Hôm nay,  

Về Florida Thăm Nhà Cũ, Trường Xưa

02/01/202609:38:00(Xem: 785)

 

Dịp nghỉ lễ cuối năm 2025, vợ chồng tôi trở lại thành phố St. Petersburg sau 37 năm, tìm về căn nhà cũ và trường xưa của bà xã tôi.

 

Đầu năm 1987, nhà tôi rời trại tị nạn Galang, Indonesia đi Mỹ định cư sau hành trình vượt biển nhiều lần và đã từng bị công an bắt giam cả tháng.

 

Gia đình vượt biển trong năm 1985, ba của Hương đi trước, đem theo hai người con lớn. Má đi sau mấy tháng với hai người con còn lại và may mắn cả nhà đã đến các đảo của Indonesia, trước khi được chuyển vào trại chuyển tiếp Galang dưới sự điều hành của Cao ủy Tị nạn Liên Hiệp Quốc. Ở đây, người vượt biển được gặp nhân viên di trú của Hoa Kỳ, Úc, Canada, Hà Lan, Đức, Nhật để phỏng vấn định cư. Mỗi lần bị phái đoàn từ chối nhận là một nỗi buồn, nhưng ai cũng kiên nhẫn chờ đợi cho lần phỏng vấn kế tiếp.

BuiVanPhu_2025_1231_CuoiNam_H01_NhaCu

Tác giả và bà xã chụp ảnh trước ngôi nhà nơi gia đình vợ từng sống 37 năm trước đây (Ảnh: Bùi Văn Phú)

 

 

Vào cuối thập niên 1980, thời gian ở trại của một người tị nạn ít nhất cũng là một năm, trung bình là hai năm và có những người đã phải ở lâu hơn, vì trục trặc hồ sơ hay vì có bệnh lao.

 

Gia đình bà xã được Hoa Kỳ nhận cho định cư. Chuẩn bị lên đường đi Mỹ, nhưng đã gặp những trở ngại vào giờ chót.

 

Nếu mọi chuyện như dự định, gia đình đã lên đường định cư từ tháng 9/1986, nhưng người bảo trợ ở Denver, Colorado vào phút chót đã không tiếp tục hoàn tất hồ sơ để đón qua Mỹ. Lần thứ hai, cả nhà đã ra cầu tàu, sắp xuống tàu rời Galang thì cô em gái bị mạt cưa làm đỏ mắt nên lại không được lên đường, vì chính phủ Singapore không cho người bị đỏ mắt quá cảnh bên đó. Thế là phải trở về trại, nhận lại nồi niêu, chén bát vừa cho hết hàng xóm, tiếp tục cuộc sống trong trại với nhiều lo âu không biết ngày nào mới có thể rời đảo.

 

Lần thứ ba, đầu tháng 1/1987, gia đình rời Galang qua Singapore, có tôi đón tại cầu tàu. Chuyến tàu đó, ngoài gia đình Hương còn có linh mục Tống Kiến Hùng, gia đình ông Lê Bé là những người tôi quen trong trại đi định cư ở California. Vào trại chuyển tiếp Hawkins Road ở vài ngày chờ chuyến bay đi Mỹ. Như với nhiều thuyền nhân từ Galang đã qua đây, tôi đưa Hương đi chơi Singapore một ngày, rồi ra phi trường Changi tiễn gia đình đi Mỹ định cư. Còn tôi đi Bangkok nhận công việc mới, cũng làm cho chương trình giáo dục tị nạn.

Gia đình được cơ quan Bác ái Công giáo (USCC) bảo trợ về thành phố St. Petersburg, Florida định cư. Có sơ Yến giúp đỡ ổn định chỗ ở, làm các thủ tục giấy tờ, ghi danh học tiếng Anh ESL cho ba mẹ, nhập học các trường cho bốn chị em.

