Hôm nay,  

Bố Ơi, Đi Lăng Quăng Thôi!

21/11/202500:00:00(Xem: 1067)

đi-lăng-quăng-
 
Tôi học được cụm động từ “đi lăng quăng” của bố Sỹ vào những ngày còn học tiểu học. Sau giờ tan trường hay vào cuối tuần, thỉnh thoảng bố lại hỏi mấy thằng con trai: “Có đi lăng quăng không?” Dĩ nhiên là có rồi! Ngồi ở thùng xe phía sau chiếc Daihatsu, chúng tôi theo bố đi giao sách ở những tiệm sách, sạp báo ở trung tâm Sài Gòn. Cũng có khi chỉ là ra một công viên, chúng tôi được chạy nhảy, trong khi bố ngồi trên xe viết lách. Không rõ có bao nhiêu tác phẩm của Doãn Quốc Sỹ được viết trong hoàn cảnh này.
 
Rồi cụm từ “đi lăng quăng” trở lại sau gần một nửa thế kỷ. Ở căn nhà Lampson thành phố Garden Grove, mỗi chiều tôi đi làm về ghé qua, bố đã ngồi đợi trước cửa. Thấy tôi đến, bố hỏi ngay: “Có đi lăng quăng không?” Thế là hai bố con bắt đầu hành trình “lăng quăng” đúng nghĩa, qua những khu dân cư ở gần nhà. Đi không có phải là để đến một nơi chốn nào đó. Đi chỉ để mà đi, để hai bố con có thì giờ ngồi bên nhau trò chuyện. 50 năm trước, bố chở con đi; 50 năm sau đổi ngược lại. Cuộc đời xoay vòng là vậy…
 
Hành trình “lăng quăng” của hai bố con trong một hai năm nay chỉ khoảng ba dặm, do sức khỏe của bố xuống nhiều. Chủ yếu là quanh block đường Dale-Chapman-Magnolia-Lampson. Hồi còn minh mẫn, bố đặt tên block đường này là “Đợi- Chờ- Mặc Nó Líu Lo- Lắm Sự” (theo cách đọc trại sang tiếng Việt tên của bốn con đường). Bố tỏ ra thích thú với việc đặt tên Việt “tiếu lâm” cho những con đường mà mình đi qua. Đường Katella có tên Việt là “Kể Tên Lạ”; Bushard là “Bút Sa Gà Chết”…
 
Hành trình ba dặm có vẻ ngắn, kéo dài khoảng nửa giờ, nhưng đủ để bố ôn lại những điều vẫn nhớ ở tuổi 103. Tai gần như điếc, mắt chỉ còn thấy lờ mờ, những điều hai bố con nói với nhau là những câu chuyện lập đi lập lại trong nhiều năm qua. Những câu chuyện có liên quan đến một đời người kéo dài hơn một thế kỷ; sinh ra lớn lên ở một ngôi làng ngoại thành Hà Nội; di cư vào Nam để viết văn, dạy học; cho đến khi nhắm mắt lìa đời ở miền Nam Cali.
 
Bố vẫn nhớ làng Cót có cây si đầu làng chứ không phải cây đa. Đi từ đầu làng vào sẽ qua miếu Chợ, miếu Chùa, mộ Vua, miếu Cả, ao Cậy, ao Cầu… Đầu làng có con sông Tô Lịch; nay đã thành ruộng rau muống, nên bố đọc lại 4 câu thơ:
Sông xưa giờ đã nên đồng
Chỗ làm nhà cửa chỗ trồng ngô khoai
Đêm nghe tiếng ếch bên tai
Giật mình còn tưởng tiếng ai gọi đò…
 
Rồi từ làng Cót, bố liên tưởng đến làng Láng của mẹ, cách nhau chỉ khoảng hai cây số, nơi có ngôi nhà với khu vườn bao quanh bốn mặt của cụ nhạc phụ Tú Mỡ có tám người con:
Năm trai ba gái tám tên
Trung, Hiền, Thảo, Dũng, Hùng, Chuyên, Vĩ, Cường
 
“…Cả tám người đều ra người thiên cổ cả rồi…Bố con mình không ai nằm mơ thấy mẹ; chắc là mẹ về với cõi Phật rồi. Người sống hiền đức cả đời thì phải về cõi Phật thôi…” Bố vẫn nói vậy…
 
