Hôm nay,  

Nhạc Sĩ Nguyễn Văn Đông Và Những Âm Điệu Quê Hương

12/05/201808:01:00(Xem: 11362)

NHẠC SĨ NGUYỄN VĂN ĐÔNG VÀ NHỮNG ÂM ĐIỆU QUÊ HƯƠNG

 

Chu Tất Tiến

 
blank

Khi nhắc đến tên Nhạc Sĩ Nguyễn Văn Đông, thì hầu như tất cả mọi người đã từng sống ở miền Nam trước năm 1975, đều liên tưởng đến bài “Chiều Mưa Biên Giới”, vì bản nhạc này, với âm điệu phong phú và những tư tưởng phóng khoáng nhưng thấm đậm tình người, đã nằm trong tim những người yêu nhạc và không thể phai nhạt.

 

Ngay cả một số người, vào thời gian đó, vẫn đang mang cặp sách đến trường học, cũng yêu thích bản nhạc với câu kết: “Lòng trần còn tơ vương khanh tướng, thì đường trần mưa bay gió cuốn còn nhiều anh ơi!” Chỉ hai câu nhạc với 4 trường canh, 18 chữ, hát ở Tông Dm, là một chủ âm buồn nhẹ nhàng, đã như một lời nhắn nhủ tha thiết đến tất cả mọi con người trong xã hội, không riêng gì một cá nhân nào. Một sự thực không thể chối cãi: Mộng mơ càng cao, đau khổ càng đầy. Bên cạnh đó, khung cảnh mưa bay lạnh lẽo của một chiều đứng gần biên giới âm u đã gợi lên một tâm trạng khắc khoải, phân vân, có lẽ cho cả một thế hệ đang bước vào cuộc chiến, tự hỏi rằng không biết tương lai có còn tươi hồng như xưa nữa không: “Lưng trời nhớ sắc mây pha hồng. Đường rừng chiều cô đơn chiếc bóng, người tìm về trong hơi áo ấm, gợi niềm xa xăm...”

 

Tình tự của Nguyễn Văn Đông, người nhạc sĩ đứng ở một tầm cao khó với nhưng lại rất khiêm nhượng là như thế đó. Ông chỉ muốn chia xẻ tâm hồn đầy yêu thương của mình đến tất cả những ai quan tâm. Lời nhạc của ông không cầu kỳ, gò bó, không sử dụng những từ ngữ cao siêu, nhưng lại mang đầy tính triết học được thể hiện chan chứa trong các “melody”, cung điệu thật tình tứ, lãng mạn mà vẫn giữ nguyên kỷ luật của các thứ tự hòa âm. Bài “Về Mái Nhà Xưa” là một điển hình cho nguyên tắc sáng tác của Nhạc Sĩ và cũng là một thể hiện chuỗi dài những âm điệu lả lướt, lôi cuốn. Người thưởng ngoạn có thể hình dung thấy đâu đó, các vũ nữ Balê đang uốn mình theo điệu nhạc làm cho  tà áo bay cuốn như mây: “Về đây ngơ ngác chim bay tìm đàn. Về đây hoang vắng lạnh buốt cung đàn. Tôi lắng nghe tâm tình nhân thế, qua đáy tim chưa đục sông Mê, qua ước mơ duyên tình đơn sơ...” Thật “romantic”. Nhưng, cái “romantic” này không đưa người nghe đến một nơi chỉ có hai tâm hồn yêu nhau mà lại hướng về quê hương nghèo khổ: “nơi xưa quê nghèo, nhà tranh tan nát tiêu điều, người xưa không còn nữa..”