 

USCC thuê cho gia đình một căn nhà hai phòng ngủ, một phòng tắm ở số 731 17th Street N., St. Petersburg, bên cạnh có gia đình ông Liêm Nguyễn đến sống đã vài năm. Cũng ở thành phố này còn có gia đình bác Mai Văn Hòa, từ Galang đến định cư vài tháng trước.

 

Nhà tôi và em trai kế vào trường Northeast High School. Hai em nhỏ học tiểu học và cấp hai. Đi học nếu không có người đưa đón thì đi xe buýt vàng của trường.

 

Sau vài tháng quen dần với cuộc sống mới, ba đi làm phụ bếp ở nhà hàng, cuối tuần Hương theo má đi dọn phòng trong khách sạn.

 

Năm 1988, tôi trở lại Hoa Kỳ, về thăm gia đình Hương và cũng tìm việc ở khu vực Tampa-St. Petersburg, có gặp bà Thanh Đồng Ingall là người sống ở đây lâu năm hướng dẫn tìm việc làm trong lãnh vực xã hội và giáo dục.

 

Nhưng rồi vùng Vịnh San Francisco mời gọi tôi trở về, làm việc với Hội Ngư phủ ở Oakland, giám đốc là anh Phạm Minh Chiếu. Tôi phụ trách giúp tìm việc làm cho những người mới đến định cư.

 

Hè năm 1988, gia đình Hương từ giã vùng Vịnh Tampa, Florida dọn về vùng Vịnh San Francisco, California. Chúng tôi kết hôn với nhau năm 1992.

 

Ba mươi bảy năm sau, chúng tôi trở lại St. Petersburg. Căn nhà xưa đã được sửa lại, hai căn, trước đây gia đình ông Liêm và gia đình Hương ở, đã nhập với nhau thành một. Theo sàn giao dịch bất động sản Zillow, giá căn nhà bây giờ là 340.000 đô la.

 

Năm 1987, ông Liêm đã mua nhà riêng, sau mấy năm định cư. Căn nhà ba phòng ngủ hai phòng tắm, cách nhà cũ chừng dăm phút lái xe, giá 50.000 đô la.

 

Ngôi nhà cũ bây giờ có hàng rào gỗ chung quanh, không còn nhiều cây cao xum xuê trước sân. Kín cổng và không thấy ai ngoài sân. Gặp người láng giềng ở đối diện, chúng tôi hỏi thăm, ông nói chắc chủ nhà đi chơi. Ông kể là căn nhà kế cận, bây giờ là một Art Studio mới bán với giá 700.000 đô la vào năm ngoái. Trước đó dăm năm đó là một căn nhà hư hỏng bán chưa đến 50.000 đô.

 

Sau khi nhìn lại nhà cũ, chúng tôi đến trường Northeast High School. Vì là dịp lễ nghỉ nên trường đóng cửa. Từ ngoài nhìn vào, nhà tôi thấy sân trường vẫn quen thuộc, là nơi học sinh ngồi ăn trưa.

 

Những thầy cô dạy Anh ngữ và toán còn lưu lại nhiều kỷ niệm và lòng biết ơn trong tim bà xã vì lúc bấy giờ tiếng Anh còn yếu nhưng được thầy cô hết lòng giúp đỡ, khuyến khích học tập, giờ toán hay được gọi lên bảng giải bài mẫu cho bạn học làm theo. Ở trường khi đó có vài chục học sinh Việt, nhiều em qua Mỹ đã lâu nên rất thời thượng với tóc punk, quần ống túm mà rộng trên đùi.

 

Theo số liệu của Cục Thống kê Dân số Hoa Kỳ, năm 1990 có 1.000 người Việt ở St. Petersburg và 600 ở Tampa. Đến nay con số lên đến 21.000 cho toàn vùng Vịnh Tampa, gồm các thành phố Pinellas Park, St. Petersburg, Tampa, Largo, Clearwater. Một số làm việc cho các hãng xưởng, nhiều người làm móng tay. Có người đi câu, lưới cá về bán hay buôn bán rau trái.

