Hôm nay,  

Bố Ơi, Đi Lăng Quăng Thôi!

21/11/202500:00:00(Xem: 1068)

đi-lăng-quăng-
 
Tôi học được cụm động từ “đi lăng quăng” của bố Sỹ vào những ngày còn học tiểu học. Sau giờ tan trường hay vào cuối tuần, thỉnh thoảng bố lại hỏi mấy thằng con trai: “Có đi lăng quăng không?” Dĩ nhiên là có rồi! Ngồi ở thùng xe phía sau chiếc Daihatsu, chúng tôi theo bố đi giao sách ở những tiệm sách, sạp báo ở trung tâm Sài Gòn. Cũng có khi chỉ là ra một công viên, chúng tôi được chạy nhảy, trong khi bố ngồi trên xe viết lách. Không rõ có bao nhiêu tác phẩm của Doãn Quốc Sỹ được viết trong hoàn cảnh này.
 
Rồi cụm từ “đi lăng quăng” trở lại sau gần một nửa thế kỷ. Ở căn nhà Lampson thành phố Garden Grove, mỗi chiều tôi đi làm về ghé qua, bố đã ngồi đợi trước cửa. Thấy tôi đến, bố hỏi ngay: “Có đi lăng quăng không?” Thế là hai bố con bắt đầu hành trình “lăng quăng” đúng nghĩa, qua những khu dân cư ở gần nhà. Đi không có phải là để đến một nơi chốn nào đó. Đi chỉ để mà đi, để hai bố con có thì giờ ngồi bên nhau trò chuyện. 50 năm trước, bố chở con đi; 50 năm sau đổi ngược lại. Cuộc đời xoay vòng là vậy…
 
Hành trình “lăng quăng” của hai bố con trong một hai năm nay chỉ khoảng ba dặm, do sức khỏe của bố xuống nhiều. Chủ yếu là quanh block đường Dale-Chapman-Magnolia-Lampson. Hồi còn minh mẫn, bố đặt tên block đường này là “Đợi- Chờ- Mặc Nó Líu Lo- Lắm Sự” (theo cách đọc trại sang tiếng Việt tên của bốn con đường). Bố tỏ ra thích thú với việc đặt tên Việt “tiếu lâm” cho những con đường mà mình đi qua. Đường Katella có tên Việt là “Kể Tên Lạ”; Bushard là “Bút Sa Gà Chết”…
 
Hành trình ba dặm có vẻ ngắn, kéo dài khoảng nửa giờ, nhưng đủ để bố ôn lại những điều vẫn nhớ ở tuổi 103. Tai gần như điếc, mắt chỉ còn thấy lờ mờ, những điều hai bố con nói với nhau là những câu chuyện lập đi lập lại trong nhiều năm qua. Những câu chuyện có liên quan đến một đời người kéo dài hơn một thế kỷ; sinh ra lớn lên ở một ngôi làng ngoại thành Hà Nội; di cư vào Nam để viết văn, dạy học; cho đến khi nhắm mắt lìa đời ở miền Nam Cali.
 
Bố vẫn nhớ làng Cót có cây si đầu làng chứ không phải cây đa. Đi từ đầu làng vào sẽ qua miếu Chợ, miếu Chùa, mộ Vua, miếu Cả, ao Cậy, ao Cầu… Đầu làng có con sông Tô Lịch; nay đã thành ruộng rau muống, nên bố đọc lại 4 câu thơ:
Sông xưa giờ đã nên đồng
Chỗ làm nhà cửa chỗ trồng ngô khoai
Đêm nghe tiếng ếch bên tai
Giật mình còn tưởng tiếng ai gọi đò…
 
Rồi từ làng Cót, bố liên tưởng đến làng Láng của mẹ, cách nhau chỉ khoảng hai cây số, nơi có ngôi nhà với khu vườn bao quanh bốn mặt của cụ nhạc phụ Tú Mỡ có tám người con:
Năm trai ba gái tám tên
Trung, Hiền, Thảo, Dũng, Hùng, Chuyên, Vĩ, Cường
 