 

Hai chữ “quê hương” hình như đã gắn chặt trong tận đáy tim của ông, nên ông luôn âu lo về những điều bất hạnh đang xẩy đến cho dân Việt. Bài “Bà Mẹ Hai Con”, nếu được hát lên trong một buổi chiều gió lạnh, nhất định sẽ làm rơi nước mắt của tất cả mọi người: “Chuyện bà mẹ hai đứa con, một thằng dâng cho nước non. Đêm đêm mắt mẹ mỏi mòn, khuya sớm ra vào trông con. Thằng Hai đi lính đã lâu, tình mẹ luôn ghi khắc sâu...” Ông đã tả chân đời lính nhọc nhằn, buốt giá khi nhớ đến Mẹ hiền: “Con xin kính thăm Mẹ hiền, con phương này bình yên. Lương đi lính nên không giầu, chút ít Mẹ ăn trầu...” Trời ơi! Có nỗi đau nào bằng nỗi đau của người Mẹ Việt Nam trong chiến tranh không? “Rung rinh tóc mẹ ngã mầu. Nước mắt thấm qua miếng trầu...” Rồi, “Một chiều âm u lá hoa, mẹ già đi dâng lễ xa. Cơ quan đến nhà báo rằng: Anh ấy vĩnh biệt hôm qua...” Tất cả những trái tim Việt Nam nhất định phải lặng đi khi nghe âm thanh đau đớn này. NỖI ĐAU VIỆT NAM đã được nhạc sĩ Nguyễn Văn Đông chuyên chở rất nhiều lần trên các trang nhạc.

 

Bản “Lá thư người lính chiến” cũng thế. NỖI ĐAU VIỆT NAM ám ảnh ông dằng dặc khôn nguôi: “Mẹ ơi! Lời tâm ghư gói trọn tình con viết từ chiến trường. Mẹ ơi! Sầu lo chi tóc già bạc phơ xót xa lòng con...” Ôi! Thuở ấy. Những năm tháng ấy, tiếng đạn bay lẫn tiếng khóc gào cho đất nước bị cầy xới bởi những viên đạn từ đâu đến, cắt đứt tình mẹ con.. Nuôi nấng con bao năm, chăm sóc con bao lần, để rồi nhìn con bước ra đi không biết đi về phương nào? Và không biết có trở lại với người mẹ già rưng rưng tóc bạc trắng phau hay không?

 

Nhưng, như thế, có phải là tâm hồn Nguyễn Văn Đông chỉ có buồn trách không? Không, nhất định không phải thế! Tuy nhắc nhớ đến những niềm đau khôn tả của con người trong chiến tranh, nhưng với lòng yêu nước nồng nàn, người nhạc sĩ Nguyễn Văn Đông vẫn bước những bước vững chãi trên đường giúp nước. Trong bài “Anh Nhớ gì không?”, ông nhắc nhở thế hệ trẻ: “Anh nhớ gì không, anh. Những trai hùng đi giúp non sông? Trên bốn ngàn năm qua, giải sơn hà bao phen Thạch Mã? Gỗ đá còn gian lao, tiếng anh hào muôn thuở hơn nhau..” Nghe nhạc Nguyễn Văn Đông, người cảm nghiệm luôn thấy thấp thoáng bóng những anh hùng, hãnh diện với nhiệm vụ giúp nước của mình, tuy quần áo bạc nhầu, nhưng nụ cười của người lính Việt Nam vẫn không quên nở. Bài “Mấy dặm sơn khê” là một bức tranh tuyệt đẹp: “Anh đến thăm, áo anh mùi thuốc súng. Ngoài mưa khuya lê thê, qua ngàn chốn sơn khê. Non nước ơi! Hồn thiêng của núi sông, kết trong lòng thế hệ, nghìn sau nối nghìn xưa...” Thật lãng mạn, thật phong sương và thật anh hùng!

 

Chưa hết đâu! Bản nhạc “Hàng hàng lớp lớp” mới thật sự đem đến hào khí của những dũng sĩ Việt Nam, chia tay với người yêu để lên đường với nụ cười khinh bạc cái chết: “Ngày mai xa cách nhau. Một người gối chiếc cô phòng, còn người góc núi ven rừng, chân mây, đầu gió... Còn đây đêm cuối cùng. Nhìn em muốn nói chuyện người Kinh Kha, ngại khơi nước mắt nhạt nhòa môi em..” Tình yêu vĩ đại dành cho đất nước của người ra đi không hẹn ngày về, của những Kinh Kha Việt Nam, đã chan hòa trong các bản nhạc của Nguyễn Văn Đông.