Nhắc đến Tú Mỡ, bố nhắc Việt Nam có hai nhà thơ tên Hiếu: Tú Mỡ Hồ Trọng Hiếu, và Tản Đà Nguyễn Khắc Hiếu, là người Sơn Tây, nơi có núi Tản Viên, sông Đà Giang, cho nên lấy bút hiệu là Tản Đà. Rồi bố đọc một lèo bài Thề Non Nước từ câu đầu “Nước non nặng một lời thề…” cho đến câu kết “…Non non nước nước không nguôi lời thề…”, và kết luận rằng bài thơ có  “…vũ trụ nhân sinh quan trùng trùng duyên khởi…”
 
Bố nhớ ngày xưa học trung học ở Hà Nội có thầy là cụ Vũ Đình Liên, nhà thơ nổi tiếng với bài thơ bất hủ Ông Đồ Già. Bố đọc dõng dạc bài thơ, ngân nga dài giọng ở hai câu cuối: “Những người muôn năm cũ, hồn ở đâu bây giờ…”
 
Bạn bè văn nghệ thì nhóm Sáng Tạo là nhất. “Thất tinh nay chỉ còn nhị tinh” là Trần Thanh Hiệp và Doãn Quốc Sỹ. Năm người ra thiên cổ là Mai Thảo, Ngọc Dũng, Duy Thanh, Thanh Tâm Tuyền, Nguyễn Sỹ Tế. Trong đó bác Mai Thảo là tếu nhất. “Ngài” có bài thơ bất hủ là:
Thế giới có triệu điều không hiểu
Càng hiểu không ra lúc cuối đời
Chẳng sao khi đã nằm trong đất
Nhìn ở sao trời sẽ hiểu thôi
 
Bố cười đắc chí: “Bây giờ thì Ngài đã hiểu rồi!...”
 
Bố rất thích bài thơ ghép chung với chú Nguyễn Đình Toàn. Bốn câu đầu của chú Toàn:
Lúa Thủ Thiêm ngọn chìm ngọn nổi
Gió xa lộ lúc thổi lúc ngưng
Gặp nhau tay bắt mặt mừng
Vui thì vui vậy biết chừng nào xa…
 
Sáu câu sau là của bố:
Đỉnh trời vằng vặc gương nga
Long lanh soi tỏ lòng ta lòng mình
Gương trong mình lại soi mình
Thấy tình thăm thẳm, thấy hình phù du
Nẻo đời gió bụi kỳ khu
Biết ai còn mất tình thu võ vàng
Sáu câu này được in lại trong thư cảm tạ trong tang lễ của bố; là tâm tình biệt ly với người đi xa, như bố giải thích: “…thoạt đầu là lạc quan vì tin rằng người đi xa nhưng tình thì vẫn luôn còn mãi; nhưng nói vậy chỉ là để dối lòng thôi, chứ kẻ ở vẫn cứ man mác buồn…”
 
Bạn bè văn nghệ bố cũng thường nhắc đến Nhã Ca, Trần Dạ Từ, hỏi tôi giờ đang ở đâu. Khi tôi trả lời Thụy Điển, bố gật gù “Bắc Âu quanh năm tuyết phủ trắng xóa…”
 
Bố rất tâm đắc với nghề đi dạy học của mình. Dạy ở ba trường đại học là Sư Phạm, Văn Khoa, Vạn Hạnh, nên học trò đông vô số kể. “…Lương nhà giáo thì thanh đạm thôi, nhưng tình thầy trò là vô giá…”
 
Bố vẫn thuộc lòng một số bài ca dao. Khi đọc hết bài:
Hôm qua tát nước đầu đình
Bỏ quên cái áo trên cành hoa sen….
…Giúp em quan tám tiền cheo
Quan năm tiền cưới lại đèo buồng cau.
Bố dí dỏm kết luận: “Giúp thế anh là chú rể rồi còn gì! Cô gái sẽ nguýt và mắng là nỡm! Cà chớn!...”
 