“…Cả tám người đều ra người thiên cổ cả rồi…Bố con mình không ai nằm mơ thấy mẹ; chắc là mẹ về với cõi Phật rồi. Người sống hiền đức cả đời thì phải về cõi Phật thôi…” Bố vẫn nói vậy…
 
Nhắc đến Tú Mỡ, bố nhắc Việt Nam có hai nhà thơ tên Hiếu: Tú Mỡ Hồ Trọng Hiếu, và Tản Đà Nguyễn Khắc Hiếu, là người Sơn Tây, nơi có núi Tản Viên, sông Đà Giang, cho nên lấy bút hiệu là Tản Đà. Rồi bố đọc một lèo bài Thề Non Nước từ câu đầu “Nước non nặng một lời thề…” cho đến câu kết “…Non non nước nước không nguôi lời thề…”, và kết luận rằng bài thơ có  “…vũ trụ nhân sinh quan trùng trùng duyên khởi…”
 
Bố nhớ ngày xưa học trung học ở Hà Nội có thầy là cụ Vũ Đình Liên, nhà thơ nổi tiếng với bài thơ bất hủ Ông Đồ Già. Bố đọc dõng dạc bài thơ, ngân nga dài giọng ở hai câu cuối: “Những người muôn năm cũ, hồn ở đâu bây giờ…”
 
Bạn bè văn nghệ thì nhóm Sáng Tạo là nhất. “Thất tinh nay chỉ còn nhị tinh” là Trần Thanh Hiệp và Doãn Quốc Sỹ. Năm người ra thiên cổ là Mai Thảo, Ngọc Dũng, Duy Thanh, Thanh Tâm Tuyền, Nguyễn Sỹ Tế. Trong đó bác Mai Thảo là tếu nhất. “Ngài” có bài thơ bất hủ là:
Thế giới có triệu điều không hiểu
Càng hiểu không ra lúc cuối đời
Chẳng sao khi đã nằm trong đất
Nhìn ở sao trời sẽ hiểu thôi
 
Bố cười đắc chí: “Bây giờ thì Ngài đã hiểu rồi!...”
 
Bố rất thích bài thơ ghép chung với chú Nguyễn Đình Toàn. Bốn câu đầu của chú Toàn:
Lúa Thủ Thiêm ngọn chìm ngọn nổi
Gió xa lộ lúc thổi lúc ngưng
Gặp nhau tay bắt mặt mừng
Vui thì vui vậy biết chừng nào xa…
 
Sáu câu sau là của bố:
Đỉnh trời vằng vặc gương nga
Long lanh soi tỏ lòng ta lòng mình
Gương trong mình lại soi mình
Thấy tình thăm thẳm, thấy hình phù du
Nẻo đời gió bụi kỳ khu
Biết ai còn mất tình thu võ vàng
Sáu câu này được in lại trong thư cảm tạ trong tang lễ của bố; là tâm tình biệt ly với người đi xa, như bố giải thích: “…thoạt đầu là lạc quan vì tin rằng người đi xa nhưng tình thì vẫn luôn còn mãi; nhưng nói vậy chỉ là để dối lòng thôi, chứ kẻ ở vẫn cứ man mác buồn…”
 
Bạn bè văn nghệ bố cũng thường nhắc đến Nhã Ca, Trần Dạ Từ, hỏi tôi giờ đang ở đâu. Khi tôi trả lời Thụy Điển, bố gật gù “Bắc Âu quanh năm tuyết phủ trắng xóa…”
 
Bố rất tâm đắc với nghề đi dạy học của mình. Dạy ở ba trường đại học là Sư Phạm, Văn Khoa, Vạn Hạnh, nên học trò đông vô số kể. “…Lương nhà giáo thì thanh đạm thôi, nhưng tình thầy trò là vô giá…”
 
Bố vẫn thuộc lòng một số bài ca dao. Khi đọc hết bài:
Hôm qua tát nước đầu đình
Bỏ quên cái áo trên cành hoa sen….
…Giúp em quan tám tiền cheo
Quan năm tiền cưới lại đèo buồng cau.
Bố dí dỏm kết luận: “Giúp thế anh là chú rể rồi còn gì! Cô gái sẽ nguýt và mắng là nỡm! Cà chớn!...”
 
