr. 140).

Trịnh Y Thư cũng gọi Ngô Thế Vinh là nhà văn đã không chọn con đường dễ dãi khi lặn lội khắp vùng Cửu Long để trở thành một "con chim báo bão" với nhận định, trích:

Trong vòng mấy chục năm qua – với hai tác phẩm quan trọng gây tiếng vang không ít, Cửu Long Cạn Dòng, Biển Đông Dậy Sóng và Mekong Dòng Sông Nghẽn Mạch, cộng thêm hàng chục tiểu luận biên khảo, nghiên cứu giá trị về những biến đổi nguy hại của hệ sinh thái sông Mekong – ông mặc nhiên được xem như một chuyên gia hàng đầu trong lĩnh vực này, và một cách ưu ái hơn, con chim “báo bão” về mối đe dọa thường xuyên và ghê rợn từ phương Bắc đối với sự sinh tồn của đất nước và dân tộc. Để thực hiện các bộ sách về sông Mekong ông đã lặn lội từ tỉnh Vân Nam, Trung Quốc xuống các quốc gia Lào, Thái Lan, Kampuchia và đồng bằng sông Cửu Long, Việt Nam. Qua các chuyến đi quan sát thực địa, ông đã tận mắt chứng kiến sự suy thoái bất khả đảo nghịch của con sông Mekong, “hậu quả dây chuyền của những bước khai thác tự hủy, tàn phá sinh cảnh, làm cạn kiệt nguồn tài nguyên, gây ô nhiễm môi trường,” do chính sách phát triển kinh tế bất chấp hậu quả tai hại ra sao của nhà cầm quyền Trung Quốc, mà Việt Nam là quốc gia lãnh chịu hậu quả nặng nề và thiệt thòi nhất.” (TDTH2, tr. 140-141).

Nhìn chung, văn phong phê bình của Trịnh Y Thư đa dạng, và luôn luôn hướng về những gì có tính thăng hoa của nhân loại. Trong bài viết “Vũ Thư Hiên: Lời xưng tội lúc nửa đêm,” Trịnh Y Thư nhận định:

Nhưng bên dưới những sự thật tàn bạo trần trụi được phơi bày qua chữ nghĩa, là tính nhân bản và cái “human spirit”. Đấy chính là tính văn học đích thực trong truyện Vũ Thư Hiên. Cái “human spirit”, hiển lộ trong những truyện ngắn của ông, không hẳn chỉ đơn thuần là tinh thần, khí thế hay sự can trường của con người trước nghịch cảnh theo cách hiểu bình thường, nó còn là biểu hiệu cho “lòng khao khát muốn sống và được sống như con người”. Và, như chúng ta đều biết, muốn sống và được sống như con người là một điều cực khó.” (TDTH2, tr. 190).

Một điểm nữa, Trịnh Y Thư có một văn phong đặc biệt, khi đặt nhan đề, tìm ra những tựa đề có tính tượng hình. Tôi ưa thích đặc biệt bài “Khuất Đẩu: Đi tìm bóng mình trong cơn lũ cuồng nộ của lịch sử” – không chỉ nhan đề rất thơ mộng, rất dữ dội, rất nghiêm và buồn, mà cũng về cách truyện của Khuất Đẩu được phân tích.

Trịnh Y Thư viết, trích: “Truyện Khuất Đẩu, dù là truyện ngắn hay truyện vừa, mở ra trong tâm tư người đọc nhiều liên tưởng bát ngát; bên dưới lớp vỏ thô nhám, sần sùi, đôi khi tàn bạo, khốc liệt, là những chua xót, ngậm ngùi cho thân phận con người, những thân phận bị chôn vùi dưới con trốt xoáy của lịch sử và dòng đời. Đọc Khuất Đẩu không phải để tìm kiếm câu trả lời cho những vấn nạn nhân sinh, nhà văn không đưa ra đáp án, lại càng không rao giảng đạo đức, thậm chí một lời an ủi cũng không. [...] Trang sách có thể úa vàng rách nát nhưng những con chữ trên mặt sách vẫn nóng hôi hổi như vừa được viết ra với dòng máu sục sôi.” (TDTH2, tr. 210).

