Hôm nay,  

nuôi nấng, nâng niu, che chở

11/07/202320:08:00(Xem: 2343)

Nhà văn Andrew Lâm với những hoài niệm về người mẹ luôn tận tuỵ, yêu thương, bảo bọc của anh
và những năm tháng thăng trầm của lịch sử Việt.
 

blank
Vào giữa những năm 1960, mẹ của Andrew Lam đã điều hành một cô nhi viện ở Sa Đéc, tại miền Đồng bằng sông Cửu Long, khi cha ông đang được đóng quân ở đó.


Tôi đã giảng dạy ở nhiều trường đại học, không cần giáo án, nhưng trong khoảnh khắc đau buồn nhất này của đời mình, tôi không thể thốt lên điều gì mà không phải viết ra trên giấy.

Nhưng trước tiên, gia đình tôi muốn cảm ơn tất cả mọi người đã tới đây hôm nay để tôn vinh mẹ của chúng tôi. Tôi tin chắc rằng bà đã từng cưu mang quý vị lần nào đó trong đời, ôm vài người trong quý vị, kể cho cho quý vị nghe nhiều câu chuyện hay, và với một số ít người may mắn, bà có thể đã trách mắng quý vị, bảo quý vị phải cư xử cho đúng mực và phải phép…

Nhiều năm trước, một trong những người hướng dẫn của tôi, Giáo sư Franz Schurman, và tôi đã tranh luận về Chiến tranh Việt Nam và nỗi ám ảnh kinh hoàng của nó. Ông ấy nói đại khái thế này: “Đàn ông luôn sẵn sàng lao mình vào chiến trận, đương đầu với cái chết, nhưng phụ nữ… họ sẽ đứng bên tán cây đời.”

Tôi biết ông ấy đang ẩn dụ về những khuôn mẫu giới tính đã định hình trên thế giới của chúng ta, nhưng dĩ nhiên tôi lập tức liên tưởng đến ba mẹ của mình.

Ba tôi đã chiến đấu trong cuộc chiến tranh Việt Nam 25 năm, chiến đấu đến tận cùng và thất bại. Ông đã chứng kiến mọi sự hủy diệt và nỗi đau kéo dài qua nhiều thế hệ.

Vậy còn mẹ tôi? Bà lớn lên ở miền Bắc Việt Nam, trải qua chiến tranh và nạn đói mà sau đó bà đã hoà mình vào cuộc di cư vĩ đại trong lịch sử từ miền Bắc vào miền Nam năm 1954, khi Việt Nam bị chia cắt thành hai miền, và một cuộc nội chiến kéo dài sau đó.

Mẹ tôi sinh năm 1932 trong một gia đình giàu có ở Thái Bình, Việt Nam. Mẹ nhớ đã chứng kiến đoàn đoàn lớp lớp nông dân lũ lượt đổ về thành phố của bà trong nạn đói năm 1945 để xin ăn. Lúc đó mẹ tôi đã mười hai sắp tròn mười ba tuổi. Vì ông ngoại tôi lúc đó đã dự trữ được một số lượng lớn gạo, mẹ tôi và anh trai bà quyết định đem nấu cháo. Họ nấu cháo loãng trong một chiếc nồi lớn của gia đình, và vào mỗi buổi sáng, họ múc ra thật nhiều để đem cho những người xin ăn gần nhà. Họ làm thế hết tuần này đến tuần khác.

Mỗi ngày mẹ đều thấy người ta đến hốt xác chết và đẩy đi chôn. Mẹ đã tận mắt thấy một đứa bé ngồi trên đống xác, và rồi chính nó cũng gục xuống, và chết. Mẹ cũng từng chứng kiến cảnh cảnh sát điên cuồng tra tấn một người phụ nữ vì bà ta đang ăn thịt một đứa trẻ dưới chân cầu.

Nhưng trong tất cả những câu chuyện đó, điều mẹ tôi chưa bao giờ quên, là việc bà đã hạnh phúc biết nhường nào khi tự tay mình nấu cháo để làm ấm lòng những người đói khổ.

Nuôi dưỡng, Nâng niu, Bảo bọc. Đối mặt với thực tại khốc liệt bằng sự tử tế và độ lượng – đó chính là bản chất của mẹ tôi.

Điều đó thật sự ý nghĩa, khi mẹ chuyển vào miền Nam và kết hôn với ba tôi, một sĩ quan quân đội miền Nam Việt Nam được phong hàm tướng lúc tôi vừa chào đời. Mẹ sử dụng quyền lực của một phu nhân để giúp đỡ những người nghèo khổ.

Lúc đó nhà tôi ở Sa Đéc, sâu trong lòng đồng bằng sông Cửu Long, nơi mẹ tôi xây dựng nên một cô nhi viện. Mẹ tổ chức quyên góp và thuyết phục những người có quyền lực và giàu có trong khu vực đóng góp tài nguyên, tiền bạc và đất đai, và chỉ không lâu sau đó xây nên hai tòa nhà cho trẻ mồ côi với một nhà bếp ở giữa.

Tôi nhớ những đứa trẻ đó gọi mẹ là mẹ. Và lúc đó tôi mới bốn tuổi, tôi khóc nức nở. “Nhưng đây không phải là mẹ của bạn,” tôi gào thét. “Đó là mẹ tôi.”

