Hôm nay,  

Khi Cùng Tử Ghi Lời Ca Tỉnh Thức: Đọc 3 tập thơ Lê Phương Châu

01/08/202500:00:00(Xem: 1302)
 
LE-PHUONG-CHAU-ba-tap-tho-copy

Ba tập thơ.

 
Làm thơ là một hành trình, với nhiều người, có khi rất là tình cờ bất chợt như làn gió mát buổi sớm chúng ta gặp mà không hề mong đợi. Thơ của chị Lê Phương Châu có phong cách như thế, khi thơ đọc như là những dòng chữ tình cờ, nơi đây chị có vẻ như không cố ý tìm chữ, tất cả chỉ là tự nhiên như ca dao. Trên từng dòng chữ, chị hiện ra như các hơi thở của tỉnh thức, để tự quán sát đời mình tan rã từng ngày, từng giờ, từng khoảnh khắc trong dòng sông vô thường. Và từ đó, thơ của chị khởi dậy trên các trang giấy.

Trước mặt tôi là ba tập thơ – Như Dòng Sông Trôi Xa (NXB Hội Nhà Văn, 2013), Dấu Chân Ngược Gió (NXB Hội Nhà Văn, 2015), và Một Khắc Trăm Năm (NXB California, 2013) – của nhà thơ Lê Phương Châu. Ba thi tập đó là gần phân nửa các sáng tác thi ca của Lê Phương Châu, người hiện nay đã in 8 tập thơ, trong đó thi tập đầu tiên trong đời thi sĩ của chị là Tình Khúc Mưa Tháng Năm in năm 1969, và tập thứ nhì là Thơ Lê Phương Châu in năm 1972. Sau hai thi tập in trước 1975 đó, phải tới hơn 30 năm sau, chị mới in thơ trở lại.  

Sau nhiều thập niên, thơ của chị càng lúc càng gần với Thiền hơn, như trong bài Tỉnh Thức:

Giữa khuya đêm tỉnh thức
Nằm nghe tiếng công phu
Âm Lăng Nghiêm huyền hoặc
Quét khô đỉnh khói mù!
(Dấu Chân Ngược Gió, trang 24)

Cuộc đời của chị gần với mái chùa, từ khi còn ở trong nước, cho tới khi ra định cư ở hải ngoại. Những cơ duyên đó đã hiển lộ trong thơ Lê Phương Châu qua các hình ảnh của vô thường và tỉnh thức. Tôi là người sau chị một thế hệ (em của chị là bạn học của tôi thời kỳ trước 1975) nhưng vẫn không thấy ngôn ngữ thơ của chị có sự cách biệt thế hệ.

Thơ của chị Lê Phương Châu không bàn về lịch sử, nhưng đôi khi làm trĩu nặng những nỗi buồn trên trang giấy, như trong bài Nhớ Huế, trang 72-73 của thi tập Dấu Chân Ngược Gió, chị viết:

Như tôi về bên nớ
Quảy bóng đầy hai vai.

Tôi phải dừng lại, để đọc đi, đọc lại. Bài thơ này chị viết vào Tết Giáp Ngọ, tức là Tết Nguyên Đán 2014. Nơi một khổ thơ áp cuối trong cùng bài, chị viết:

Cành mai khô chiêu niệm
Trổ ngang bờ tử sinh.

Lê Phương Châu không thuần túy viết thơ như một người làm thơ, chị sống thơ như một hành giả sống thơ trong đời. Chị sống với tỉnh thức. Thơ của chị là hơi thở của một người đã chứng kiến nhiều thăng trầm của lịch sử, và bây giờ là những dòng chữ của tỉnh thức giữa cõi mộng. Dòng thơ của chị lặng lẽ, như một Thiền sư tịch lặng kiểu thi sĩ: không giảng giải, không lý luận, mà là những khoảnh khắc trực nhận, những sát-na bật lên của chữ, trong đó đôi khi là một nỗi buồn mơ hồ của phận người và một hoài niệm về một quê hương tâm linh.