Trong bài “Đọc tiểu thuyết THUYỀN của Nguyễn Đức Tùng: Những ký ức cuồng nộ về một thời bão táp” (cũng là một tựa đề nhiều hình ảnh), Trịnh Y Thư nhận định về cuốn tiểu thuyết trong bối cảnh về một thời vượt biên, nơi nhà thơ họ Nguyễn có một văn phong truyện rất mới, trích: “Đang miêu thuật tự sự thoắt nhảy sang độc thoại nội tâm rồi lại thoắt về tự sự. Suy nghĩ bên trong của nhân vật được thể hiện ngay khi sự việc xảy ra. Cấu trúc phi tuyến tính của mạch văn khiến thời gian có thể không di chuyển theo trình tự biên niên; suy nghĩ có thể quay lại quá khứ, không nhất thiết là ngày hôm qua, mà có thể nhiều chục năm về trước, hoặc suy nghĩ ấy nhảy về phía trước cũng nhiều chục năm. Ngữ pháp truyền thống ở đây không được tôn trọng nghiêm ngặt, câu chữ có thể bị phân mảnh hoặc kéo dài lê thê, phản ánh tính ngẫu nhiên, mông lung, bất chợt của suy nghĩ. Tính chủ quan cũng hiển lộ rõ ràng qua thủ pháp này: Ngòi bút tập trung vào ấn tượng cá nhân nhiều hơn là thực tế khách quan. Nói chung, kỹ thuật này thường được sử dụng để đào sâu hiểu biết về tâm lý, cho phép người đọc trải nghiệm tâm trí và tâm lý của nhân vật từ bên trong.”  (TDTH2, tr. 214).

Trong tuyển tập Theo Dấu Thư Hương 2 vẫn còn nhiều bài khác, với nhiều chủ đề khác... xin mời độc giả lần mở từng trang sách. Bài giới thiệu sách nơi đây không thể nói hết những gì tuyển tập chuyên chở. Nếu bạn là nhà thơ, bạn sẽ thấy những quan tâm rất lớn trong tuyển tập, thí dụ như bài “Tại sao chúng ta làm thơ?” nơi các trang 67-85. Nếu bạn là nhà văn, một người viết văn xuôi, bạn tất nhiên sẽ chú ý bài “Tản văn, Tùy bút và Ký giống, khác nhau như thế nào?” nơi các trang 59-66. Và nếu bạn quan tâm về văn học Mỹ, bạn tất nhiên sẽ ưa thích bài “Tính đa dạng và hòa nhập trong văn học Mỹ” nơi các trang 223-238.

Nói ngắn gọn, Theo Dấu Thư Hương 2 có sức mạnh lôi cuốn nhiều độc giả sẽ đọc một mạch, không muốn buông tay xuống để nghỉ. Đây là một tuyển tập rất thơ, rất cuồng nộ, và cũng rất buồn. Đây là những dòng chữ rất mực khó tìm trong cõi này.

Bạn có thể tìm mua Theo Dấu Thư Hương 2 từ Amazon, khi vào trang này:


Hay là vào trang của nhà xuất bản Barnes & Noble:


Từ tìm kiếm: theo dau thu huong II, trinh y thu

Nếu bạn đang ở Quận Cam, xin mời tới mua ở Nhà Sách Tự Lực.

Phan Tấn Hải
(12/2025)
 
Hình ảnh:
 
DSC_0255
Trịnh Y Thư & Phan Tấn Hải tại buổi Ra Mắt Sách hôm 6 Tháng 12, 2025 tại Coffee Factory, OC.
 
Trinh y thu ra mat sach
Trịnh Y Thư trong buổi RMS (ảnh Phan Tấn Hải).

