Hôm nay,  

Về Florida Thăm Nhà Cũ, Trường Xưa

1/2/202609:38:00(View: 786)

 

Dịp nghỉ lễ cuối năm 2025, vợ chồng tôi trở lại thành phố St. Petersburg sau 37 năm, tìm về căn nhà cũ và trường xưa của bà xã tôi.

 

Đầu năm 1987, nhà tôi rời trại tị nạn Galang, Indonesia đi Mỹ định cư sau hành trình vượt biển nhiều lần và đã từng bị công an bắt giam cả tháng.

 

Gia đình vượt biển trong năm 1985, ba của Hương đi trước, đem theo hai người con lớn. Má đi sau mấy tháng với hai người con còn lại và may mắn cả nhà đã đến các đảo của Indonesia, trước khi được chuyển vào trại chuyển tiếp Galang dưới sự điều hành của Cao ủy Tị nạn Liên Hiệp Quốc. Ở đây, người vượt biển được gặp nhân viên di trú của Hoa Kỳ, Úc, Canada, Hà Lan, Đức, Nhật để phỏng vấn định cư. Mỗi lần bị phái đoàn từ chối nhận là một nỗi buồn, nhưng ai cũng kiên nhẫn chờ đợi cho lần phỏng vấn kế tiếp.

BuiVanPhu_2025_1231_CuoiNam_H01_NhaCu

Tác giả và bà xã chụp ảnh trước ngôi nhà nơi gia đình vợ từng sống 37 năm trước đây (Ảnh: Bùi Văn Phú)

 

 

Vào cuối thập niên 1980, thời gian ở trại của một người tị nạn ít nhất cũng là một năm, trung bình là hai năm và có những người đã phải ở lâu hơn, vì trục trặc hồ sơ hay vì có bệnh lao.

 

Gia đình bà xã được Hoa Kỳ nhận cho định cư. Chuẩn bị lên đường đi Mỹ, nhưng đã gặp những trở ngại vào giờ chót.

 

Nếu mọi chuyện như dự định, gia đình đã lên đường định cư từ tháng 9/1986, nhưng người bảo trợ ở Denver, Colorado vào phút chót đã không tiếp tục hoàn tất hồ sơ để đón qua Mỹ. Lần thứ hai, cả nhà đã ra cầu tàu, sắp xuống tàu rời Galang thì cô em gái bị mạt cưa làm đỏ mắt nên lại không được lên đường, vì chính phủ Singapore không cho người bị đỏ mắt quá cảnh bên đó. Thế là phải trở về trại, nhận lại nồi niêu, chén bát vừa cho hết hàng xóm, tiếp tục cuộc sống trong trại với nhiều lo âu không biết ngày nào mới có thể rời đảo.

 

Lần thứ ba, đầu tháng 1/1987, gia đình rời Galang qua Singapore, có tôi đón tại cầu tàu. Chuyến tàu đó, ngoài gia đình Hương còn có linh mục Tống Kiến Hùng, gia đình ông Lê Bé là những người tôi quen trong trại đi định cư ở California. Vào trại chuyển tiếp Hawkins Road ở vài ngày chờ chuyến bay đi Mỹ. Như với nhiều thuyền nhân từ Galang đã qua đây, tôi đưa Hương đi chơi Singapore một ngày, rồi ra phi trường Changi tiễn gia đình đi Mỹ định cư. Còn tôi đi Bangkok nhận công việc mới, cũng làm cho chương trình giáo dục tị nạn.

Gia đình được cơ quan Bác ái Công giáo (USCC) bảo trợ về thành phố St. Petersburg, Florida định cư. Có sơ Yến giúp đỡ ổn định chỗ ở, làm các thủ tục giấy tờ, ghi danh học tiếng Anh ESL cho ba mẹ, nhập học các trường cho bốn chị em.

 

USCC thuê cho gia đình một căn nhà hai phòng ngủ, một phòng tắm ở số 731 17th Street N., St. Petersburg, bên cạnh có gia đình ông Liêm Nguyễn đến sống đã vài năm. Cũng ở thành phố này còn có gia đình bác Mai Văn Hòa, từ Galang đến định cư vài tháng trước.

 

Nhà tôi và em trai kế vào trường Northeast High School. Hai em nhỏ học tiểu học và cấp hai. Đi học nếu không có người đưa đón thì đi xe buýt vàng của trường.