Trên các trang giấy, Lê Phương Châu tự hiển lộ bản thân là một người đi qua những mùa xuân thiên cổ, những cơn mưa hạ, những giấc mộng viễn ly – để rồi trở về với chính mình trong từng câu thơ.
 
Trong bài thơ nhan đề Đã Về Đây, viết ở Tu Viện An Lạc vào đêm 11.5.2013, gồm 5 khổ thơ năm chữ, mỗi khổ thơ gồm bốn dòng, chị tự giới thiệu ngay ở những dòng đầu:

bài kinh đầu sám nguyện
pháp cú mưa lâm râm
mùa đông tìm chỗ trú
vỗ về cánh chim dơi.
(Một Khắc Trăm Năm, trang 52)

Cách viết như thế cũng là phi truyền thống, vì tôi luôn luôn viết các chữ hoa đầu khi nào viết tới Pháp Cú. Cũng y hệt như khi viết tên Phật mà không viết hoa đầu chữ.

Tuy nhà thơ Lê Phương Châu đã nhìn thấy những trận mưa Pháp Cú hiển lộ trong tâm, nhưng chị cũng tự nhận là những nghiệp trần vẫn còn vương vấn, như bốn dòng cuối trong bài Thức Tỉnh Trăm Năm:

nghiệp trần chưa phủi sạch
một sớm theo cánh gió bay ngang
ai có hiểu vì sao chiếc lá vàng
đêm tắt nến còn nghe thơm mùi đất!
(Dấu Chân Ngược Gió, trang 128)

Chúng ta cần thấy rõ: nhà thơ Lê Phương Châu không phải là một Thiền sư sử dụng ngôn ngữ thơ để truyền đạt bất kỳ ý thiền nào. Chị chỉ viết tự nhiên, trong cương vị một nhà thơ, một nữ cư sĩ nhiều thập niên có cơ duyên hỗ trợ Tam Bảo. Do vậy, với chị, làm thơ chỉ là làm thơ tự nhiên, không có ý truyền giảng gì hết. Chị làm thơ cũng là một cách tu riêng, rất riêng. Thí dụ như trong bài thơ Đôi Bờ Hư Thực, sáng tác vào tháng 6.2014 tại Tu Viện An Lạc (California)  chị nhìn thấy màu nắng, chị nhìn lên vầng mây và nhận ra vô thường tịch lặng, trích:

...hương nắng vàng run rẩy
dáng ốm gầy mây ngoan
là bản giao hưởng dấu yêu
treo khúc vô thường đầu tịch lặng
là thâm ân lạc bước buổi xa người...
(Dấu Chân Ngược Gió, trang 118)

Thơ của Lê Phương Châu là một hành trình tỉnh thức. Đôi khi, thơ chị không mời gọi người đọc hiểu, mà mời gọi người đọc thấy. Thấy cái đẹp trong vô thường, thấy cái không trong cái có, thấy chính mình trong từng giọt mưa, từng hơi thở, và thấy Tâm Kinh hiện ra trên những sợi tóc vô thường.

Như trong bài thơ Quay Đầu Nhìn Tôi, nhà thơ Lê Phương Châu viết vào tháng 2.2014, sau khi đời đã tự thấy trong tầm tay là tròn giấc mộng ba sinh, chị tự thấy mình là người lãng tử trở về nơi đầu sân:

Một bước đi - một bước gần
Trên tầm tay đọng giấc nồng ba sinh
Nụ cười lãng tử đầu sân
Là tôi tóc phủ mấy vần tâm kinh.
(Dấu Chân Ngược Gió, trang 85)

Thơ của Lê Phương Châu cũng là một hành trình trở về tự thấy mình như trẻ thơ, bất kể rằng những rừng kinh tạng uyên nguyên đã “chia đôi sợi tóc đổi màu,” khi chị tự nhìn lại đời mình và viết bài Dòng Trôi Ký Ức vào tháng 12-2013. Trong đó, chị tự kể về niềm hạnh phúc khi nghe được trang kinh thanh khiết thì thầm, trích:

Trang kinh thanh khiết thì thầm
tôi như trẻ sơ sinh đói bầu sữa mẹ
lặng lẽ rung chuông hiền triết
Rừng uyên nguyên chia đôi sợi tóc đổi màu
(Dấu Chân Ngược Gió, trang 28)

Những trang thơ của Lê Phương Châu cho thấy chị là một người đang lắng nghe đời sống bằng trái tim tỉnh thức, và chị đã đưa tay chạm vào bản chất của hiện hữu, nơi Kinh Phật đã nói rằng đời sống là mong manh, là rạn vỡ, là bất như ý, là cô tịch, là hạnh phúc và là cái đẹp của những khoảnh khắc. Từ đó, thơ hiện lên: đơn sơ, và sâu lắng.

Tiểu sử nhà thơ Lê Phương Châu được ghi nơi mép sau bìa trước của thi tập Dấu Chân Ngược Gió  cho biết, chị tên thật là: Lê Thị Tuyết Phượng; Nguyên quán: Nha Trang.

Tác phẩm đã xuất bản: Tình Khúc Mưa Tháng Năm, 1969; Thơ Lê Phương Châu, 1972; Nắng Hát Chiều Đông, 2006; Mây Trắng Đầu Non, 2008; Cùng Tử Ca, 2012; Một Khắc Trăm Năm, 2013.

LE PHUONG CHAU thi si

Chân dung nhà thơ Lê Phương Châu.

Lê Phương Châu làm thơ từ nhiều năm trước năm 1975, do vậy chị có thơ đăng trên nhiều báo trong thời kỳ còn đi học (hãy nhớ rằng, chị in tập thơ đầu là năm 1969). Và do vậy, nhiều văn nghệ sĩ thời kỳ đó đã bất ngờ khi thấy một cô học trò Nha Trang gửi thơ vào đăng ở các báo Sài Gòn, và họ đã theo dõi sự trưởng thành của nhà thơ Lê Phương Châu.

Bìa sau của thi tập Một Khắc Trăm Năm ghi lời giới thiệu của nhà thơ Du Tử Lê: “Khởi từ thuở còn cắp sách tới trường, bậc trung học, những năm, tháng ở thành phố biển xanh, cát trắng, sau bao nhiêu thác ghềnh thế sự, đời riêng, tôi thấy dường như những con chữ, hình ảnh trong lộ trình sinh mệnh đời-thơ Lê Phương Châu càng lúc càng lấp lánh hơn. Phải chăng đó là những lấp lánh kết tinh tự những vực sâu bất hạnh? Hay những khổ dau như máu thấm sâu lòng đất, để từ đấy, thơ như tiếng kêu thương-của con chim lẻ bạn, bơ vơ giữa đất trời lồng lộng bi ai, bật lên tiếng hót khác? Những tiếng hót trầm thống / bao dung bay dọc dặm trường lịch sử đất nước lênh đênh?

Trong khi đó, nhà thơ Mang Viên Long trong bài Thay Lời Tựa: Đường Đi Vào Thơ Lê Phương Châu (Dấu Chân Ngược Gió, trang 5-11) nhìn thấy những chuyển biến trong thơ Lê Phương Châu từ những năm 1969-1972 là “những bước ngập ngừng vào đời với thơ” để rồi hơn ba mươi năm sau nữ sĩ họ Lê thoát ra khỏi những “khúc quanh dâu biển của thế sự” và “những năm tháng lao khổ và lận đận” để tới một nơi chói lòa ánh sáng của Kinh Phật. Mang Viên Long viết:

Cho đến thi tập Cùng Tử Ca (2012) - bốn năm sau, Lê Phương Châu như đĩnh đạt bước vào con đường sáng lòa ánh nắng của Pháp Hoa... Có thể nói, từ "dấu mốc" (hay dấu chân) nầy, Lê Phương Châu đã vững bước tiến theo đường hân hoan cùng tiếng ca tỉnh thức của gã cùng tử!” (Dấu Chân Ngược Gió, trang 6)