BuiVanPhu_2025_1231_CuoiNam_H02_ChoNongSan
H02: Chợ nông sản với nhiều cây trái Việt ở Clearwater, Florida (Ảnh: Bùi Văn Phú)



Những ngày ở đây chúng tôi đi chợ trời cuối tuần, có hàng quán bán cháo lòng, bún mắm, nước mía. Cuối tháng 12 dương lịch mà có nhiều trái cây quê nhà như na, sapôchê, mít, vú sữa, ô ma, nhãn, xoài, ổi, cóc, khế; các loại rau muống, rau mồng tơi, rau dền, mướp hương. Rau tương đối rẻ còn trái cây nếu so với California thì không. Sapôchê, nhãn 5 đô một cân Anh, na nhỏ 8 đô, na lớn 15 đô một cân, vú sữa hai trái 8 đô 50 xu. Cây me non, cao chừng một mét có người mua với giá 40 đô.

 

Nhà hàng có phở Zen, khá ngon. Cơm tấm bì, bún thịt nướng ở quán Kiên Giang rất ngon và đông khách lúc hai, ba giờ chiều. Không như bên California, vào quán Việt gọi thức ăn, trong vòng 5 phút là có ngay, ở đây có thể vì thiếu người phục vụ nên khách phải chờ cũng khá lâu, hay nếp sống ở Florida chậm rãi hơn nên mọi thứ không nhanh, chớp nhoáng như ở California?

 

Trong vùng Vịnh Tampa nay có nhiều xứ đạo Công giáo và chùa Phật giáo. Các cơ sở tôn giáo đều tọa lạc trên những khu đất rộng. Chùa Phật Pháp ở St. Petersburg theo phái Theravada, trước chùa có nhiều tượng Phật và những hàng tre xanh mang lại khung cảnh rất Việt Nam.

 

Chủ nhật dự lễ ở nhà thờ Thánh Giuse của riêng người Công giáo gốc Việt ở Tampa. Trong bài giảng, cha chính xứ Đinh Xuân Chiến, dòng Ngôi Lời SVD, nhắc đến nhiều đóng góp cho giáo xứ của những gia đình làm đẹp móng tay, mái tóc.

BuiVanPhu_2025_1231_CuoiNam_H03_NhaThoCacThanhTuDao
Nhà thờ Các Thánh Tử đạo Việt Nam ở St. Petersburg, Florida (Ảnh: Bùi Văn Phú)

 

Khi tôi sống ở đây đôi tháng vào năm 1988, lúc đó có cha Tước phục vụ cộng đồng Công giáo trong một giáo xứ Mỹ của Giáo phận St. Petersburg. Nay thành phố này đã có nhà thờ Các Thánh Tử đạo Việt Nam với cha chính xứ Nguyễn Vũ Việt từ nhiều năm qua. Giáo xứ không chỉ là nơi sinh hoạt tôn giáo cho 500 gia đình mà còn là cơ sở giáo dục, có chương trình học tiếng Việt và giúp học sinh ôn bài, làm bài tập sau giờ học.

 

Ghé thăm mới được biết cha chính xứ là cháu của linh mục Nguyễn Văn Lý, một người tranh đấu cho tự do tôn giáo và nhân quyền đã bị Hà Nội giam tù nhiều năm. Không hẹn trước nhưng chúng tôi đã được cha đón tiếp, cho biết về các sinh hoạt của cộng đoàn giáo dân ở St. Petersburg, như đại hội tôn kính các Thánh Tử đạo cuối tháng 11 vừa qua.

 

Khác với California là nơi không có giáo xứ Việt, ở Florida linh mục Việt có thể lập giáo xứ riêng và tự lo điều hành mọi việc với sự đóng góp của giáo dân. Vì thế ở đây đã có các linh mục khai sinh ra giáo xứ và làm chánh xứ cả chục năm hay lâu hơn.