 

Sau vài tháng quen dần với cuộc sống mới, ba đi làm phụ bếp ở nhà hàng, cuối tuần Hương theo má đi dọn phòng trong khách sạn.

 

Năm 1988, tôi trở lại Hoa Kỳ, về thăm gia đình Hương và cũng tìm việc ở khu vực Tampa-St. Petersburg, có gặp bà Thanh Đồng Ingall là người sống ở đây lâu năm hướng dẫn tìm việc làm trong lãnh vực xã hội và giáo dục.

 

Nhưng rồi vùng Vịnh San Francisco mời gọi tôi trở về, làm việc với Hội Ngư phủ ở Oakland, giám đốc là anh Phạm Minh Chiếu. Tôi phụ trách giúp tìm việc làm cho những người mới đến định cư.

 

Hè năm 1988, gia đình Hương từ giã vùng Vịnh Tampa, Florida dọn về vùng Vịnh San Francisco, California. Chúng tôi kết hôn với nhau năm 1992.

 

Ba mươi bảy năm sau, chúng tôi trở lại St. Petersburg. Căn nhà xưa đã được sửa lại, hai căn, trước đây gia đình ông Liêm và gia đình Hương ở, đã nhập với nhau thành một. Theo sàn giao dịch bất động sản Zillow, giá căn nhà bây giờ là 340.000 đô la.

 

Năm 1987, ông Liêm đã mua nhà riêng, sau mấy năm định cư. Căn nhà ba phòng ngủ hai phòng tắm, cách nhà cũ chừng dăm phút lái xe, giá 50.000 đô la.

 

Ngôi nhà cũ bây giờ có hàng rào gỗ chung quanh, không còn nhiều cây cao xum xuê trước sân. Kín cổng và không thấy ai ngoài sân. Gặp người láng giềng ở đối diện, chúng tôi hỏi thăm, ông nói chắc chủ nhà đi chơi. Ông kể là căn nhà kế cận, bây giờ là một Art Studio mới bán với giá 700.000 đô la vào năm ngoái. Trước đó dăm năm đó là một căn nhà hư hỏng bán chưa đến 50.000 đô.

 

Sau khi nhìn lại nhà cũ, chúng tôi đến trường Northeast High School. Vì là dịp lễ nghỉ nên trường đóng cửa. Từ ngoài nhìn vào, nhà tôi thấy sân trường vẫn quen thuộc, là nơi học sinh ngồi ăn trưa.

 

Những thầy cô dạy Anh ngữ và toán còn lưu lại nhiều kỷ niệm và lòng biết ơn trong tim bà xã vì lúc bấy giờ tiếng Anh còn yếu nhưng được thầy cô hết lòng giúp đỡ, khuyến khích học tập, giờ toán hay được gọi lên bảng giải bài mẫu cho bạn học làm theo. Ở trường khi đó có vài chục học sinh Việt, nhiều em qua Mỹ đã lâu nên rất thời thượng với tóc punk, quần ống túm mà rộng trên đùi.

 

Theo số liệu của Cục Thống kê Dân số Hoa Kỳ, năm 1990 có 1.000 người Việt ở St. Petersburg và 600 ở Tampa. Đến nay con số lên đến 21.000 cho toàn vùng Vịnh Tampa, gồm các thành phố Pinellas Park, St. Petersburg, Tampa, Largo, Clearwater. Một số làm việc cho các hãng xưởng, nhiều người làm móng tay. Có người đi câu, lưới cá về bán hay buôn bán rau trái.

BuiVanPhu_2025_1231_CuoiNam_H02_ChoNongSan
H02: Chợ nông sản với nhiều cây trái Việt ở Clearwater, Florida (Ảnh: Bùi Văn Phú)



Những ngày ở đây chúng tôi đi chợ trời cuối tuần, có hàng quán bán cháo lòng, bún mắm, nước mía. Cuối tháng 12 dương lịch mà có nhiều trái cây quê nhà như na, sapôchê, mít, vú sữa, ô ma, nhãn, xoài, ổi, cóc, khế; các loại rau muống, rau mồng tơi, rau dền, mướp hương. Rau tương đối rẻ còn trái cây nếu so với California thì không. Sapôchê, nhãn 5 đô một cân Anh, na nhỏ 8 đô, na lớn 15 đô một cân, vú sữa hai trái 8 đô 50 xu. Cây me non, cao chừng một mét có người mua với giá 40 đô.