Đi tù 12 năm, nhưng không nghe bố kể sống trong tù cực khổ ra sao, chỉ thường nói: “… Bố ở tù cộng sản hai lần, một lần bốn năm, một lần tám năm. Nghiệp nặng đã trả xong, bây giờ vui với con cháu…”
 
Hai bố con thường ghé vào chùa Quán Thế Âm trên đường Magnolia. Một chị làm công quả ở chùa biết ông già 100 tuổi hầu như ngày nào cũng vào chùa lễ Phật, phục lăn. Thấy bố đến, chị đon đả ra chào, rồi giới thiệu với những Phật tử viếng chùa, nói rằng hình ảnh hai bố con dắt nhau đi chùa làm chị rất ngưỡng mộ. Khi lễ Quan Âm, thường thì tôi đọc trước, bố đọc theo: “Nam Mô Đại Bi Quan Thế Âm Bồ Tát”. Nhưng có những ngày như trong tiềm thức vọng về, bố niệm dõng dạc theo cách riêng của mình: “Nam Mô tầm thinh cứu khổ cứu nạn linh cảm Đại Từ Đại Bi Quan Thế Âm Bồ Tát; Nam Mô Đại Thế Chí Bồ Tát; Nam Mô Đại Nguyện Địa Tạng Vương Bồ Tát”.
 
Gần 10 năm, hành trình “đi lăng quăng” và câu chuyện chỉ có thế. Không thấy phiền muộn, chỉ toàn niềm vui. Nó có thay đổi theo sức khỏe yếu dần của bố. Khi bắt đầu quên nhiều hơn, bố nghe tôi “nhắc tuồng” vài chữ đầu trong mỗi câu chuyện để nói theo. Vài tuần trước khi mất, khi bố nắm tay tôi để bước đi, tôi cảm giác được sức tựa ngày càng nặng hơn.
 
Một tuần trước khi mất, một chiều tôi đến để rủ “đi lăng quăng”, bố vẫn nằm trong giường. Tôi ngồi cạnh hỏi to: “Bố ơi, đi lăng quăng không?” Bố vẫn nhắm mắt, trả lời “Không!” Hỏi ba lần đều trả lời như vậy, điều chưa bao giờ xảy ra với tác giả của truyện “Đi”. Tôi biết ngày đó đang tới gần…
 
Dạo gần đây thỉnh thoảng bố ôm bụng, nhăn mặt, nhưng hỏi thì bảo không đau. Thứ Sáu 10 tháng 10, y tá tới nhà khám, không định ra bệnh, đề nghị đưa vào nhà thương để chẩn đoán. Trưa Thứ Bảy gọi 911 đưa vào bệnh viện West Anaheim. Sau khi CT scan, bác sĩ cho biết có một khối u ở ruột già có thể làm nghẽn đường tiêu hóa, hỏi gia đình có muốn chữa trị không? Các con đều đồng ý là không chữa trị, chỉ cần giảm đau. Chủ Nhật bắt đầu tiêm morphine. Thứ Hai bố bắt đầu thở nặng kiểu người hấp hối, gia đình dự định mời các sư cô chùa Đại Bi đến vào sáng hôm sau để đọc kinh cầu an. 9:55 phút sáng Thứ Ba, tôi vẫn còn nắm tay bố niệm Phật, thấy hơi thở của bố đã nhẹ lắm rồi. Sau đó, tôi đi xuống cổng bệnh viện để đón hai sư cô đến lúc 10:00. Khi đi thang máy lên phòng ở lầu ba, sư cô còn hỏi “Hôm nay là cầu an hay cầu siêu?” Tôi trả lời “cầu an” vì bố còn sống. Lên đến giường bệnh thì bố đã ra đi lúc 10:05 ngày 14 tháng 10. Lễ cầu siêu diễn ra ngắn gọn ngay sau đó.
 
Lúc đó trời Nam Cali bỗng dưng đổ cơn mưa như để gột sạch đường trần thế…
 
Tôi nhớ vào tối Chủ Nhật ngồi bên giường bệnh, nắm tay bố để niệm “Nam Mô A Di Đà Phật”. Thỉnh thoảng, tôi ghé vào tai bố nói rằng: “Bố sống đời hiền đức, nay bố ra đi bình an, bố nhớ theo ánh sáng của Phật Di Đà…” Tay tôi nắm tay phải của bố để hộ niệm. Chỉ ít phút sau, tự nhiên bố đưa tay trái sang nắm chặt tay của tôi. Giống như cái nắm tay lúc “đi lăng quăng”. Cái nắm tay lúc cận tử thật chân tình. Tôi cảm nhận được sự bình an truyền sang cho mình…
 
Trăm năm một đời người của bố kết thúc nhẹ nhàng như thế. Sống cả đời lo cho con, cuối đời chẳng làm phiền con cháu, lúc ra đi cũng vậy…
 
Nhạc sĩ Trịnh Công Sơn viết lời ca “…Đi đâu loanh quanh cho đời mỏi mệt…”
 
Nhạc sĩ Phạm Duy viết trong Rong Khúc về hành trình sau cái chết của mình “…Ta vứt sau ta những nẻo đường trần, Ta vút bay theo những nẻo đường tiên…”
 
Bố tôi thì thích “đi lăng quăng” lúc cuối đời. Đi chỉ để mà đi, thong dong, an nhiên, tự tại. Sau một ngày làm việc, “đi lăng quăng” không phải là bổn phận của con đối với bố, mà là những giây phút tôi tìm thấy an lạc cho chính mình.
 