 

Trước khi ra về, cha Việt tặng chúng tôi mấy trái khế, cây nhà lá vườn của người trong giáo xứ. Khế ngọt, có lẽ cũng là loại trái được dân địa phương ưa chuộng vì trong siêu thị Publix có bán, giá 3-4 đô một trái.

 

Hỏi chúng tôi về hưu có tính trở lại đây sống vì cha cũng biết bán nhà ở California về St. Petersburg thì dành một nửa mua nhà, nửa còn lại cộng với tiền an sinh xã hội là sống hưu thoải mái với khí hậu ấm áp quanh năm như ở Việt Nam và cây trái, rau cỏ quê nhà cũng không thiếu.

 

Một lần nữa giã từ St. Petersburg.

BuiVanPhu_2025_1231_CuoiNam_H04_BienSiesta_Sarasota
Bãi biển Siesta ở thành phố Sarasota, Florida đông du khách trong ngày cuối năm dương lịch (Ảnh: Bùi Văn Phú)

 

Mấy ngày qua, ghé thăm nhà xưa, trường cũ, gặp gỡ nhiều người cho chúng tôi hiểu biết hơn về vùng Vịnh Tampa. Nhất là có dịp ra biển ở Clearwater, ở Sarasota mà mê cát trắng mịn như bột và nước xanh màu ngọc bích nên sẽ trở lại trong một ngày không xa, làm khách du lịch vui cùng sóng nước biển xanh. Không như đã đi xa 37 năm mới trở về trong chuyến đi vừa qua.

 
Bùi Văn Phú

Tác giả Bùi Văn Phú là giảng viên đại học cộng đồng và nhà báo tự do từ vùng Vịnh San Francisco, California

 