 

Nhà hàng có phở Zen, khá ngon. Cơm tấm bì, bún thịt nướng ở quán Kiên Giang rất ngon và đông khách lúc hai, ba giờ chiều. Không như bên California, vào quán Việt gọi thức ăn, trong vòng 5 phút là có ngay, ở đây có thể vì thiếu người phục vụ nên khách phải chờ cũng khá lâu, hay nếp sống ở Florida chậm rãi hơn nên mọi thứ không nhanh, chớp nhoáng như ở California?

 

Trong vùng Vịnh Tampa nay có nhiều xứ đạo Công giáo và chùa Phật giáo. Các cơ sở tôn giáo đều tọa lạc trên những khu đất rộng. Chùa Phật Pháp ở St. Petersburg theo phái Theravada, trước chùa có nhiều tượng Phật và những hàng tre xanh mang lại khung cảnh rất Việt Nam.

 

Chủ nhật dự lễ ở nhà thờ Thánh Giuse của riêng người Công giáo gốc Việt ở Tampa. Trong bài giảng, cha chính xứ Đinh Xuân Chiến, dòng Ngôi Lời SVD, nhắc đến nhiều đóng góp cho giáo xứ của những gia đình làm đẹp móng tay, mái tóc.

BuiVanPhu_2025_1231_CuoiNam_H03_NhaThoCacThanhTuDao
Nhà thờ Các Thánh Tử đạo Việt Nam ở St. Petersburg, Florida (Ảnh: Bùi Văn Phú)

 

Khi tôi sống ở đây đôi tháng vào năm 1988, lúc đó có cha Tước phục vụ cộng đồng Công giáo trong một giáo xứ Mỹ của Giáo phận St. Petersburg. Nay thành phố này đã có nhà thờ Các Thánh Tử đạo Việt Nam với cha chính xứ Nguyễn Vũ Việt từ nhiều năm qua. Giáo xứ không chỉ là nơi sinh hoạt tôn giáo cho 500 gia đình mà còn là cơ sở giáo dục, có chương trình học tiếng Việt và giúp học sinh ôn bài, làm bài tập sau giờ học.

 

Ghé thăm mới được biết cha chính xứ là cháu của linh mục Nguyễn Văn Lý, một người tranh đấu cho tự do tôn giáo và nhân quyền đã bị Hà Nội giam tù nhiều năm. Không hẹn trước nhưng chúng tôi đã được cha đón tiếp, cho biết về các sinh hoạt của cộng đoàn giáo dân ở St. Petersburg, như đại hội tôn kính các Thánh Tử đạo cuối tháng 11 vừa qua.

 

Khác với California là nơi không có giáo xứ Việt, ở Florida linh mục Việt có thể lập giáo xứ riêng và tự lo điều hành mọi việc với sự đóng góp của giáo dân. Vì thế ở đây đã có các linh mục khai sinh ra giáo xứ và làm chánh xứ cả chục năm hay lâu hơn.

 

Trước khi ra về, cha Việt tặng chúng tôi mấy trái khế, cây nhà lá vườn của người trong giáo xứ. Khế ngọt, có lẽ cũng là loại trái được dân địa phương ưa chuộng vì trong siêu thị Publix có bán, giá 3-4 đô một trái.

 

Hỏi chúng tôi về hưu có tính trở lại đây sống vì cha cũng biết bán nhà ở California về St. Petersburg thì dành một nửa mua nhà, nửa còn lại cộng với tiền an sinh xã hội là sống hưu thoải mái với khí hậu ấm áp quanh năm như ở Việt Nam và cây trái, rau cỏ quê nhà cũng không thiếu.

 

Một lần nữa giã từ St. Petersburg.

BuiVanPhu_2025_1231_CuoiNam_H04_BienSiesta_Sarasota
Bãi biển Siesta ở thành phố Sarasota, Florida đông du khách trong ngày cuối năm dương lịch (Ảnh: Bùi Văn Phú)

 

Mấy ngày qua, ghé thăm nhà xưa, trường cũ, gặp gỡ nhiều người cho chúng tôi hiểu biết hơn về vùng Vịnh Tampa. Nhất là có dịp ra biển ở Clearwater, ở Sarasota mà mê cát trắng mịn như bột và nước xanh màu ngọc bích nên sẽ trở lại trong một ngày không xa, làm khách du lịch vui cùng sóng nước biển xanh. Không như đã đi xa 37 năm mới trở về trong chuyến đi vừa qua.