Đi tù 12 năm, nhưng không nghe bố kể sống trong tù cực khổ ra sao, chỉ thường nói: “… Bố ở tù cộng sản hai lần, một lần bốn năm, một lần tám năm. Nghiệp nặng đã trả xong, bây giờ vui với con cháu…”
 
Hai bố con thường ghé vào chùa Quán Thế Âm trên đường Magnolia. Một chị làm công quả ở chùa biết ông già 100 tuổi hầu như ngày nào cũng vào chùa lễ Phật, phục lăn. Thấy bố đến, chị đon đả ra chào, rồi giới thiệu với những Phật tử viếng chùa, nói rằng hình ảnh hai bố con dắt nhau đi chùa làm chị rất ngưỡng mộ. Khi lễ Quan Âm, thường thì tôi đọc trước, bố đọc theo: “Nam Mô Đại Bi Quan Thế Âm Bồ Tát”. Nhưng có những ngày như trong tiềm thức vọng về, bố niệm dõng dạc theo cách riêng của mình: “Nam Mô tầm thinh cứu khổ cứu nạn linh cảm Đại Từ Đại Bi Quan Thế Âm Bồ Tát; Nam Mô Đại Thế Chí Bồ Tát; Nam Mô Đại Nguyện Địa Tạng Vương Bồ Tát”.
 
Gần 10 năm, hành trình “đi lăng quăng” và câu chuyện chỉ có thế. Không thấy phiền muộn, chỉ toàn niềm vui. Nó có thay đổi theo sức khỏe yếu dần của bố. Khi bắt đầu quên nhiều hơn, bố nghe tôi “nhắc tuồng” vài chữ đầu trong mỗi câu chuyện để nói theo. Vài tuần trước khi mất, khi bố nắm tay tôi để bước đi, tôi cảm giác được sức tựa ngày càng nặng hơn.
 
Một tuần trước khi mất, một chiều tôi đến để rủ “đi lăng quăng”, bố vẫn nằm trong giường. Tôi ngồi cạnh hỏi to: “Bố ơi, đi lăng quăng không?” Bố vẫn nhắm mắt, trả lời “Không!” Hỏi ba lần đều trả lời như vậy, điều chưa bao giờ xảy ra với tác giả của truyện “Đi”. Tôi biết ngày đó đang tới gần…
 
Dạo gần đây thỉnh thoảng bố ôm bụng, nhăn mặt, nhưng hỏi thì bảo không đau. Thứ Sáu 10 tháng 10, y tá tới nhà khám, không định ra bệnh, đề nghị đưa vào nhà thương để chẩn đoán. Trưa Thứ Bảy gọi 911 đưa vào bệnh viện West Anaheim. Sau khi CT scan, bác sĩ cho biết có một khối u ở ruột già có thể làm nghẽn đường tiêu hóa, hỏi gia đình có muốn chữa trị không? Các con đều đồng ý là không chữa trị, chỉ cần giảm đau. Chủ Nhật bắt đầu tiêm morphine. Thứ Hai bố bắt đầu thở nặng kiểu người hấp hối, gia đình dự định mời các sư cô chùa Đại Bi đến vào sáng hôm sau để đọc kinh cầu an. 9:55 phút sáng Thứ Ba, tôi vẫn còn nắm tay bố niệm Phật, thấy hơi thở của bố đã nhẹ lắm rồi. Sau đó, tôi đi xuống cổng bệnh viện để đón hai sư cô đến lúc 10:00. Khi đi thang máy lên phòng ở lầu ba, sư cô còn hỏi “Hôm nay là cầu an hay cầu siêu?” Tôi trả lời “cầu an” vì bố còn sống. Lên đến giường bệnh thì bố đã ra đi lúc 10:05 ngày 14 tháng 10. Lễ cầu siêu diễn ra ngắn gọn ngay sau đó.
 