“Đi lăng quăng” là cách nói giản dị, khôi hài kiểu của bố. Nhưng cả cuộc đời của bố là một con đường thẳng tắp, thanh thản đi qua một thế kỷ bể dâu của dân tộc. Tôi nhớ lại lời bố nói về mẹ: “Người sống hiền đức cả đời thì phải về cõi Phật thôi…”
 
Tạm biệt bố. Ở một thế giới nào đó, rồi hai bố con sẽ lại có dịp “đi lăng quăng” với nhau…
 
Doãn Hưng
14/11/2025
 

Ý kiến bạn đọc
05/12/202502:21:32
Khách
Cầu cho linh hồn của cụ sớm về miền an lành cực lạc. Tôi chưa từng được gặp cụ, nhưng cũng đã được đọc một vài truyện do cụ sáng tác. Những người tài hoa, nhân hậu như cụ đã và đang để lại cho chúng ta những bài học đáng suy gẫm về một tâm hồn Việt Nam khao khát tìm về Chân-Thiện-Mỹ.
21/11/202512:55:13
Khách
Bai viet cam dong qua!
Gửi ý kiến của bạn
Vui lòng nhập tiếng Việt có dấu. Cách gõ tiếng Việt có dấu ==> https://youtu.be/ngEjjyOByH4
Tên của bạn
Email của bạn
)
Quỳnh Lâm báo tin sẽ đến Đức trong tuần lễ đầu tháng 10. Nisha vội vàng thu xếp “sự vụ lệnh“ để công du sang Đức. Nisha lo đi chợ sắm sửa đầy mấy tủ lạnh, tủ đá, để mấy cha con sống còn trong thời gian nữ tướng đi xa. Chúng tôi hồi hộp quá, ngày nào cũng thư từ, nhắn nhủ, dặn dò đủ điều tẳn mà, tẳn mẳn. Điện thư qua, về hoa cả mắt. Thư nào chúng tôi cũng nhắc nhở nhau giữ gìn sức khoẻ, vì đứa nào cũng “lão” rồi. Khi gặp nhau, tụi tôi nhất thiết phải đầy đủ tinh thần minh mẫn trong thân thể tráng kiện. Có hôm, đến trưa, chưa nghe tăm tiếng, tôi sốt ruột, xuất khẩu làm thơ... bút tre:
Sống ở đây an toàn và bình an gần như một trăm phần trăm trong hiện tại và tương lai, nhưng không thể bình thản hóa quá khứ. Cuộc chiến khốc liệt giữa thiên thần và ma quỉ luôn ám ảnh ông. Có những điều gì thao thức, âm thầm nghi hoặc, nhoi nhúc sâu thẳm trong ông. Lòng tin vào ông Gót có phần nào lung lay. Đông cảm thấy có lỗi khi nghi ngờ bố, người đã giúp đỡ, bảo vệ ông và Vá. Nhưng nghi ngờ là một thứ gì không thể điều khiển, không thể đổi đi, không thể nhốt lại. Nó vẫn đến, mỗi lần đến nó vạch rõ hơn, nhưng vẫn mù sương như đèn xe quét qua rồi trả lại sương mù.
Trâm gật đầu nhè nhẹ. Đoan nghĩ thật nhanh đến một cảnh diễn ra mỗi đầu tháng trong sân trường. Nơi đó, các sinh viên xúm xít cân gạo và các loại “nhu yếu phẩm”, mang phần của mình về nhà. Rồi thì trong khu phố, cảnh những người dân xếp hàng “mua gạo theo sổ” cũng diễn ra mỗi ngày. Nói “gạo” là nói chung thôi, thật ra trong đó phần “độn” chiếm đa số. Phần “độn” có thể là bo bo, có thể là bột mì, cũng có thể là khoai lang hay khoai mì xắt lát phơi khô. Nồi cơm nấu từ gạo và một thứ khác được gọi là nồi “cơm độn.” Mỗi ngày hai bữa cơm độn. Bo bo thì quá cứng vì vỏ ngoài chưa tróc, nấu trước cho mềm rồi cho gạo vào nấu tiếp, trở thành một “bản song ca” chói tai. Khoai lang hay khoai mì xắt lát phơi khô thường bị sượng, ghế vào cơm rất khó ăn. Chỉ có bột mì tương đối dễ ăn hơn, vì người nấu có thể chế biến thành bánh mì, nui hay mì sợi