 
Bùi Văn Phú

Tác giả Bùi Văn Phú là giảng viên đại học cộng đồng và nhà báo tự do từ vùng Vịnh San Francisco, California

 

Send comment
Vui lòng nhập tiếng Việt có dấu.Cách gõ tiếng Việt có dấu ==> https://youtu.be/ngEjjyOByH4
Your Name
Your email address
)
Rõ ràng thằng bé đã thức. Nhưng khi An bước đến bên giường, mắt cu cậu nhắm tịt lại vờ như đang ngủ. An cù vào nách con : — Giả bộ này. Giả bộ này… / Bin uốn éo người, cười khanh khách. An xốc con dậy, hôn vào đôi má phúng phính: / — Con đánh răng rồi ti sữa cho ngoan nhé. Mẹ đi làm đây. / Bin choàng vòng tay nhỏ xíu quanh cổ mẹ, giọng ngọng nghịu: / — Mẹ ứ đii… / Bà đưa tay đỡ lấy cu Bin: / — Sang đây bà bế. Chiều mẹ lại về với Bin nào. / Chỉ nũng nịu với mẹ chút thôi, chứ Bin rất ngoan. Chưa bao giờ em khóc nhè, vòi vĩnh như những đứa trẻ khác. Sự hiểu chuyện của con, nhiều khi làm An nghe buốt lòng.
Chiếc ghế đá hầu như rất quen thuộc, dù nó cũng như mọi chiếc ghế khác trong công viên. Tháng Sáu. Bầy ve kêu inh ỏi. Chúng vô tư thật! Đoan ngồi xuống. Mấy buổi chiều nay, tan học, Đoan ghé khu vườn rộng lớn này, như một người trở về, cảm giác thật khó tả. Chợt nghe trong đầu vẳng lại lời của một bài thơ:
Cuộc đời trung úy Đỗ Lệnh Dũng, một sĩ quan VNCH, là biểu tượng bi tráng của lòng trung thành, khí phách giữa chiến tranh tàn khốc, và là minh chứng cho nỗi đau kéo dài của những người lính và thương phế binh miền Nam sau cuộc chiến.
Lớn hơn anh Hợp một tuổi, tháng 4 năm 1975, anh Đăng chưa xong năm thứ nhất về Cơ khí ở Phú Thọ, vận nước xoay chiều, ba anh cũng phải đi "học tập cải tạo" như hơn ba trăm ngàn Sĩ quan QLVNCH. Là con trai đầu lòng, anh Đăng bỏ cả ước mơ, bỏ trường về quê, điền vào chỗ trống của người chủ gia đình mà ba anh bỏ lại. Anh sinh viên kính trắng của Phú Thọ bỗng chốc trở thành phụ xe, lơ xe, cũng đổi đời như gần hai chục triệu người dân miền Nam.
Bây giờ trời đã tối, nhiều người đi ngủ sớm. Bọn trẻ học bài dưới bóng ngọn đèn dầu ở ngoại ô, ngọn đèn đường gần bờ sông. Trước hàng rào kẽm gai, một người lính mang súng đi đi lại lại, một đôi tình nhân đi chơi về muộn. Ngọn đèn hỏa châu sáng bừng góc trời một lát rồi tắt. Người yêu quê hương đã đi ra khỏi mảnh đất của những hận thù dai dẳng mà vẫn muốn trở về. Người nông dân muốn cày lại thửa ruộng của mình. Người thợ sửa đồng hồ muốn ngồi lại cái ghế vải nhỏ thấp của mình sau tủ kiếng bày đồng hồ cũ và mới. Lò bánh mì chiếu sáng nhấp nhô bóng những đứa trẻ bán bánh mì đứng trước cửa sổ với bao tải lớn đựng bánh nóng mới ra lò. Con chim về ngủ muộn biến mất trong bụi cây chỗ anh đứng.
Em nằm im lặng nghe đêm thở | Tháng Tư mở đôi mắt trong đêm | Anh ạ, em nghe Tháng Tư khóc | Tháng Tư nhỏ những giọt lệ đen.(tmt)
Con người ngậm kín cái tốt vào lòng. Để khỏi mua lấy vạ hiềm nghi ghen ghét. Tôi nhìn đứa bé từ sau lưng, sự rung động khẽ của đôi vai nhỏ bé, vẻ hạnh phúc của cái gáy nhỏ xíu măng tơ. Phút này qua phút khác, có lẽ lâu lắm, cho đến khi đứa bé bắt đầu thỏa mãn, bú chậm lại, nhưng nó vẫn ôm lấy bầu ngực của người đàn bà lạ, ngủ thiếp đi.