Lúc đó trời Nam Cali bỗng dưng đổ cơn mưa như để gột sạch đường trần thế…
 
Tôi nhớ vào tối Chủ Nhật ngồi bên giường bệnh, nắm tay bố để niệm “Nam Mô A Di Đà Phật”. Thỉnh thoảng, tôi ghé vào tai bố nói rằng: “Bố sống đời hiền đức, nay bố ra đi bình an, bố nhớ theo ánh sáng của Phật Di Đà…” Tay tôi nắm tay phải của bố để hộ niệm. Chỉ ít phút sau, tự nhiên bố đưa tay trái sang nắm chặt tay của tôi. Giống như cái nắm tay lúc “đi lăng quăng”. Cái nắm tay lúc cận tử thật chân tình. Tôi cảm nhận được sự bình an truyền sang cho mình…
 
Trăm năm một đời người của bố kết thúc nhẹ nhàng như thế. Sống cả đời lo cho con, cuối đời chẳng làm phiền con cháu, lúc ra đi cũng vậy…
 
Nhạc sĩ Trịnh Công Sơn viết lời ca “…Đi đâu loanh quanh cho đời mỏi mệt…”
 
Nhạc sĩ Phạm Duy viết trong Rong Khúc về hành trình sau cái chết của mình “…Ta vứt sau ta những nẻo đường trần, Ta vút bay theo những nẻo đường tiên…”
 
Bố tôi thì thích “đi lăng quăng” lúc cuối đời. Đi chỉ để mà đi, thong dong, an nhiên, tự tại. Sau một ngày làm việc, “đi lăng quăng” không phải là bổn phận của con đối với bố, mà là những giây phút tôi tìm thấy an lạc cho chính mình.
 
“Đi lăng quăng” là cách nói giản dị, khôi hài kiểu của bố. Nhưng cả cuộc đời của bố là một con đường thẳng tắp, thanh thản đi qua một thế kỷ bể dâu của dân tộc. Tôi nhớ lại lời bố nói về mẹ: “Người sống hiền đức cả đời thì phải về cõi Phật thôi…”
 
Tạm biệt bố. Ở một thế giới nào đó, rồi hai bố con sẽ lại có dịp “đi lăng quăng” với nhau…
 