Trong khi đó, nơi thi tập Một Khắc Trăm Năm, nhà thơ Nguyễn Lương Vỵ viết Lời Bạt (MKTN, trang 113-116) trong đó họ Nguyễn nhận định rằng, trích:

Thơ Lê Phương Châu không ồn ào dậy sóng mà hiền hòa như những ngọn gió điền dã, giọng thơ như lời độc thoại với chính mình, "mình tôi khêu bấc đèn dầu/phút giây ẩn hiện sắc màu cao nguyên..." Thơ, với Lê Phương Châu như một ân sủng của trời đất, "một câu thơ nghiền ngẫm mãi chưa rời/đêm sắp thẳng hàng - thuyền vọng viễn khơi/đất nứt nẻ chôn vùi chữ nghĩa/vẫn chút nắng vàng - vẫn có tôi!" Thơ, với Lê Phương Châu như một niềm tín mộ, "lắng nghe trong chữ nghĩa/vô vàn ý thơ rơi/nhặt ba hồn chín vía/ kết sợi thơm dâng đời!" Sợi Thơm ấy, khởi đi từ cội nguồn tinh mật của kiếp người là tiếng nói? Tiếng nói trong trẻo, trong veo nhất của kiếp người là Thơ? "đội mưa mùa thu tím tái/ lung linh tiền kiếp trổ hoa/man mác suối mơ xanh lục/ngập đôi bàn chân đi qua!"

Thơ Lê Phương Châu hiền hòa nhưng chất ngất hoài niệm, chiêu niệm,"đã qua rồi bão lửa chiến chinh/mất còn ai như bóng tượng hình/mắt rủ vọng âm - hồn chiêu niệm/hồng chung thức tỉnh lưới vô minh... Thơ Lê Phương Châu hiền hòa nhưng không bi lụy... Thơ Lê Phương Châu hiền hòa nhưng vẫn ẩn dấu nét đẹp cổ diển, vững vàng, tài hoa về thi pháp...”(Lời Bạt của Nguyễn Lương Vỵ trong Một Khắc Trăm Năm)

Tôi ước mơ rằng nhà thơ Lê Phương Châu sẽ viết hoài, viết mãi, viết về những sợi tóc của chị đã nhuốm hai màu Sắc & Không của Tâm Kinh, về những rừng uyên nguyên bay tới trên các vầng mây khi chị gõ lên tiếng mõ tụng kinh, và về những chiếc lá vàng bay theo trận gió vô thường để lật qua từng trang thơ. Hãy để ánh sáng của tỉnh thức chiếu rực rỡ trên các trang giấy vô thường của thi ca. Nơi những dòng thơ sẽ trở thành những trận mưa Pháp cú thì thầm. Gate Gate Paragate Parasamgate Bodhi Svaha.