Biển đêm như vô thức một màu đen mênh mông, nhưng biển chứa toàn bộ lịch sử con người từ lúc còn là tế bào phôi sống cho đến khi biến thành DNA, rồi từ thú vật tiến lên con người. Lịch sử đó đầy ngập dữ liệu nhưng chôn sâu dưới đáy nước. Hồi tưởng chỉ là những con sóng nổi dập dìu, cho dù sóng lớn dữ dằn trong bão tố vẫn không mang được hết đáy nước lên trên mặt. Vì vậy, biển lúc nào cũng bí mật. Vô thức cũng bí mật. Càng gây thêm khó khăn để chứng minh sự thật vì vô thức có khả năng biến đổi dữ liệu hồi tưởng. Chỉ những người thiếu bản lãnh mới tin vào trí nhớ của mình và của người khác. Nhưng toàn bộ nhân loại sống và tạo ra ý nghĩa hầu hết dựa vào bộ nhớ. Một số ít người hiểu rõ điều này, nhưng không làm gì khác hơn, vì hồi tưởng tự động và tự nhiên xuất hiện dù không đầy đủ, kể cả, khi con người kêu gọi ký ức đến, nó cũng đến trên xe lăn, hoặc chống nạn, hoặc bò lết như kẻ tàn tật.
Chiến tranh là một nỗi đau dằn vặt của nhân loại vì không ai muốn nó xảy ra, nhưng chiến tranh vẫn cứ xảy đến như một điều kiện cần thiết biện minh cho sự tồn tại của thế giới con người. Ngày Ba mươi tháng 4 năm 1975 là một cột mốc đánh dấu một biến cố chính trị trong lịch sử chính trị thế giới, ngày cuộc chiến tranh Việt Nam (1954-1975) chấm dứt.
Năm mươi năm nhìn lại, sau ngày 30 tháng 04, 1975, cái dấu mốc lịch sử đau thương của đất nước Việt Nam, nói chung, và người dân miền Nam nói riêng. Sự thật lịch sử về ngày này đã được phơi bày rõ ràng trên mọi phương tiện truyền thông, tin tức, và trong thế giới sử. Ai cũng đã rõ, phe thắng trận, sai, phe thua trận, đúng. Điều này không cần bàn cãi nữa; cho dù kẻ chiến thắng cố tình viết lại lịch sử Việt Nam theo ý mình khi sức mạnh của họ nằm trên nòng súng. Phe thua cuộc lại là phe thắng được nhân tâm.
Tháng Tư chuếnh choáng. Say chẳng phải vì rượu dẫu chỉ nhấp môi hoặc thậm chí trong đám bạn có kẻ chẳng uống giọt nào. Nhưng họ vẫn say như thường. Những hồi ức tháng Tư lần lượt xuất hiện như một chất men nhưng không thể làm người ta quên mà chỉ là giây phút hiếm hoi nhắc nhớ để rồi quên. Quên tạm thời nỗi niềm chất chứa mà không làm sao quên hẳn.
Hai tên đeo băng đỏ đưa tôi đến một căn nhà nằm trên đường Tôn Thất Thuyết. Nay mới biết là cơ sở kinh tài của Việt Cộng. Vào bên trong, tôi thấy có một số người bị bắt trước ngồi trên băng ghế đặt ở góc một phòng lớn rộng rãi. Họ ngước mắt nhìn tôi có vẻ ái ngại. Tôi biết những người ngồi đó là thành phần đặc biệt nằm trong danh sách tìm bắt của chúng. Nhìn họ, tôi thấy mấy người quen quen. Hình như họ là viên chức Chính Phủ trong tỉnh. Tôi được đưa đến ngồi cạnh họ. Tất cả đều im lặng, không ai nói với ai lời nào ngay cả khi bất chợt nhìn thấy tôi. Có lẽ im lặng để che đậy cái lý lịch của mình, làm như không quen biết nhau, nếu có khai láo cũng không liên lụy đến người khác.