 

Các thể điệu mà nhạc sĩ Nguyễn Văn Đông sáng tác đã không ngừng ở những bước chân “Bolero” hay “Slow” mà đôi khi còn chuyển qua điệu “Slow Tango” tình tứ. Trong bản “Phiên Gác Đêm Xuân”, tính chất hào hùng của người chiến sĩ Quân Lực Việt Nam Cộng Hòa lại làm bản nhạc buồn này như một khúc ca tình tứ: “Đón giao thừa một phiên gác đêm. Chào Xuân đến, súng xa vang rền. Xác hoa tàn rơi trên báng súng, ngỡ rằng pháo tung bay, ngờ đâu hoa lá rơi...” Chao ơi! Tâm tư người lính xa nhà cũng như chiếc lá rơi buồn ngoài tiền tuyến, thật nôn nao, thật xúc cảm: “Trách chi người đem thân giúp nước, đôi lần nhớ bâng khuâng, gượng cười hái hoa xuân...” Phải! Gượng cười chứ không mỉm cười. Mỉm cười sao được khi nước mắt nhớ nhà, nhớ Mẹ, nhớ người yêu, nhớ anh chị em, nhớ bạn làm rung ngón tay khi chạm vào bông hoa nở trên báng súng! Và rất chân thật, rất NGƯỜI, không dấu diếm: “Chốn biên thùy này Xuân tới chi? Tình lính chiến khác chi bao người! Nếu Xuân về tang thương khắp lối. Thương này khó cho vơi, THÀ ĐỪNG ĐẾN, XUÂN ƠI!”

 

Đó mới chính là tâm tình của những người trai thời loạn mà Nhạc Sĩ Nguyễn Văn Đông đã thay mặt nói lên tất cả. Ông đã nhìn về quê hương, đất nước Việt Nam với tấm chân tình, không điệu bộ. Điều đáng nói ở đây là ông không chỉ nói chuyện non sông, mà còn thay mặt cho những tâm hồn yêu nhau trong tuổi thanh niên, để viết lên những tình khúc thật nồng nàn. Những bài Dạ Sầu, Đoạn Tuyệt, Niềm Đau Dĩ Vãng, Nhớ Huế, Nếu có Em bên Anh... là những tình ca hết sức thơ mộng cho đôi lứa yêu nhau. Biết bao lớp trẻ đã từng ngâm nga bài Niềm Đau Dĩ Vãng: “Ngày hai đứa ân tình vỡ đôi. Đời hai lối phương trời lẻ loi. Thuyền tình em lạc bến lâu rồi, niềm tin đã trót trao rồi, âm thầm em khóc khi biệt ly…” Hoặc: “Khi đã yêu thì mơ mộng nhiều. Mơ ngày mai pháo nhuộm đường vui. Mơ vành môi thơm ngát hương đời, tình kia phong kín mây trời, tin yêu riêng một người thôi…”

 

Một điều rất lạ không thể không nói: tuy ông là một Phật tử thuần thành, ông lại viết nhiều bài như Thánh Ca Công Giáo như Đêm thánh Vô Cùng, Đêm Thánh Huy Hoàng, Xin Chúa Thấu lòng con, Tình người ngoại đạo, Mùa Sao Sáng, Bóng Nhỏ Giáo đường, Hiến Dâng.. Những bài đạo ca này, có thể nói đã làm rung động những tâm hồn người theo đạo Thiên Chúa hơn nhiều ca khúc khác. Ông viết say sưa về Chúa, về Mẹ… còn hơn người Công Giáo thuần thành.