Doãn Hưng
14/11/2025
 

Ý kiến bạn đọc
05/12/202502:21:32
Khách
Cầu cho linh hồn của cụ sớm về miền an lành cực lạc. Tôi chưa từng được gặp cụ, nhưng cũng đã được đọc một vài truyện do cụ sáng tác. Những người tài hoa, nhân hậu như cụ đã và đang để lại cho chúng ta những bài học đáng suy gẫm về một tâm hồn Việt Nam khao khát tìm về Chân-Thiện-Mỹ.
21/11/202512:55:13
Khách
Bai viet cam dong qua!
Gửi ý kiến của bạn
Vui lòng nhập tiếng Việt có dấu. Cách gõ tiếng Việt có dấu ==> https://youtu.be/ngEjjyOByH4
Tên của bạn
Email của bạn
)
Hôm đó, cô nhất định phải giết cây dạ quỳnh. Khi đêm tối bao phủ, cô sẽ ra tay. Lấy một con dao bén để xắt cành lá nó ra từng mảnh nhỏ. Lấy chai thuốc Draino loại hủy hoại rễ cây để ngâm hết các rễ của nó. Nó phải chết một cách tiệt tích, không còn một chút cơ hội nào sống sót. Nó phải bị phơi khô trên cao vì Quỳnh đụng đất sẽ có thể mọc lại. Cô biết, giết Quỳnh là mất đi tiếng nói vo ve chị em tâm sự. Cô đơn khi có Quỳnh sẽ thay vào cô đơn không có Quỳnh. Cô sẽ bắt đầu một cô đơn khác.
Càng lớn tuổi chừng nào, thì người ta lại thường hay nhớ tới những kỷ niệm trong dĩ vãng của mình nhiều bấy nhiêu. Nhất là những người cao niên đã về hưu, không còn bị ràng buộc bởi những công việc làm thường ngày của mình như trước kia, nên có nhiều thì giờ rảnh rỗi ngồi ở nhà một mình, để hồi tưởng lại những kỷ niệm buồn vui khó quên trong cuộc đời mình, rồi để có những lúc tâm sự cho nhau nghe lại những kỷ niệm khó quên này, trong những dịp tiệc tùng họp mặt bạn bè.
Lộc đã chết! Tích ngỡ ngàng khi nghe tin đó. Chàng không tin vào tai mình. Làm sao Lộc có thể chết được? Mình mới gặp anh ấy có tuần trước thôi mà! Trông anh còn khỏe mạnh, tự tin, tràn đầy sức sống. Vậy mà bây giờ anh đã không còn nữa. Cái chết của anh có cái gì đó không thật. Và có lẽ đó là lần đầu tiên Tích đứng trước nhận thức trực tiếp và thâm sâu về tính chất phi lý của một sự kiện quá bình thường trên đất nước chiến tranh này.
Từ giữa tháng Tám, trước ngày Lễ Labour Day, các trung tâm shopping đã rầm rộ quảng cáo “On Sale” cho mùa “Back To School”. Các con tôi đã lớn, qua rồi cái thuở đi sắm backpacks, tập vở, giấy bút, lunch bags, áo quần, nhưng lòng tôi vẫn nao nao bâng khuâng nhớ về những kỷ niệm ấy. Cũng có lúc tôi lại nh ... chính tôi, ngày xưa là cô giáo trẻ khi còn ở Việt Nam, và nhất là những tháng ngày ở trại tỵ nạn Thailand, làm cô giáo “đặc biệt” có những học trò cũng rất “đặc biệt”.
Chị Hai đã uống một ly nước đầy và đi làm việc tiếp. Đoan vào lại chỗ của mình. Như một phản xạ, Đoan lại cho tay vào túi, làm như tìm xem trong đó có sót lại một viên kẹo chăng. Mơ hồ, Đoan nhớ ngày xưa Đoan hay ví một hành động “vớt vát” nào đó như là “tìm con cá sót lại trong chiếc giỏ của cô Tấm.” Mắt Đoan cay cay. Bỗng như thấy mình đang đi vào lại đường cây còng. Mùa mưa, những chiếc lá trên cao đọng nước, rũ nhè nhẹ xuống tóc Đoan, nghe mát. Hai túi áo blouse lúc nào cũng đầy kẹo. Đoan vào trại bệnh. Những dãy giường đầy người. Thay băng xong cho ai, Đoan tặng người ấy một viên kẹo