Gửi ý kiến của bạn
Vui lòng nhập tiếng Việt có dấu. Cách gõ tiếng Việt có dấu ==> https://youtu.be/ngEjjyOByH4
Tên của bạn
Email của bạn
)
Trong trang đầu tiên của Thuyền, tiểu thuyết, tác giả Nguyễn Đức Tùng viết:“Cả Sài Gòn, cả nước, xem bói. Thời trước, người ta xem để hỏi ngày lành tháng tốt, tiền tài, hạnh phúc lứa đôi, nhưng năm ấy, mọi người hỏi: có đi được không?” Đi hay ở, đó là vấn đề. Chả là vào thời đó, “Nếu cái cột đèn biết đi thì cũng phải đi.” Nhận xét đơn giản này, không rõ do ai thốt lên, đã lập tức trở thành phát ngôn thời danh, mô tả khá hình tượng cho một chương bi thảm trong lịch sử dân tộc, nối tiếp ngay sau một chương bi thảm khác là chiến tranh. Chương đó bắt đầu từ trong bối cảnh “Ngày tôi ngoài hai mươi tuổi, đó là những năm tháng u ám nhất của đời người, đó là những ngày yêu đương tràn ngập, mặt trời lên mỗi sáng, chiếu rọi mặt đất. Nhìn đâu cũng thấy tương lai. Đó là những ngày buồn bã, đói, thất vọng. Chúng tôi có tất cả, chúng tôi không có gì. Đó là những ngày kỳ lạ khi chiến tranh chấm dứt mà không chấm dứt, hòa bình lo âu.”
New Book Release: This book is a translation of a collection of personal, literary, and journalistic vignettes of Vietnamese individuals who have made notable contributions to literature, art, and science. It is a rich source of information on the social, cultural, and political history of South Vietnam, as well as the individual careers of its human subjects...
Trong những năm gần đây, các thư viện công tại Hoa Kỳ – vốn từng là không gian yên tĩnh dành cho học tập và tra cứu – đã trở thành điểm nóng trong các cuộc tranh chấp văn hóa. Hàng ngàn cuốn sách bị yêu cầu cấm lưu hành, không phải bởi độc giả trực tiếp, mà từ các nhóm chính trị cánh hữu sử dụng mạng xã hội để vận động phản đối hàng loạt. Riêng năm học 2023–2024, PEN America ghi nhận tới 10.046 lượt cấm sách ở các trường công, ảnh hưởng tới 4.231 tựa sách và 2.662 tác giả; trong đó Florida và Iowa chiếm lần lượt 4.561 và 3.671 lượt cấm trong năm học. Gần một nửa trong số đó là sách viết bởi các tác giả LGBTQIA+ hoặc thuộc các cộng đồng chủng tộc thiểu số – những tiếng nói vốn đã bị thiệt thòi trong ngành xuất bản, nay tiếp tục bị đẩy ra ngoài bằng nhãn “không phù hợp.”
Cũng tâm thái ấy, tôi có được khi đọc Phòng Triển Lãm Mùa Đông của nhà văn Đặng Thơ Thơ, và sau đó là xoay sở cho lọt vào những con chữ mang đầy ý nghĩa bức phá hiện thực...
Nguyễn Hữu Liêm là một người đa dạng, không chỉ trong nghề nghiệp mưu sinh, mà cả trong những lĩnh vực cầm bút, lý luận. Ông là một người gây tranh cãi trong những nhận định về cộng đồng, và cả trong những bài viết về rất nhiều đề tài, như văn hoa, triết học, tôn giáo, chính trị. Dĩ nhiên, sôi nổi nhất là lĩnh vực chính trị. Nguyễn Hữu Liêm mưu sinh với nghề Luật sư, giảng dạy Triết. Những bài viết của ông bất kể gây tranh luận thế nào trong cộng đồng, vẫn là những đề tài cần được cộng đồng suy nghĩ nghiêm túc. Do vậy, từ một bàn viết lặng lẽ ở San Jose, Nguyễn Hữu Liêm trở thành người khơi dậy những cuộc tranh luận không chỉ ở hải ngoại, mà còn cả trong Việt Nam.