 

Nguyễn Văn Đông là một nghệ sĩ vĩ đại vì ông không chỉ là một Nhạc Sĩ Tân Nhạc dưới nhiều bút hiệu như Phượng Linh, Anh Nguyễn, mà ông còn là Soạn giả Đông Phương Tử, người đã soạn kịch và đạo diễn cho trên 50 vở tuồng cải lương: Nửa Đời Hương Phấn, Tiếng Hạc Trong Trăng, Mắt Em Là Bể Oan Cừu, Đoạn Tuyệt, Sân Khấu về Khuya… Cũng ít ai biết rằng ông chính là tác giả những vở thoại kịch dưới tên Hoàng Dũng, những vở kịch đã lấy nước mắt của biết bao người: Sắc Hoa Mầu Nhớ, Dưới Hai mầu áo… Ông cũng là người sáng tạo ra tiết mục “Tân Cổ Giao Duyên” thật phong phú cho văn nghệ miền Nam. Với các cơ sở Băng đĩa nhạc Continental và Sơn Ca, ông đã cho ra đời nhiều chương trình văn nghệ đặc sắc của dân tộc, nhất là thể loại Dân Ca Ba Miền đã làm rạng danh âm nhạc Việt nam trên thế giới.

 

Với cả một kho văn nghệ đó, Nhạc Sĩ Nguyễn Văn Đông đã đi vào lịch sử Âm Nhạc Việt Nam bằng những bước chân khiêm tốn nhưng trên một tầm cao vững chãi. Ông đã đóng góp cho Văn Hóa Việt Nam một khối lượng khổng lồ những tiếng hát, cung đàn, cả cổ nhạc lẫn tân nhạc, điều mà không một tác giả, nghệ sĩ, nhạc sĩ nào có thể sánh kịp. Nhưng có một điều mà những ai từng có cơ hội chuyện trò với ông, đều thấy rằng ông hồn nhiên, ông đôn hậu, và đầy lòng khiêm tốn. Nhạc sĩ Nguyễn Văn Đông, tuy nổi tiếng vang trời, ông vẫn giữ thái độ ân cần, giản dị với tất cả mọi người. Khi ông nói với người viết bài này: “Em biết không? Anh có bằng Tiến Sĩ Âm Nhạc của Pháp đấy!”, ông chỉ nở một nụ cười nhẹ nhàng như đùa cợt cái những cái mà khó có người đoạt được. Ông không coi trọng bề ngoài mà chỉ chú trọng vào lý tưởng sâu xa. Trên hết, ông là một chiến sĩ đã phục vụ cả đời cho đất nước. Tuy phải miễn cưỡng rời xa nhiệm vụ của một người lính, ông vẫn giữ mãi khí tiết của một quân nhân cao cấp, chấp nhận chết trên quê hương nhưng nhất định không chịu đi làm “Show” ở nước ngoài, bỏ qua mọi lời mời vinh quang trần thế. Ông ra đi, để lại trong lòng dân Việt Nam những giọt nước mắt thầm lặng yêu kính ông, những giọt nước mắt vẫn còn đang nhỏ xuống trên khắp thế giới, nơi nào có người Việt Nam, nơi đó hình ảnh ông vẫn lồng lộng không phai.

  

Chu Tất Tiến, người học trò bất tài.

  

-Một Chiều Văn Nghệ Tưởng Niệm Cố Nhạc Sĩ Đại Tá Nguyễn Văn Đông sẽ được tổ chức tại Nhà Thờ The First Presbyterian (nhà thờ Tròn) trên đường Bolsa, góc Newland, từ 1 giờ đến 4 giờ chiều thứ Bẩy 9 tháng 6 năm 2018. Vào cửa tự do. (714) 398-3678.

 