Gửi ý kiến của bạn
Vui lòng nhập tiếng Việt có dấu. Cách gõ tiếng Việt có dấu ==> https://youtu.be/ngEjjyOByH4
Tên của bạn
Email của bạn
)
New Book Release: This book is a translation of a collection of personal, literary, and journalistic vignettes of Vietnamese individuals who have made notable contributions to literature, art, and science. It is a rich source of information on the social, cultural, and political history of South Vietnam, as well as the individual careers of its human subjects...
Làm thơ là một hành trình, với nhiều người, có khi rất là tình cờ bất chợt như làn gió mát buổi sớm chúng ta gặp mà không hề mong đợi. Thơ của chị Lê Phương Châu có phong cách như thế, khi thơ đọc như là những dòng chữ tình cờ, nơi đây chị có vẻ như không cố ý tìm chữ, tất cả chỉ là tự nhiên như ca dao. Trên từng dòng chữ, chị hiện ra như các hơi thở của tỉnh thức, để tự quán sát đời mình tan rã từng ngày, từng giờ, từng khoảnh khắc trong dòng sông vô thường. Và từ đó, thơ của chị khởi dậy trên các trang giấy.
Trong những năm gần đây, các thư viện công tại Hoa Kỳ – vốn từng là không gian yên tĩnh dành cho học tập và tra cứu – đã trở thành điểm nóng trong các cuộc tranh chấp văn hóa. Hàng ngàn cuốn sách bị yêu cầu cấm lưu hành, không phải bởi độc giả trực tiếp, mà từ các nhóm chính trị cánh hữu sử dụng mạng xã hội để vận động phản đối hàng loạt. Riêng năm học 2023–2024, PEN America ghi nhận tới 10.046 lượt cấm sách ở các trường công, ảnh hưởng tới 4.231 tựa sách và 2.662 tác giả; trong đó Florida và Iowa chiếm lần lượt 4.561 và 3.671 lượt cấm trong năm học. Gần một nửa trong số đó là sách viết bởi các tác giả LGBTQIA+ hoặc thuộc các cộng đồng chủng tộc thiểu số – những tiếng nói vốn đã bị thiệt thòi trong ngành xuất bản, nay tiếp tục bị đẩy ra ngoài bằng nhãn “không phù hợp.”
Cũng tâm thái ấy, tôi có được khi đọc Phòng Triển Lãm Mùa Đông của nhà văn Đặng Thơ Thơ, và sau đó là xoay sở cho lọt vào những con chữ mang đầy ý nghĩa bức phá hiện thực...
Nguyễn Hữu Liêm là một người đa dạng, không chỉ trong nghề nghiệp mưu sinh, mà cả trong những lĩnh vực cầm bút, lý luận. Ông là một người gây tranh cãi trong những nhận định về cộng đồng, và cả trong những bài viết về rất nhiều đề tài, như văn hoa, triết học, tôn giáo, chính trị. Dĩ nhiên, sôi nổi nhất là lĩnh vực chính trị. Nguyễn Hữu Liêm mưu sinh với nghề Luật sư, giảng dạy Triết. Những bài viết của ông bất kể gây tranh luận thế nào trong cộng đồng, vẫn là những đề tài cần được cộng đồng suy nghĩ nghiêm túc. Do vậy, từ một bàn viết lặng lẽ ở San Jose, Nguyễn Hữu Liêm trở thành người khơi dậy những cuộc tranh luận không chỉ ở hải ngoại, mà còn cả trong Việt Nam.