Gửi ý kiến của bạn
Vui lòng nhập tiếng Việt có dấu. Cách gõ tiếng Việt có dấu ==> https://youtu.be/ngEjjyOByH4
Tên của bạn
Email của bạn
)
Biết bao nhiêu bài viết về Mẹ, công ơn sinh thành, hy sinh của người Mẹ vào ngày lễ Mẹ, nhưng hôm nay là ngày Father’s Day, ngày của CHA, tôi tìm mãi chỉ được một vài bài đếm trên đầu ngón tay thôi. Tại sao vậy?
Hôm nay giống như một ngày tựu trường. Đơn giản, vắng một thời gian không ngồi ở lớp học, nay trở lại, thế là tựu trường. Ngày còn bé, mỗi lần nghỉ hè xong, lên lớp mới, trong lòng vừa hồi hộp vừa vui sướng. Có bao nhiêu chuyện để dành chờ gặp bạn là kể tíu tít. Nhưng bên cạnh đó là nỗi lo khi sắp gặp các thầy cô mới… Mỗi năm đều có ngày tựu trường như vậy, nói chung là khá giống nhau, trong đời học sinh. Nhưng cái ngày tựu trường này thật quá khác. Người ta nhìn nhau không dám cười, không dám chào hỏi. Sự e dè này, dường như mỗi người đã được tập luyện qua một năm. Một năm “học chính trị” trong cái gọi là hội trường mà tiền thân là cái rạp hát.
Cái tên Michelin không xa lạ gì với chúng ta. Vỏ lốp chiếc xe tôi đang dùng cũng mang tên Michelin. Sao hai thứ chẳng có liên quan chi lại trùng tên. Nếu tôi nói chúng tuy hai mà một chắc mọi người sẽ ngây người tưởng tôi… phiếm.
Phi là một người bạn đạt được những điều trong đời mà biết bao người không có. Là một tấm gương sống sao cho ra sống để chết đi không có gì hối tiếc. Là một niềm hy vọng cho sự tử tế vốn ngày càng trở nên xa xỉ ở nước Mỹ mà tôi đang tiếp tục sống.
Có một lần đó thầy kể lại chuyện rằng, thầy có một phật tử chăm chỉ tu học, đã hơn 10 năm, theo thầy đi khắp nơi, qua nhiều đạo tràng, chuyên tu chuyên nghe rất thành kính. Nhưng có một lần đó phật tử đứng gần thầy, nghe thầy giảng về phát bồ đề tâm, sau thầy có đặt một vài câu hỏi kiểm tra coi thính chúng hiểu bài tới đâu? Cô vội xua xua tay, “bạch thầy, những điều thầy giảng, con hiểu hết, con hiểu hết mà. Con nhớ nhập tâm. Nhưng đừng, thầy đừng có hỏi, bị là con không biết trả lời làm sao đâu.” Có lẽ là cô hiểu ý mà cô chưa sẵn sàng hệ thống sắp xếp thứ tự lại các ý tưởng.
Ở xứ ấy, người ta ngủ đến trưa mới dậy. Chàng nhớ thế khi nghĩ về mùa xuân, mùa hạ, mùa thu khi còn bé, mỗi lần nghĩ thế, đều lấy làm ngạc nhiên, và lấy làm ngạc nhiên về sự ngạc nhiên ấy. Thế mà giữa một thành phố châu Âu, chàng lại gặp chúng. Trên nền tường trắng và mặt biển xanh, giữa những màu xanh và trắng, chỉ hai màu ấy, đôi khi xanh và đỏ, chàng gặp lại chúng, hồ hởi, tưng bừng, nó và chàng như hai thằng bạn thời mặc quần xà lỏn nay gặp nhau
Lơ đảng nhìn mây trời và đèn đường, tôi từ tốn chuyển xe sang tuyến trái để cua. Cha tôi thường nói, “Con phải tập bỏ tính lơ đểnh, nếu không, sẽ có ngày gặp phiền phức.” Nhưng lơ đểnh là nơi nghệ sĩ lang thang, ngẫu hứng tìm thấy những sáng tạo không ngờ. Chợt thoáng trong hộp kính nhìn lui, thấy chiếc xe đen nhỏ bắn lên với tốc độ nguy hiểm, tôi chuyển xe về lại bên phải, sau gáy dựng lên theo tiếng rít bánh xe thắng gấp chà xát mặt đường, trong kính chiếu hậu, một chiếc xe hạng trung màu xám đang chao đảo, trơn trợt, trờ tới, chết rồi, một áp lực kinh khiếp đập vào tâm trí trống rỗng, chỉ còn phản xạ tự động hiện diện. Chợt tiếng cha tôi vang lên: “đạp ga đi luôn.” Chân nhấn xuống, chiếc xe lồng lên, chồm tới như con cọp phóng chụp mồi. Giữa mơ hồ mất kiểm soát, tử sinh tích tắc, tôi thoáng nhận ra trước mặt là thành cây cầu bắt qua sông.