Ở đây tôi chỉ muốn đưa một vài nét chính của các môn Khí công mà tôi đã tập qua, để người đọc theo đó sẽ chọn được một môn pháp thích hợp cho mình tập. Chả thế người xưa thường hay nói “Tùy bịnh chọn công“, tùy theo thể chất và sức khoẻ mà chọn cách tập Khí công.
Ngày tựu trường năm nay, trường Việt Ngữ Suối Mở Offenbach đón tiếp 14 học trò mới với tuổi tác, trình độ tiếng Đức, tiếng Việt chênh lệch khá nhiều. Tạm thời, cô giáo gọi lớp này là Lớp Mới. Giờ học đầu tiên, cô giáo chưa thực sự “dạy” chữ, chỉ “dỗ” các học trò. Hy vọng học trò sẽ thấy học tiếng Việt không khó lắm và tìm thấy niềm vui khi đến trường Việt Ngữ mỗi thứ Bảy. Chờ cho học trò tìm chỗ ngồi xong, cô giáo giới thiệu mình, và tập cho học trò chào hỏi. Nghe các em đồng thanh: “Con chào cô giáo”, lòng cô giáo rộn lên niềm vui, liên tưởng câu châm ngôn “tiên học lễ, hậu học văn” mình được học ngày xưa.
Cô vẫn nhìn thẳng phía trước, không nhìn ngang nhìn ngửa. Anh liếc nhìn cái túi xách giữa hai đùi cô, thấy cộm lên, nghĩ rằng trong ấy có một khẩu súng ngắn, đã lên đạn, lát nữa sẽ kề vào thái dương của anh. Anh nín thở.
Tháng tư 1976, sau một mùa đông ở North Dakota, vừa có bằng lái xe, tôi bỏ việc, bỏ lại một vùng quá bình an, quá tử tế, nhưng cũng quá cô quạnh này, đi thẳng về hướng tây...
“Anh nhớ đến dự lễ trao đẳng cấp Đại Bàng cho thằng con em nha! Để mừng cho em và cháu…” Tôi nhận được điện thoại như vậy từ C., một người bạn trẻ có con trai là hướng đạo sinh thuộc Liên Đoàn Trường Sơn, được nhận danh hiệu Đại Bàng vào ngày 16/08/2025. Đã lâu rồi, kể từ khi hai thằng con ngưng sinh hoạt hướng đạo để đi học đi làm, tôi không có dịp trở về thăm lại liên đoàn. Công việc thì nhiều, thời gian thì ít. Nhưng lần này thì không từ chối được rồi!
Đó là tháng 6-1989, lần đầu đến New York và vào một bảo tàng viện nổi tiếng ở đây, tôi tình cờ, tới chỗ treo một bức tranh trừu tượng khổng lồ, cao khoảng 2 mét, ngang khoảng 6 mét. Tôi kinh ngạc với sự giàu có ở đây, bảo tàng viện này dành riêng ra một căn phòng lớn, đơn giản, sang trọng, chỉ để trưng bày một bức tranh đó...
Tôi bị bắt tại huyện Tân Hiệp chiều ngày hai mươi, giáp Tết. Lý do, mang theo hàng không giấy phép. Thế là tiêu tan hết vốn lẫn lời mà tôi chắt chiu, dành dụm gần cả năm nay. Nhớ đến mẹ và gia đình trong những ngày Tết sắp tới, tôi vừa buồn vừa tức đến bật khóc. Xui rủi, biết trách ai. Tiễn, anh phụ lơ, đã cẩn thận cất dấu hàng cho tôi, vã lại anh cũng quá quen biết với đám công an trạm kiểm soát. Không ngờ chuyến nầy bọn công an tỉnh xuống giải thể đám địa phương, nên tôi bị “hốt ổ” chung cả đám. Đây không phải là lần đầu bị bắt, nhưng lại là lần đầu tiên tôi đi chuyến vốn lớn như vầy. Năm ký bột ngọt, năm ký bột giặt, hơn chục ống thuốc cầm máu và trụ sinh hàng ngoại. Bột ngọt, bột giặt không nói gì, nhưng hai thứ sau hiếm như vàng mà giới “chạy hàng” chúng tôi gọi là “vàng nước”. Nên thay vì đưa về khu tạm giam huyện chờ lập biên bản, hồ sơ xét xử tôi nghe bọn công an thì thầm, bàn tán giải thẳng về khám lớn tỉnh Rạch Giá.