Gửi ý kiến của bạn
Vui lòng nhập tiếng Việt có dấu. Cách gõ tiếng Việt có dấu ==> https://youtu.be/ngEjjyOByH4
Tên của bạn
Email của bạn
)
Chủ quyền tại Biển Đông là một vấn đề tranh chấp lâu đời và phức tạp nhất giữa Việt Nam và Trung Quốc. Đây sẽ còn là một thách thức trọng yếu trong chính sách đối ngoại của Việt Nam trong nhiều thập niên tới. Hiện nay, dù tình hình Biển Đông vẫn âm ỉ căng thẳng nhưng chưa bùng phát thành xung đột nghiêm trọng, song tình trạng cạnh tranh chiến lược giữa Hoa Kỳ và Trung Quốc trong khu vực Ấn Độ Dương-Thái Bình Dương đang ngày càng gia tăng...
Ngay chính cái tên “Tôi, Không Là Của Ai” đã là một tiếng kêu vừa thẳng thắn, vừa đau đớn. Tôi không là của ai trong cuộc đời này. Tôi không là con của cha tôi. Nhà văn, ký giả Amy Wallace từng lên tiếng, Virginia cũng từng bị chính cha mình ức hiếp khi cô 7 tuổi. Cô khước từ cái quyền sở hữu của những kẻ đã lạm dụng mình. Cô bị khước từ quyền được sống và được làm người, dù đó là những ngày hạnh phúc muộn màng của hơn 20 năm sau ngày cô thoát khỏi Jeffrey Epstein và Ghislaine Maxwell. Khi Virginia viết cuốn tự truyện này là lúc cô đã được hưởng 22 năm tự do. Tự do khỏi Epstein, Maxwell, đường dây mua bán tình dục trẻ em mà cô là một trong những nô lệ tình dục của Epstein. Hai mươi hai năm đó, cô tự thú, “không dễ dàng chút nào.” Không bao giờ có vết thương nào không để lại vết sẹo. Không bao giờ có sự hồi phục nào không để lại trầm tích.
Trump tắt CNN lúc ba giờ sáng. Không phải vì tức giận, mà vì ông vừa nảy ra ý tưởng điên rồ nhất đời mình. “Alexa, triệu tập Washington.” Câu lệnh vang lên trong bóng tối Phòng Bầu Dục như tiếng thần chú của một pháp sư già gọi linh hồn của quá khứ về để chứng minh rằng mình vẫn còn đúng. Thanksgiving năm nay, ông sẽ không ăn gà tây thật. Ông sẽ ăn ký ức. Phòng Bầu Dục rực ánh xanh lam – thứ ánh sáng lạnh của công nghệ và tự mãn. Trên bàn, con gà tây hologram vàng óng, chín hoàn hảo, không mùi, không khói, không có thịt thật. Một con gà tây ảo cho thời đại ai cũng sợ máu thật. Mọi thứ được lập trình để hoàn hảo: bàn tiệc dài, ly rượu đầy, bốn vị lập quốc hiện ra – George Washington, Benjamin Franklin, Thomas Jefferson, James Madison – được tái tạo bằng toàn bộ diễn văn, thư từ, và những câu họ chưa bao giờ nói. Bốn AI hoàn hảo.
Hội nghị khí hậu Liên Hiệp Quốc lần thứ ba mươi COP30 ở Belém, diễn ra trong bầu khí quyển nặng trĩu: trái đất nóng dần, còn các cường quốc vẫn cãi nhau về “mục tiêu” và “cam kết”. Biểu mức phát thải, phần trăm, hạn kỳ — tất cả lặp lại như những mùa họp cũ. Nhưng đằng sau lớp từ ngữ ấy, trật tự năng lượng của thế giới đã chuyển hướng. Cái trục quyền lực của thời đại đã dời khỏi phương Tây. Từ Tô Châu đến Quảng Đông, những nhà máy nối dài đã âm thầm định giá tương lai của mặt trời và gió. Trung Quốc không nói nhiều. Họ làm. Đến cuối năm 2024, Bắc Kinh vượt sớm mục tiêu 2030, đạt hơn một ngàn bốn trăm gigawatt gió và mặt trời — gấp bốn lần toàn Liên hiệp Âu châu. Tám phần mười chuỗi cung ứng quang điện nằm trong lãnh thổ của họ. Pin và xa điện xuất khẩu hàng chục tỉ Mỹ kim, kéo giá năng lượng sạch xuống một mức không còn cần trợ cấp.