Mùa đông, tuyết đóng dầy trên mái nhà. Ấy là lúc bà ngoại cũng lo là lũ chim - những con chim của ngoại - sẽ chết cóng. Nhưng bà không biết làm gì để cứu chúng nó. Ngoại đi tới đi lui từ phòng khách qua nhà bếp. Thở dài. Rên rỉ. Rồi lẩm bẩm, “Lỗi tại tôi, lỗi tại tôi mọi đàng.” Bà ngoại tội nghiệp những con chim chết lạnh. Sinh nhật ngoại, chúng tôi chung tiền mua quà. Một con sáo trong chiếc lồng tuyệt đẹp. Bà ngoại cưng nó hơn cưng chị em tôi. Cho nó ăn, ngắm nghía bộ lông đầy màu sắc của nó. Chăm chú lắng nghe tiếng hót véo von lúc chớm nắng bình minh và buổi hoàng hôn nắng nhạt. Rồi một buổi sáng nọ tiếng chim thôi líu lo. Bà ngoại chạy ra phòng khách. Hấp tấp tuột cả đôi guốc mộc. Con chim sáo nằm cứng sát vách lồng. Hai chân duỗi thẳng. Cổ ngoặt sang một bên. Con chim của ngoại đã chết. Bà ngoại buồn thiu cả tuần lễ. Bố mẹ tôi bàn tính mua con chim khác. Bà gạt ngang.
Tôi là người viết báo nghiệp dư. Từ khi khởi viết vào năm 1959, tay cầm viết luôn là nghề tay trái. Tôi sống bằng nghề tay phải khác. Cho tới nay, nghề chính của tôi là…hưu trí, viết vẫn là nghề tay trái. Tôi phân biệt viết báo và làm báo. Làm báo là lăn lộn nơi tòa soạn toàn thời gian hoặc bán thời gian để góp công góp sức hoàn thành một tờ báo. Họ có thể là chủ nhiệm, chủ bút, tổng thư ký, thư ký tòa soạn hay chỉ là ký giả, phóng viên. Nhưng tôi nghĩ người quan trọng nhất trong tòa soạn một tờ báo là ông “thầy cò”. Thầy cò ở đây không có súng ống hay cò bóp chi mà là biến thể của danh từ tiếng Pháp corrector, người sửa morasse. Morasse là bản vỗ một bài báo cần sửa trước khi in.
Sáu tuần. Nàng đã đi ra khỏi mụ mị từ trong mối tình hiện tại của mình. Cô bạn gái hỏi "Tỉnh chưa?". Tỉnh rồi, nhưng tỉnh không có nghĩa không yêu anh ấy nữa, chỉ là không còn mụ mị mê muội nữa thôi...
Trong bóng tối dày đặc, dọ dẫm từng bước một, hai tay vừa rờ vào hai bên vách hang động, vừa quơ qua quơ lại trước mặt, dù cố mở mắt lớn, chỉ thấy lờ mờ, nhiều ảo ảnh hơn là cảnh thật. Cảm giác bực bội vì đã trợt té làm văng mất ba lô, mất tất cả các dụng cụ, thực phẩm và nước uống cần thiết. Bối rối hơn nữa, đã rớt chiếc đèn bin cầm tay, mất luôn chiếc đèn bin lớn mang bên lưng và máy liên lạc vệ tinh có dự phòng sóng AM. Giờ đây, chỉ còn ít vật dụng tùy thân cất trong mấy túi quần, túi áo khoát và hoàn toàn mất phương hướng. Chỉ nhớ lời chỉ dẫn, hang động sẽ phải đi lên rồi mới trở xuống. Trang nghĩ, mình có thể thoát ra từ lối biển. Là một tay bơi có hạng, nàng không sợ.
Cô người Nha Trang, lớn lên và đi học ở đó. Cô sinh trưởng trong một gia đình gia giáo, mẹ cô đi dậy học, ông thân cô cũng là hiệu trưởng một trường trung học lớn ở Phú Yên. Năm 22 tuổi, cô học năm cuối đại học văn khoa Huế thì gặp gỡ chú Hiếu trong một dịp hội thảo sinh viên do các biến động thời cuộc miền Trung bắt đầu nhen nhúm. Chú Hiếu lúc đó đang theo cao học luật. Họ thành đôi bạn tâm giao tuổi trẻ, sau thành đôi uyên ương. Ba năm sau khi Trang vừa 25 tuổi, Hiếu đã nhậm chức chánh án tòa thượng thẩm.