Đặng Thơ Thơ cùng thế hệ với ông bác, em ruột mẹ tôi, sống trong thời Việt Nam Cộng hòa và cũng như ông bác tôi, Thơ Thơ xa xứ cùng gia đình, người bác theo ngành y còn chị ngành giáo dục, viết văn, sáng lập trang Da Màu như cách để giữ gìn bản sắc và ngôn ngữ Việt. Xa quê mới nhớ nhà, rời nhau mới ngẩn ngơ căn nhà cắt rốn, sợ mất tiếng mất giọng, ngôn ngữ bay tro nên việc người Việt tha hương lập ra các trang Văn Hải Ngoại là cách đại đoàn kết khỏi cảnh nhớ nhà, đồng thời đấy cũng là sân chơi, thư viện lưu trữ bản thảo, để người trẻ muốn tìm tòi giai đoạn 20 năm miền Nam, muốn thử sức mà không cần phải trình bày thành tích đăng báo, in sách chung sách riêng đều có thể liên lạc.
Không ai ngờ nhà thơ này làm được các bài thơ kể chuyện về các Thiền sư Việt Nam trong thể thơ Đường luật, y hệt như khai mở lại một mạch nguồn thi ca sinh động. Những bài thơ của thầy, tinh luyện từng chữ, dịu dàng mang hơi thở Thiền Tông Việt Nam. Tôi đọc và kinh ngạc, như gặp lại một tri kỷ những năm rất xưa cũ, nhưng với một chân trời thi ca hoàn toàn mới. Nơi đó, riêng một mình Thầy Thích Chúc Hiền bước đi đơn độc, trong văn phong thanh thản, giữa những như dường gian nan trong từng chữ, từng ý đối, từng vần trau chuốt khó gieo, và trong từng âm vang Thiền ngữ. Tôi đọc và cảm nhận từng trang thơ đầy những tràn ngập hạnh phúc, hẳn nhiên là cho cả thi sĩ Thích Chúc Hiền và cho cả những độc giả khó tính như tôi. Từ thầy, tôi nhận ra rằng thơ Đường luật không hề cũ, chỉ là vì mình đã tránh né một lối đi rất khó khăn của thi ca.
THUYỀN là cuốn tiểu thuyết của nhà thơ Nguyễn Đức Tùng. Tác phẩm thuật lại chuyến vượt biên bằng đường biển của một nhóm người khi phong trào vượt biên trong nước lên cao, vào khoảng giữa hai thập niên 70s và 80s. Vì là tiểu thuyết nên cuốn sách thoát xác ra khỏi dạng hồi ký (mặc dù tự sự của nó bám sát sự thật và những điều có thể xem như sự thật) và nhất là nhờ được viết với bút pháp “dòng ý thức” nên nó đồng thời bật mở những suy nghiệm về lịch sử, chiến tranh, quê hương, tình yêu, sự sống, sự chết, sự tàn bạo, lòng nhân đạo, ký ức, lòng khao khát được sống, dòng chảy thời gian, cái nhẹ của nhân sinh, và nhiều thứ khác...
Tôi kinh ngạc khi thấy mình có thể sống trong rất nhiều thế giới trong một ngày. Bật máy vi tính lên, tìm các bản tin thế giới và quê nhà qua Google, chọn tin và dịch. Từ những xúc động có khi rơi nước mắt khi đọc tin về nỗi đau đớn của những người đang sống dưới mưa bom như Palestine, Ukraine, cho tới nỗi lo lắng khi thấy các bản tin về Biển Đông và đói kém ở quê nhà, cho tới những sân si trong thế giới quyền lực ở Hoa Kỳ... Thời gian nghỉ tay, đọc những dòng thơ nơi này hay nơi kia, từ khắp thế giới, là hạnh phúc đời thường của tôi. Trong đó, tôi thường theo dõi những dòng chữ của nhà thơ Thiện Trí, người cũng là một thiền sư đang dạy Thiền thực nghiệm ở Nam California. Có khi tôi mở bản sách giấy ra xem, và có khi vào Facebook tìm đọc "Monk Thiện Trí."
Cuốn tiểu thuyết “Đường về thủy phủ” của nhà văn Trịnh Y Thư là một tác phẩm ám ảnh và đầy trăn trở, khiến tôi phải đọc đi đọc lại và phải suy ngẫm nhiều lần. Vì sao? Vì mỗi khi khép sách lại, tôi luôn có cảm tưởng dường như mình đã bỏ sót một điều gì đó…