Đặng Thơ Thơ cùng thế hệ với ông bác, em ruột mẹ tôi, sống trong thời Việt Nam Cộng hòa và cũng như ông bác tôi, Thơ Thơ xa xứ cùng gia đình, người bác theo ngành y còn chị ngành giáo dục, viết văn, sáng lập trang Da Màu như cách để giữ gìn bản sắc và ngôn ngữ Việt. Xa quê mới nhớ nhà, rời nhau mới ngẩn ngơ căn nhà cắt rốn, sợ mất tiếng mất giọng, ngôn ngữ bay tro nên việc người Việt tha hương lập ra các trang Văn Hải Ngoại là cách đại đoàn kết khỏi cảnh nhớ nhà, đồng thời đấy cũng là sân chơi, thư viện lưu trữ bản thảo, để người trẻ muốn tìm tòi giai đoạn 20 năm miền Nam, muốn thử sức mà không cần phải trình bày thành tích đăng báo, in sách chung sách riêng đều có thể liên lạc.
Không ai ngờ nhà thơ này làm được các bài thơ kể chuyện về các Thiền sư Việt Nam trong thể thơ Đường luật, y hệt như khai mở lại một mạch nguồn thi ca sinh động. Những bài thơ của thầy, tinh luyện từng chữ, dịu dàng mang hơi thở Thiền Tông Việt Nam. Tôi đọc và kinh ngạc, như gặp lại một tri kỷ những năm rất xưa cũ, nhưng với một chân trời thi ca hoàn toàn mới. Nơi đó, riêng một mình Thầy Thích Chúc Hiền bước đi đơn độc, trong văn phong thanh thản, giữa những như dường gian nan trong từng chữ, từng ý đối, từng vần trau chuốt khó gieo, và trong từng âm vang Thiền ngữ. Tôi đọc và cảm nhận từng trang thơ đầy những tràn ngập hạnh phúc, hẳn nhiên là cho cả thi sĩ Thích Chúc Hiền và cho cả những độc giả khó tính như tôi. Từ thầy, tôi nhận ra rằng thơ Đường luật không hề cũ, chỉ là vì mình đã tránh né một lối đi rất khó khăn của thi ca.
THUYỀN là cuốn tiểu thuyết của nhà thơ Nguyễn Đức Tùng. Tác phẩm thuật lại chuyến vượt biên bằng đường biển của một nhóm người khi phong trào vượt biên trong nước lên cao, vào khoảng giữa hai thập niên 70s và 80s. Vì là tiểu thuyết nên cuốn sách thoát xác ra khỏi dạng hồi ký (mặc dù tự sự của nó bám sát sự thật và những điều có thể xem như sự thật) và nhất là nhờ được viết với bút pháp “dòng ý thức” nên nó đồng thời bật mở những suy nghiệm về lịch sử, chiến tranh, quê hương, tình yêu, sự sống, sự chết, sự tàn bạo, lòng nhân đạo, ký ức, lòng khao khát được sống, dòng chảy thời gian, cái nhẹ của nhân sinh, và nhiều thứ khác...
Tôi kinh ngạc khi thấy mình có thể sống trong rất nhiều thế giới trong một ngày. Bật máy vi tính lên, tìm các bản tin thế giới và quê nhà qua Google, chọn tin và dịch. Từ những xúc động có khi rơi nước mắt khi đọc tin về nỗi đau đớn của những người đang sống dưới mưa bom như Palestine, Ukraine, cho tới nỗi lo lắng khi thấy các bản tin về Biển Đông và đói kém ở quê nhà, cho tới những sân si trong thế giới quyền lực ở Hoa Kỳ... Thời gian nghỉ tay, đọc những dòng thơ nơi này hay nơi kia, từ khắp thế giới, là hạnh phúc đời thường của tôi. Trong đó, tôi thường theo dõi những dòng chữ của nhà thơ Thiện Trí, người cũng là một thiền sư đang dạy Thiền thực nghiệm ở Nam California. Có khi tôi mở bản sách giấy ra xem, và có khi vào Facebook tìm đọc "Monk Thiện Trí."
Cuốn tiểu thuyết “Đường về thủy phủ” của nhà văn Trịnh Y Thư là một tác phẩm ám ảnh và đầy trăn trở, khiến tôi phải đọc đi đọc lại và phải suy ngẫm nhiều lần. Vì sao? Vì mỗi khi khép sách lại, tôi luôn có cảm tưởng dường như mình đã bỏ sót một điều gì đó…