Việc đình trệ gọi thầu dầu hỏa hai năm từ 1971 phải chờ qua 1973 rút cục đã giết chết chương trình tìm dầu của Việt Nam Cộng Hòa (VNCH) và theo đó đã đốt cháy một cơ may lớn lao có nhiều triển vọng cứu vãn, duy trì và phát triển miền Nam. VNCH đã tìm được dầu hỏa ở Mỏ Bạch Hổ trong tháng Hai năm 1975. Thật nhiều dầu mà lại thật quá trễ.
“Tôi từ chức để có thể lên tiếng, ủng hộ các vụ kiện tụng và hợp tác với các cá nhân và tổ chức khác tận tâm bảo vệ pháp quyền và nền dân chủ Mỹ. Tôi cũng dự định sẽ bảo vệ những thẩm phán không thể công khai lên tiếng bảo vệ chính mình. Tôi không thể chắc chắn rằng mình sẽ tạo ra sự khác biệt. Tuy nhiên, tôi nhớ lại những gì Thượng nghị sĩ Robert F. Kennedy đã nói vào năm 1966 về việc chấm dứt chế độ phân biệt chủng tộc ở Nam Phi: “Mỗi khi một người đứng lên vì một lý tưởng, hoặc hành động để cải thiện cuộc sống của người khác, hoặc chống lại sự bất công, người đó sẽ tạo ra một đợt sóng hy vọng nhỏ bé.” Khi những đợt sóng nhỏ bé này hội tụ đủ, lúc đó có thể trở thành một cơn sóng thần.
Khi lịch sử bị xem nhẹ, nó không ngủ yên mà trở lại, nghiêm khắc hơn. Và mỗi khi nước Mỹ bước vào thời kỳ chia rẽ sâu sắc, tiếng vọng ấy lại dội về – nhắc rằng ta từng đi qua những năm tháng hỗn loạn, và vẫn tìm được lối ra. Robert A. Strong, học giả tại Đại học Virginia, cho rằng để hiểu nước Mỹ hiện nay, ta nên nhìn lại giai đoạn giữa hai đời tổng thống Ulysses S. Grant và William McKinley – từ năm 1876 đến 1896. Hai mươi năm ấy là một bài học sống động về cách một nền dân chủ có thể trượt dài trong chia rẽ, rồi chậm chạp tự điều chỉnh để tồn tại.
Khu vực Ấn Độ Dương-Thái Bình Dương (Indo-Pacific) đang nổi lên như trung tâm chiến lược của thế kỷ XXI, nơi giao thoa lợi ích của các cường quốc hàng đầu thế giới. Với 60% dân số toàn cầu, hơn một nửa GDP thế giới, và các tuyến hàng hải trọng yếu nhất hành tinh, khu vực này giữ vai trò quyết định trong ổn định an ninh, thương mại và năng lượng quốc tế...
Washington vừa bật sáng lại sau bốn mươi ngày tê liệt. Nhưng cái cảm giác “ổn rồi” chỉ là ảo giác. Đằng sau cái khoảnh khắc “chính phủ mở cửa trở lại” là câu chuyện nhiều tính toán, mà trung tâm của cuộc mặc cả chính là Obamacare – chương trình từng giúp hàng chục triệu người có bảo hiểm y tế – nay trở thành bệnh nhân bị đặt lên bàn mổ của chính quyền Trump, với con dao ngân sách trong tay Quốc hội.
Đã là người Việt Nam, nếu không trải qua, thì ít nhất cũng đã từng nghe hai chữ “nạn đói.” Cùng với lịch sử chiến tranh triền miên của dân tộc, hai chữ “nạn đói” như cơn ác mộng trong ký ức những người đã sống qua hai chế độ. Sử sách vẫn còn lưu truyền “Nạn đói năm Ất Dậu” với hình ảnh đau thương và những câu chuyện sống động. Có nhiều người cho rằng cũng vì những thăng trầm chính trị, kinh tế, mà người Việt tỵ nạn là một trong những dân tộc chịu thương chịu khó nhất để sinh tồn và vươn lên. Thế giới nhìn chung cho đến nay cũng chẳng phải là vẹn toàn. Dù các quốc gia bước sang thế kỷ 21 đã sản xuất đủ lương thực để nuôi sống tất cả mọi người, nạn đói vẫn tồn tại, bởi nhiều nguyên nhân. Có thể kể như chiến tranh, biến đổi khí hậu, thiên tai, bất bình đẳng, bất ổn kinh tế, và hệ thống lãnh đạo yếu kém.