Kính chào quý vị,

Tôi là Derek Trần, dân biểu đại diện Địa Hạt 45, và thật là một vinh dự lớn lao khi được đứng nơi đây hôm nay, giữa những tiếng nói, những câu chuyện, và những tâm hồn đã góp phần tạo nên diện mạo văn học của cộng đồng người Mỹ gốc Việt trong suốt một phần tư thế kỷ qua.
Hai mươi lăm năm! Một cột mốc bạc! Một cột mốc không chỉ đánh dấu thời gian trôi qua, mà còn ghi nhận sức bền bỉ của một giấc mơ. Hôm nay, chúng ta kỷ niệm 25 năm Giải Viết Về Nước Mỹ của nhật báo Việt Báo.

Khi những người sáng lập giải thưởng này lần đầu tiên ngồi lại bàn thảo, họ đã hiểu một điều rất căn bản rằng: Kinh nghiệm tỵ nạn, hành trình nhập cư, những phức tạp, gian nan, và sự thành công mỹ mãn trong hành trình trở thành người Mỹ gốc Việt – tất cả cần được ghi lại. Một hành trình ý nghĩa không những cần nhân chứng, mà cần cả những người viết để ghi nhận và bảo tồn. Họ không chỉ tạo ra một cuộc thi; họ đã và đang xây dựng một kho lưu trữ. Họ thắp lên một ngọn hải đăng cho thế hệ sau để chuyển hóa tổn thương thành chứng tích, sự im lặng thành lời ca, và cuộc sống lưu vong thành sự hội nhập.

Trong những ngày đầu ấy, văn học Hoa Kỳ thường chưa phản ánh đầy đủ sự phong phú và đa dạng về kinh nghiệm của chúng ta. Giải thưởng Viết Về Nước Mỹ thực sự đã lấp đầy khoảng trống đó bằng sự ghi nhận và khích lệ vô số tác giả, những người đã cầm bút và cùng viết nên một thông điệp mạnh mẽ: “Chúng ta đang hiện diện nơi đây. Trải nghiệm của chúng ta là quan trọng. Và nước Mỹ của chúng ta là thế đó.”


Suốt 25 năm qua, giải thưởng này không chỉ vinh danh tài năng mà dựng nên một cộng đồng và tạo thành một truyền thống.
Những cây bút được tôn vinh hôm nay không chỉ mô tả nước Mỹ; họ định nghĩa nó. Họ mở rộng giới hạn của nước Mỹ, làm phong phú văn hóa của nước Mỹ, và khắc sâu tâm hồn của nước Mỹ. Qua đôi mắt họ, chúng ta nhìn thấy một nước Mỹ tinh tế hơn, nhân ái hơn, và sau cùng, chân thật hơn.

Xin được nhắn gửi đến các tác giả góp mặt từ bao thế hệ để chia sẻ tấm chân tình trên các bài viết, chúng tôi trân trọng cảm ơn sự can đảm của quý vị. Can đảm không chỉ là vượt qua biến cố của lịch sử; can đảm còn là việc ngồi trước trang giấy trắng, đối diện với chính mình, lục lọi ký ức đau thương sâu đậm, và gửi tặng trải nghiệm đó đến tha nhân. Quý vị là những người gìn giữ ký ức tập thể và là những người dẫn đường cho tương lai văn hóa Việt tại Hoa Kỳ.

Với Việt Báo: Xin trân trọng cảm ơn tầm nhìn, tâm huyết, và sự duy trì bền bỉ giải thưởng này suốt một phần tư thế kỷ.
Khi hướng đến 25 năm tới, chúng ta hãy tiếp tục khích lệ thế hệ kế tiếp—những blogger, thi sĩ, tiểu thuyết gia, nhà phê bình, nhà văn trẻ—để họ tìm thấy tiếng nói của chính mình và kể lại sự thật của họ, dù đó là thử thách hay niềm vui. Bởi văn chương không phải là một thứ xa xỉ; đó là sự cần thiết. Đó là cách chúng ta chữa lành, cách chúng ta ghi nhớ, và là cách chúng ta tìm thấy nơi chốn của mình một cách trọn vẹn.

Xin cảm ơn quý vị.

NHẬN TIN QUA EMAIL
Vui lòng nhập địa chỉ email muốn nhận.