Kính chào quý vị,

Tôi là Derek Trần, dân biểu đại diện Địa Hạt 45, và thật là một vinh dự lớn lao khi được đứng nơi đây hôm nay, giữa những tiếng nói, những câu chuyện, và những tâm hồn đã góp phần tạo nên diện mạo văn học của cộng đồng người Mỹ gốc Việt trong suốt một phần tư thế kỷ qua.
Hai mươi lăm năm! Một cột mốc bạc! Một cột mốc không chỉ đánh dấu thời gian trôi qua, mà còn ghi nhận sức bền bỉ của một giấc mơ. Hôm nay, chúng ta kỷ niệm 25 năm Giải Viết Về Nước Mỹ của nhật báo Việt Báo.

Khi những người sáng lập giải thưởng này lần đầu tiên ngồi lại bàn thảo, họ đã hiểu một điều rất căn bản rằng: Kinh nghiệm tỵ nạn, hành trình nhập cư, những phức tạp, gian nan, và sự thành công mỹ mãn trong hành trình trở thành người Mỹ gốc Việt – tất cả cần được ghi lại. Một hành trình ý nghĩa không những cần nhân chứng, mà cần cả những người viết để ghi nhận và bảo tồn. Họ không chỉ tạo ra một cuộc thi; họ đã và đang xây dựng một kho lưu trữ. Họ thắp lên một ngọn hải đăng cho thế hệ sau để chuyển hóa tổn thương thành chứng tích, sự im lặng thành lời ca, và cuộc sống lưu vong thành sự hội nhập.

Trong những ngày đầu ấy, văn học Hoa Kỳ thường chưa phản ánh đầy đủ sự phong phú và đa dạng về kinh nghiệm của chúng ta. Giải thưởng Viết Về Nước Mỹ thực sự đã lấp đầy khoảng trống đó bằng sự ghi nhận và khích lệ vô số tác giả, những người đã cầm bút và cùng viết nên một thông điệp mạnh mẽ: “Chúng ta đang hiện diện nơi đây. Trải nghiệm của chúng ta là quan trọng. Và nước Mỹ của chúng ta là thế đó.”


Suốt 25 năm qua, giải thưởng này không chỉ vinh danh tài năng mà dựng nên một cộng đồng và tạo thành một truyền thống.
Những cây bút được tôn vinh hôm nay không chỉ mô tả nước Mỹ; họ định nghĩa nó. Họ mở rộng giới hạn của nước Mỹ, làm phong phú văn hóa của nước Mỹ, và khắc sâu tâm hồn của nước Mỹ. Qua đôi mắt họ, chúng ta nhìn thấy một nước Mỹ tinh tế hơn, nhân ái hơn, và sau cùng, chân thật hơn.

Xin được nhắn gửi đến các tác giả góp mặt từ bao thế hệ để chia sẻ tấm chân tình trên các bài viết, chúng tôi trân trọng cảm ơn sự can đảm của quý vị. Can đảm không chỉ là vượt qua biến cố của lịch sử; can đảm còn là việc ngồi trước trang giấy trắng, đối diện với chính mình, lục lọi ký ức đau thương sâu đậm, và gửi tặng trải nghiệm đó đến tha nhân. Quý vị là những người gìn giữ ký ức tập thể và là những người dẫn đường cho tương lai văn hóa Việt tại Hoa Kỳ.

Với Việt Báo: Xin trân trọng cảm ơn tầm nhìn, tâm huyết, và sự duy trì bền bỉ giải thưởng này suốt một phần tư thế kỷ.
Khi hướng đến 25 năm tới, chúng ta hãy tiếp tục khích lệ thế hệ kế tiếp—những blogger, thi sĩ, tiểu thuyết gia, nhà phê bình, nhà văn trẻ—để họ tìm thấy tiếng nói của chính mình và kể lại sự thật của họ, dù đó là thử thách hay niềm vui. Bởi văn chương không phải là một thứ xa xỉ; đó là sự cần thiết. Đó là cách chúng ta chữa lành, cách chúng ta ghi nhớ, và là cách chúng ta tìm thấy nơi chốn của mình một cách trọn vẹn.

Xin cảm ơn quý vị.

NHẬN TIN QUA EMAIL
Vui lòng nhập địa chỉ email muốn nhận.