Kính chào quý vị,

Tôi là Derek Trần, dân biểu đại diện Địa Hạt 45, và thật là một vinh dự lớn lao khi được đứng nơi đây hôm nay, giữa những tiếng nói, những câu chuyện, và những tâm hồn đã góp phần tạo nên diện mạo văn học của cộng đồng người Mỹ gốc Việt trong suốt một phần tư thế kỷ qua.
Hai mươi lăm năm! Một cột mốc bạc! Một cột mốc không chỉ đánh dấu thời gian trôi qua, mà còn ghi nhận sức bền bỉ của một giấc mơ. Hôm nay, chúng ta kỷ niệm 25 năm Giải Viết Về Nước Mỹ của nhật báo Việt Báo.

Khi những người sáng lập giải thưởng này lần đầu tiên ngồi lại bàn thảo, họ đã hiểu một điều rất căn bản rằng: Kinh nghiệm tỵ nạn, hành trình nhập cư, những phức tạp, gian nan, và sự thành công mỹ mãn trong hành trình trở thành người Mỹ gốc Việt – tất cả cần được ghi lại. Một hành trình ý nghĩa không những cần nhân chứng, mà cần cả những người viết để ghi nhận và bảo tồn. Họ không chỉ tạo ra một cuộc thi; họ đã và đang xây dựng một kho lưu trữ. Họ thắp lên một ngọn hải đăng cho thế hệ sau để chuyển hóa tổn thương thành chứng tích, sự im lặng thành lời ca, và cuộc sống lưu vong thành sự hội nhập.

Trong những ngày đầu ấy, văn học Hoa Kỳ thường chưa phản ánh đầy đủ sự phong phú và đa dạng về kinh nghiệm của chúng ta. Giải thưởng Viết Về Nước Mỹ thực sự đã lấp đầy khoảng trống đó bằng sự ghi nhận và khích lệ vô số tác giả, những người đã cầm bút và cùng viết nên một thông điệp mạnh mẽ: “Chúng ta đang hiện diện nơi đây. Trải nghiệm của chúng ta là quan trọng. Và nước Mỹ của chúng ta là thế đó.”


Suốt 25 năm qua, giải thưởng này không chỉ vinh danh tài năng mà dựng nên một cộng đồng và tạo thành một truyền thống.
Những cây bút được tôn vinh hôm nay không chỉ mô tả nước Mỹ; họ định nghĩa nó. Họ mở rộng giới hạn của nước Mỹ, làm phong phú văn hóa của nước Mỹ, và khắc sâu tâm hồn của nước Mỹ. Qua đôi mắt họ, chúng ta nhìn thấy một nước Mỹ tinh tế hơn, nhân ái hơn, và sau cùng, chân thật hơn.

Xin được nhắn gửi đến các tác giả góp mặt từ bao thế hệ để chia sẻ tấm chân tình trên các bài viết, chúng tôi trân trọng cảm ơn sự can đảm của quý vị. Can đảm không chỉ là vượt qua biến cố của lịch sử; can đảm còn là việc ngồi trước trang giấy trắng, đối diện với chính mình, lục lọi ký ức đau thương sâu đậm, và gửi tặng trải nghiệm đó đến tha nhân. Quý vị là những người gìn giữ ký ức tập thể và là những người dẫn đường cho tương lai văn hóa Việt tại Hoa Kỳ.

Với Việt Báo: Xin trân trọng cảm ơn tầm nhìn, tâm huyết, và sự duy trì bền bỉ giải thưởng này suốt một phần tư thế kỷ.
Khi hướng đến 25 năm tới, chúng ta hãy tiếp tục khích lệ thế hệ kế tiếp—những blogger, thi sĩ, tiểu thuyết gia, nhà phê bình, nhà văn trẻ—để họ tìm thấy tiếng nói của chính mình và kể lại sự thật của họ, dù đó là thử thách hay niềm vui. Bởi văn chương không phải là một thứ xa xỉ; đó là sự cần thiết. Đó là cách chúng ta chữa lành, cách chúng ta ghi nhớ, và là cách chúng ta tìm thấy nơi chốn của mình một cách trọn vẹn.

Xin cảm ơn quý vị.

NHẬN TIN QUA EMAIL
Vui lòng nhập địa chỉ email muốn nhận.