Nhà trẻ kế bên bệnh xá. Trong góc một trại giam. Nhà trẻ có sáu đứa con nít. Bệnh xá có mấy bệnh nhân già. Coi bệnh xá là một tù nam nguyên là y tá ngoài đời. Coi nhà trẻ là một tù nữ án chung thân. Coi cả hai nơi ấy là một công an mà mọi người vẫn gọi là bác sĩ! Sáu đứa con nít đều là con hoang. Mẹ chúng nó là nữ tù bên khu B, đừng hỏi cha chúng đâu vì chúng sẽ không biết trả lời thế nào. Cũng đừng bao giờ hỏi mẹ chúng nó về chuyện ấy vì rằng đó là chuyện riêng và cũng là những chuyện rất khó trả lời. Thảng hoặc có ai đó được nghe kể thì lại là những chuyện rất tình tiết ly kỳ lâm ly bi đát… chuyện nào cũng lạ, chuyện nào cũng hay
Thăm nuôi năm thứ mười: trại Z30D Hàm Tân, dưới chân núi Mây Tào, Bình Tuy. Cuối năm 1985, mấy trăm người tù chính trị, trong đó có cánh nhà văn nhà báo, được chuyển từ trại Gia Trung về đây. Hồi mới chuyển về, lần thăm nuôi đầu, còn ở bên K1, đường sá dễ đi hơn. Cảnh trí quanh trại tù nặng phần trình diễn, thiết trí kiểu cung đình, có nhà lục giác, bát giác, hồ sen, giả sơn... Để có được cảnh trí này, hàng ngàn người tù đã phải ngâm mình dưới nước, chôn cây, đẽo đá suốt ngày đêm không nghỉ. Đổi vào K2, tấm màn hoa hòe được lật sang mặt trái: những dãy nhà tranh dột nát, xiêu vẹo. Chuyến xe chở người đi thăm nuôi rẽ vào một con đường ngoằn nghoèo, lầy lội, dừng lại ở một trạm kiểm soát phía ngoài, làm thủ tục giấy tờ. Xong, còn phải tự mang xách đồ đạc, theo đường mòn vào sâu giữa rừng, khoảng trên hai cây số.
Ông Hải đứng trước của nhà khá lâu. Phân vân không biết nên mở cửa vào hay tiếp tục đi. Tâm trạng nhục nhã đã ngui ngoai từ lúc nghe tiếng chim lạ hót, giờ đây, tràn ngập trở lại. Ông không biết phải làm gì, đối phó ra sao với bà vợ béo phì và nóng nảy không kiểm soát được những hành động thô bạo.
Vuốt lại tấm khăn trải giường cho thẳng. Xoay chiếc gối cho ngay ngắn. Xong xuôi, hắn đứng thẳng người, nhìn chiếc giường kê sát vách tường. Có cái gì đó thật mảnh, như sợi chỉ, xuyên qua trái tim. Hắn vuốt nhẹ bàn tay lên mặt nệm. Cảm giác tê tê bám lên những đầu ngón tay. Nệm giường thẳng thớm, nhưng vết trũng chỗ nằm của một thân thể mềm mại vẫn hiện rõ trong trí. Hắn nuốt nước bọt, nhìn qua cái bàn nhỏ phía đầu giường. Một cuốn sách nằm ngay ngắn trên mặt bàn. Một tờ giấy cài phía trong đánh dấu chỗ đang đọc. Hắn xoay cuốn sách xem cái tựa. Tác phẩm dịch sang tiếng Việt của một nhà văn Pháp. Cái va li màu hồng nằm sát vách tường, phía chân giường. Hắn hít không khí căn phòng vào đầy lồng ngực. Thoáng hương lạ dịu dàng lan man khứu giác. Mùi hương rất quen, như mùi hương của tóc.