Danh đi làm lúc 5 giờ sáng, ra về lúc 2 giờ trưa, từ sở làm đến đây khoảng 10 phút đường phi thuyền bay. Giờ này vắng khách. Những lúc khác, buôn bán khá bận rộn. Áo quần lót ở đây khắn khít thời trang, từ đồ ngủ may bằng vải lụa trong suốt, nhìn xuyên qua, cho đến hàng bằng kim loại nhẹ, mặc lên giống chiến sĩ thời xưa mang áo giáp nhưng chỉ lên giường. Hầu hết khách hàng đến đây vì Emily và Christopher. Người bàn hàng độc đáo. Họ đẹp, lịch sự, làm việc nhanh nhẹn, không lầm lỗi. Cả hai có trí nhớ phi thường. Không bao giờ quên tên khách. Nhớ tất cả món hàng của mỗi người đã mua. Nhớ luôn ngày sinh nhật và sở thích riêng. Ngoài ra, họ có thể trò chuyện với khách về mọi lãnh vực từ triết lý đến khoa học, từ chính trị đến luật pháp, từ du lịch đến nấu ăn… Khách hàng vô cùng hài lòng
Sau hơn ba mươi năm gắn bó với cuộc sống ở Mỹ, ông Hải và bà Lan quyết định về hưu và bắt đầu một chương mới của cuộc đời. Quyết định này, mặc dù bất ngờ với những người xung quanh, lại xuất phát từ một ước mơ giản dị-sống những ngày cuối đời an nhàn tại quê hương. Hai ông bà đã dành dụm được một khoản lương hưu kha khá, cộng thêm số tiền đầu tư từ kế hoạch lương hưu 401k, đủ để họ cảm thấy có thể an tâm sống thoải mái ở Việt Nam.
Mẹ chị vừa bước qua tuổi 90, cụ đã bắt đầu lẫn, không tự săn sóc mình và không dùng máy móc được nữa. Bố chị mới mất cách đây hai năm và Mẹ chị xuống tinh thần rất nhanh sau khi Bố mất. Bắt đầu là buồn bã, bỏ ăn, thiếu ngủ, sau đi tới trầm cảm. Chị đi làm bán thời gian, giờ còn lại cả ngày chạy xe ngoài đường đưa đón mấy đứa nhỏ, hết trường lớp thì sinh hoạt sau giờ học. Chị không thể luôn ở bên Mẹ. Chị tìm được nhà già cho Mẹ rất gần trường học của con, lại gần nhà nữa, nên ngày nào cũng ghé Mẹ được, Mẹ chị chỉ cần trông thấy chị là cụ yên lòng.
Má ơi! Thế giới vô thường, thay đổi và biến hoại trong từng phút giây nhưng lòng con thương má thì không biến hoại, không thay đổi, không suy hao. Nguyện cầu ngày đêm cho má, hướng phước lành đến cho má. Cầu chư Phật, chư Bồ Tát, chư hiền thánh tăng ba đời mười phương gia hộ má vượt qua đau bệnh để sống an lạc trong những ngày tháng tuổi già bóng xế.
Truyện đầu tiên kể nơi đây là kể về một tiền kiếp của Đức Phật Thích Ca. Khi đó, ngài được gọi là một vị Bồ Tát. Ngày xưa rất là xưa, có hai người thợ săn, là hai vị thủ lĩnh của hai ngôi làng gần nhau. Hai vị trưởng làng đã lập một giao ước rằng nếu con của họ tình cờ khác giới tính, họ sẽ sắp xếp cho hai đứa con này kết hôn với nhau. Đó là một thời phần lớn hôn nhân là do sắp xếp của ba mẹ. Một vị trưởng làng có một cậu con trai được đặt tên là Dukūlakumāra, vì cậu bé được sinh ra trong một tấm vải bọc đẹp; vị trưởng làng kia có một cô con gái tên là Pārikā, vì cô bé được sinh ra ở bên kia con sông. Khi chàng trai và cô gái lớn lên, cha mẹ hai bên đã kết hôn cho hai người con này. Tuy nhiên, chàng trai Dukūlakumāra và cô gái Pārikā đã có nhiều kiếp tu, cùng giữ hạnh trong sạch, cho nên cô dâu và chú rể cùng cam kết bí mật với nhau rằng hai người sẽ ở chung nhà như vợ chồng, sẽ yêu thương nhau như vợ chồng nhưng sẽ không làm mất hạnh trong sạch của nhau.