Kính chào quý vị,

Tôi là Derek Trần, dân biểu đại diện Địa Hạt 45, và thật là một vinh dự lớn lao khi được đứng nơi đây hôm nay, giữa những tiếng nói, những câu chuyện, và những tâm hồn đã góp phần tạo nên diện mạo văn học của cộng đồng người Mỹ gốc Việt trong suốt một phần tư thế kỷ qua.
Hai mươi lăm năm! Một cột mốc bạc! Một cột mốc không chỉ đánh dấu thời gian trôi qua, mà còn ghi nhận sức bền bỉ của một giấc mơ. Hôm nay, chúng ta kỷ niệm 25 năm Giải Viết Về Nước Mỹ của nhật báo Việt Báo.

Khi những người sáng lập giải thưởng này lần đầu tiên ngồi lại bàn thảo, họ đã hiểu một điều rất căn bản rằng: Kinh nghiệm tỵ nạn, hành trình nhập cư, những phức tạp, gian nan, và sự thành công mỹ mãn trong hành trình trở thành người Mỹ gốc Việt – tất cả cần được ghi lại. Một hành trình ý nghĩa không những cần nhân chứng, mà cần cả những người viết để ghi nhận và bảo tồn. Họ không chỉ tạo ra một cuộc thi; họ đã và đang xây dựng một kho lưu trữ. Họ thắp lên một ngọn hải đăng cho thế hệ sau để chuyển hóa tổn thương thành chứng tích, sự im lặng thành lời ca, và cuộc sống lưu vong thành sự hội nhập.

Trong những ngày đầu ấy, văn học Hoa Kỳ thường chưa phản ánh đầy đủ sự phong phú và đa dạng về kinh nghiệm của chúng ta. Giải thưởng Viết Về Nước Mỹ thực sự đã lấp đầy khoảng trống đó bằng sự ghi nhận và khích lệ vô số tác giả, những người đã cầm bút và cùng viết nên một thông điệp mạnh mẽ: “Chúng ta đang hiện diện nơi đây. Trải nghiệm của chúng ta là quan trọng. Và nước Mỹ của chúng ta là thế đó.”


Suốt 25 năm qua, giải thưởng này không chỉ vinh danh tài năng mà dựng nên một cộng đồng và tạo thành một truyền thống.
Những cây bút được tôn vinh hôm nay không chỉ mô tả nước Mỹ; họ định nghĩa nó. Họ mở rộng giới hạn của nước Mỹ, làm phong phú văn hóa của nước Mỹ, và khắc sâu tâm hồn của nước Mỹ. Qua đôi mắt họ, chúng ta nhìn thấy một nước Mỹ tinh tế hơn, nhân ái hơn, và sau cùng, chân thật hơn.

Xin được nhắn gửi đến các tác giả góp mặt từ bao thế hệ để chia sẻ tấm chân tình trên các bài viết, chúng tôi trân trọng cảm ơn sự can đảm của quý vị. Can đảm không chỉ là vượt qua biến cố của lịch sử; can đảm còn là việc ngồi trước trang giấy trắng, đối diện với chính mình, lục lọi ký ức đau thương sâu đậm, và gửi tặng trải nghiệm đó đến tha nhân. Quý vị là những người gìn giữ ký ức tập thể và là những người dẫn đường cho tương lai văn hóa Việt tại Hoa Kỳ.

Với Việt Báo: Xin trân trọng cảm ơn tầm nhìn, tâm huyết, và sự duy trì bền bỉ giải thưởng này suốt một phần tư thế kỷ.
Khi hướng đến 25 năm tới, chúng ta hãy tiếp tục khích lệ thế hệ kế tiếp—những blogger, thi sĩ, tiểu thuyết gia, nhà phê bình, nhà văn trẻ—để họ tìm thấy tiếng nói của chính mình và kể lại sự thật của họ, dù đó là thử thách hay niềm vui. Bởi văn chương không phải là một thứ xa xỉ; đó là sự cần thiết. Đó là cách chúng ta chữa lành, cách chúng ta ghi nhớ, và là cách chúng ta tìm thấy nơi chốn của mình một cách trọn vẹn.

Xin cảm ơn quý vị.

NHẬN TIN QUA EMAIL
Vui lòng nhập địa chỉ email muốn nhận.