Kính chào quý vị,

Tôi là Derek Trần, dân biểu đại diện Địa Hạt 45, và thật là một vinh dự lớn lao khi được đứng nơi đây hôm nay, giữa những tiếng nói, những câu chuyện, và những tâm hồn đã góp phần tạo nên diện mạo văn học của cộng đồng người Mỹ gốc Việt trong suốt một phần tư thế kỷ qua.
Hai mươi lăm năm! Một cột mốc bạc! Một cột mốc không chỉ đánh dấu thời gian trôi qua, mà còn ghi nhận sức bền bỉ của một giấc mơ. Hôm nay, chúng ta kỷ niệm 25 năm Giải Viết Về Nước Mỹ của nhật báo Việt Báo.

Khi những người sáng lập giải thưởng này lần đầu tiên ngồi lại bàn thảo, họ đã hiểu một điều rất căn bản rằng: Kinh nghiệm tỵ nạn, hành trình nhập cư, những phức tạp, gian nan, và sự thành công mỹ mãn trong hành trình trở thành người Mỹ gốc Việt – tất cả cần được ghi lại. Một hành trình ý nghĩa không những cần nhân chứng, mà cần cả những người viết để ghi nhận và bảo tồn. Họ không chỉ tạo ra một cuộc thi; họ đã và đang xây dựng một kho lưu trữ. Họ thắp lên một ngọn hải đăng cho thế hệ sau để chuyển hóa tổn thương thành chứng tích, sự im lặng thành lời ca, và cuộc sống lưu vong thành sự hội nhập.

Trong những ngày đầu ấy, văn học Hoa Kỳ thường chưa phản ánh đầy đủ sự phong phú và đa dạng về kinh nghiệm của chúng ta. Giải thưởng Viết Về Nước Mỹ thực sự đã lấp đầy khoảng trống đó bằng sự ghi nhận và khích lệ vô số tác giả, những người đã cầm bút và cùng viết nên một thông điệp mạnh mẽ: “Chúng ta đang hiện diện nơi đây. Trải nghiệm của chúng ta là quan trọng. Và nước Mỹ của chúng ta là thế đó.”


Suốt 25 năm qua, giải thưởng này không chỉ vinh danh tài năng mà dựng nên một cộng đồng và tạo thành một truyền thống.
Những cây bút được tôn vinh hôm nay không chỉ mô tả nước Mỹ; họ định nghĩa nó. Họ mở rộng giới hạn của nước Mỹ, làm phong phú văn hóa của nước Mỹ, và khắc sâu tâm hồn của nước Mỹ. Qua đôi mắt họ, chúng ta nhìn thấy một nước Mỹ tinh tế hơn, nhân ái hơn, và sau cùng, chân thật hơn.

Xin được nhắn gửi đến các tác giả góp mặt từ bao thế hệ để chia sẻ tấm chân tình trên các bài viết, chúng tôi trân trọng cảm ơn sự can đảm của quý vị. Can đảm không chỉ là vượt qua biến cố của lịch sử; can đảm còn là việc ngồi trước trang giấy trắng, đối diện với chính mình, lục lọi ký ức đau thương sâu đậm, và gửi tặng trải nghiệm đó đến tha nhân. Quý vị là những người gìn giữ ký ức tập thể và là những người dẫn đường cho tương lai văn hóa Việt tại Hoa Kỳ.

Với Việt Báo: Xin trân trọng cảm ơn tầm nhìn, tâm huyết, và sự duy trì bền bỉ giải thưởng này suốt một phần tư thế kỷ.
Khi hướng đến 25 năm tới, chúng ta hãy tiếp tục khích lệ thế hệ kế tiếp—những blogger, thi sĩ, tiểu thuyết gia, nhà phê bình, nhà văn trẻ—để họ tìm thấy tiếng nói của chính mình và kể lại sự thật của họ, dù đó là thử thách hay niềm vui. Bởi văn chương không phải là một thứ xa xỉ; đó là sự cần thiết. Đó là cách chúng ta chữa lành, cách chúng ta ghi nhớ, và là cách chúng ta tìm thấy nơi chốn của mình một cách trọn vẹn.

Xin cảm ơn quý vị.

NHẬN TIN QUA EMAIL
Vui lòng nhập địa chỉ email muốn nhận.