Kính chào quý vị,

Tôi là Derek Trần, dân biểu đại diện Địa Hạt 45, và thật là một vinh dự lớn lao khi được đứng nơi đây hôm nay, giữa những tiếng nói, những câu chuyện, và những tâm hồn đã góp phần tạo nên diện mạo văn học của cộng đồng người Mỹ gốc Việt trong suốt một phần tư thế kỷ qua.
Hai mươi lăm năm! Một cột mốc bạc! Một cột mốc không chỉ đánh dấu thời gian trôi qua, mà còn ghi nhận sức bền bỉ của một giấc mơ. Hôm nay, chúng ta kỷ niệm 25 năm Giải Viết Về Nước Mỹ của nhật báo Việt Báo.

Khi những người sáng lập giải thưởng này lần đầu tiên ngồi lại bàn thảo, họ đã hiểu một điều rất căn bản rằng: Kinh nghiệm tỵ nạn, hành trình nhập cư, những phức tạp, gian nan, và sự thành công mỹ mãn trong hành trình trở thành người Mỹ gốc Việt – tất cả cần được ghi lại. Một hành trình ý nghĩa không những cần nhân chứng, mà cần cả những người viết để ghi nhận và bảo tồn. Họ không chỉ tạo ra một cuộc thi; họ đã và đang xây dựng một kho lưu trữ. Họ thắp lên một ngọn hải đăng cho thế hệ sau để chuyển hóa tổn thương thành chứng tích, sự im lặng thành lời ca, và cuộc sống lưu vong thành sự hội nhập.

Trong những ngày đầu ấy, văn học Hoa Kỳ thường chưa phản ánh đầy đủ sự phong phú và đa dạng về kinh nghiệm của chúng ta. Giải thưởng Viết Về Nước Mỹ thực sự đã lấp đầy khoảng trống đó bằng sự ghi nhận và khích lệ vô số tác giả, những người đã cầm bút và cùng viết nên một thông điệp mạnh mẽ: “Chúng ta đang hiện diện nơi đây. Trải nghiệm của chúng ta là quan trọng. Và nước Mỹ của chúng ta là thế đó.”


Suốt 25 năm qua, giải thưởng này không chỉ vinh danh tài năng mà dựng nên một cộng đồng và tạo thành một truyền thống.
Những cây bút được tôn vinh hôm nay không chỉ mô tả nước Mỹ; họ định nghĩa nó. Họ mở rộng giới hạn của nước Mỹ, làm phong phú văn hóa của nước Mỹ, và khắc sâu tâm hồn của nước Mỹ. Qua đôi mắt họ, chúng ta nhìn thấy một nước Mỹ tinh tế hơn, nhân ái hơn, và sau cùng, chân thật hơn.

Xin được nhắn gửi đến các tác giả góp mặt từ bao thế hệ để chia sẻ tấm chân tình trên các bài viết, chúng tôi trân trọng cảm ơn sự can đảm của quý vị. Can đảm không chỉ là vượt qua biến cố của lịch sử; can đảm còn là việc ngồi trước trang giấy trắng, đối diện với chính mình, lục lọi ký ức đau thương sâu đậm, và gửi tặng trải nghiệm đó đến tha nhân. Quý vị là những người gìn giữ ký ức tập thể và là những người dẫn đường cho tương lai văn hóa Việt tại Hoa Kỳ.

Với Việt Báo: Xin trân trọng cảm ơn tầm nhìn, tâm huyết, và sự duy trì bền bỉ giải thưởng này suốt một phần tư thế kỷ.
Khi hướng đến 25 năm tới, chúng ta hãy tiếp tục khích lệ thế hệ kế tiếp—những blogger, thi sĩ, tiểu thuyết gia, nhà phê bình, nhà văn trẻ—để họ tìm thấy tiếng nói của chính mình và kể lại sự thật của họ, dù đó là thử thách hay niềm vui. Bởi văn chương không phải là một thứ xa xỉ; đó là sự cần thiết. Đó là cách chúng ta chữa lành, cách chúng ta ghi nhớ, và là cách chúng ta tìm thấy nơi chốn của mình một cách trọn vẹn.

Xin cảm ơn quý vị.

NHẬN TIN QUA EMAIL
Vui lòng nhập địa chỉ email muốn nhận.