Kính chào quý vị,

Tôi là Derek Trần, dân biểu đại diện Địa Hạt 45, và thật là một vinh dự lớn lao khi được đứng nơi đây hôm nay, giữa những tiếng nói, những câu chuyện, và những tâm hồn đã góp phần tạo nên diện mạo văn học của cộng đồng người Mỹ gốc Việt trong suốt một phần tư thế kỷ qua.
Hai mươi lăm năm! Một cột mốc bạc! Một cột mốc không chỉ đánh dấu thời gian trôi qua, mà còn ghi nhận sức bền bỉ của một giấc mơ. Hôm nay, chúng ta kỷ niệm 25 năm Giải Viết Về Nước Mỹ của nhật báo Việt Báo.

Khi những người sáng lập giải thưởng này lần đầu tiên ngồi lại bàn thảo, họ đã hiểu một điều rất căn bản rằng: Kinh nghiệm tỵ nạn, hành trình nhập cư, những phức tạp, gian nan, và sự thành công mỹ mãn trong hành trình trở thành người Mỹ gốc Việt – tất cả cần được ghi lại. Một hành trình ý nghĩa không những cần nhân chứng, mà cần cả những người viết để ghi nhận và bảo tồn. Họ không chỉ tạo ra một cuộc thi; họ đã và đang xây dựng một kho lưu trữ. Họ thắp lên một ngọn hải đăng cho thế hệ sau để chuyển hóa tổn thương thành chứng tích, sự im lặng thành lời ca, và cuộc sống lưu vong thành sự hội nhập.

Trong những ngày đầu ấy, văn học Hoa Kỳ thường chưa phản ánh đầy đủ sự phong phú và đa dạng về kinh nghiệm của chúng ta. Giải thưởng Viết Về Nước Mỹ thực sự đã lấp đầy khoảng trống đó bằng sự ghi nhận và khích lệ vô số tác giả, những người đã cầm bút và cùng viết nên một thông điệp mạnh mẽ: “Chúng ta đang hiện diện nơi đây. Trải nghiệm của chúng ta là quan trọng. Và nước Mỹ của chúng ta là thế đó.”


Suốt 25 năm qua, giải thưởng này không chỉ vinh danh tài năng mà dựng nên một cộng đồng và tạo thành một truyền thống.
Những cây bút được tôn vinh hôm nay không chỉ mô tả nước Mỹ; họ định nghĩa nó. Họ mở rộng giới hạn của nước Mỹ, làm phong phú văn hóa của nước Mỹ, và khắc sâu tâm hồn của nước Mỹ. Qua đôi mắt họ, chúng ta nhìn thấy một nước Mỹ tinh tế hơn, nhân ái hơn, và sau cùng, chân thật hơn.

Xin được nhắn gửi đến các tác giả góp mặt từ bao thế hệ để chia sẻ tấm chân tình trên các bài viết, chúng tôi trân trọng cảm ơn sự can đảm của quý vị. Can đảm không chỉ là vượt qua biến cố của lịch sử; can đảm còn là việc ngồi trước trang giấy trắng, đối diện với chính mình, lục lọi ký ức đau thương sâu đậm, và gửi tặng trải nghiệm đó đến tha nhân. Quý vị là những người gìn giữ ký ức tập thể và là những người dẫn đường cho tương lai văn hóa Việt tại Hoa Kỳ.

Với Việt Báo: Xin trân trọng cảm ơn tầm nhìn, tâm huyết, và sự duy trì bền bỉ giải thưởng này suốt một phần tư thế kỷ.
Khi hướng đến 25 năm tới, chúng ta hãy tiếp tục khích lệ thế hệ kế tiếp—những blogger, thi sĩ, tiểu thuyết gia, nhà phê bình, nhà văn trẻ—để họ tìm thấy tiếng nói của chính mình và kể lại sự thật của họ, dù đó là thử thách hay niềm vui. Bởi văn chương không phải là một thứ xa xỉ; đó là sự cần thiết. Đó là cách chúng ta chữa lành, cách chúng ta ghi nhớ, và là cách chúng ta tìm thấy nơi chốn của mình một cách trọn vẹn.

Xin cảm ơn quý vị.

NHẬN TIN QUA EMAIL
Vui lòng nhập địa chỉ email muốn nhận.