Tất nhiên, mẹ là người gần gũi nhất có thể được coi là mẹ của những đứa trẻ ấy. Mẹ chăm sóc và nuôi dưỡng chúng. Mẹ ăn và hát cùng chúng. mẹ đưa chúng đi học. Theo thời gian, mẹ thậm chí còn đưa một số người lên đại học, và có hai người thậm chí đã sang đến Thụy Sĩ, được học bổng, trước khi chiến tranh kết thúc.

Và đúng vậy, một người sau này đã trở thành bác sĩ ở Mỹ – đó là người duy nhất, mẹ tôi nhắc lại với tôi, gọi mẹ là mẹ “thực sự trở thành bác sĩ”.

Khi những trận đánh trở nên khốc liệt hơn, và các bệnh viện quá tải trong cuộc Tổng tiến công Tết, mẹ tôi đã biến một nửa cô nhi viện thành một bệnh viện dã chiến. Ở đó, má cùng với các y tá và nhân viên xã hội chăm sóc cho những người lính bị thương, và một trong những phụ tá của mẹ đã gặp gỡ một đại úy bị thương, và họ đã yêu nhau. Mẹ tôi, tất nhiên, đã chủ trì hôn lễ của họ.


Bên tán cây đời

Yêu thương, che chở luôn là bản năng của mẹ. Lúc tôi còn là một đứa trẻ, tôi thường nghĩ ba tôi là một người hùng. Người bay trên trực thăng và ra lệnh thả bom từ trên trời xuống, và ba nhảy dù xuống mặt đất nhẹ như không – ba như một vị thần sấm sét, như James Bond, nhưng còn mẹ tôi? Chắc chắn, mẹ là một con sư tử đích thực. Và khi phải che chở gia đình, mẹ không hề sợ hãi.

Khi chiến tranh gần kết thúc, ba tôi và quân đội của ông bị buộc phải rút lui về phía nam từ thành phố Huế gần vùng phi quân sự nơi ông đang chỉ huy. Họ di chuyển bằng tàu thủy lục xuôi về phía nam Đà Nẵng; và lúc đó việc tản cư rất khó khăn. Nhiều người thương vong.

Vì không biết ba tôi còn sống hay đã hy sinh, mẹ tôi bay từ Sài Gòn ra Đà Nẵng. Và mẹ đã không ra đi tay không: không, mẹ mang theo hàng chục con gà từ trang trại của gia đình tôi ở ngoại ô Sài Gòn. Và mẹ mang theo cả gạo.

Sau lưng mẹ, những trận mưa pháo không ngừng trút xuống, trên đèo Hải Vân và khắp Đà Nẵng, giết chết không biết bao nhiêu người, nhưng mẹ vẫn phải nấu ăn. Dưới hàng dừa bên bãi biển gần căn cứ hải quân, mẹ dựng lên một cái bếp dã chiến để đợi chồng mình và quân đội của ông về. Phu nhân của vị tướng đã ra lệnh cho một số thủy thủ bắt đầu châm lửa, và họ cùng nhau nấu cháo gà trong những thùng thép lớn. Khi những chiếc tàu đổ bộ chở quân cập bến, với những người đàn ông tả tơi và suy kiệt vì đói sau mấy ngày lênh đênh trên biển – Mẹ đã nấu cho họ một bữa no say.”

“Ba của con ngạc nhiên lắm. Ổng không ngờ mẹ lại có mặt ở đó,” sau này mẹ tôi cười nhớ lại. “Nhưng ba con yếu đến mức lính của ông phải kéo ông vào bờ.” Sau đó, ẹá cười nhiều hơn khi nghĩ về những người lính mà mẹ đã chăm nuôi. “Giá mà con được nhìn thâý gương mặt của những chàng trai trẻ ấy. Cách họ ăn cháo. Họ còn nói, “Thưa phu nhân, bà đã cứu mạng chúng tôi.'”

Là một nhà báo và nhà văn, tôi đã viết về nỗi đau mà con người trải qua do chiến tranh và hậu quả của nó, cách nó khiến nhiều người suy sụp trong cuộc sống gia đình, sa vào nghiện ngập, rượu chè. Nhưng tôi thường tự hỏi về mẹ của tôi. Làm thế nào mà mẹ tôi đã giữ được sự lạc quan và tận tuỵ làm những điều tốt đẹp khi cái chết và sự huỷ diệt luôn hiện diện trong những năm tháng lúc má còn ở Việt Nam, và tại sao những ký ức về chiến tranh không ám ảnh mẹ ở Mỹ?

Rồi tôi nhận ra rằng, chính nỗi khao khát được chở che, bản năng nuôi nấng và cứu sống, hết mình vì người khác – đã tạo nên cốt lõi và tinh thần thật sự của mẹ tôi, và đó chính là thần dược tinh thần của mẹ để chống lại nỗi đau. Chiến tranh, cái chết và nỗi buồn không chiếm hữu được mẹ. Ở nhiều mặt, mẹ là người sở hữu chúng: mẹ luôn vững chãi giữa những lúc khốn cùng của cuộc đời.

Nghĩa là, mẹ còn phải bận nấu súp.

Và rồi cuộc chiến kết thúc, và kết thúc một cách tồi tệ. Miền Nam thua cuộc, và giống như tất cả những người khác đã lánh nạn sang Mỹ, gia đình tôi mất đi tất cả.

Chúng tôi phải bắt đầu tất cả lại từ đầu.

Mẹ tôi và chị gái bắt đầu làm việc trong một nhà hàng nhỏ trên đỉnh đồi ở Daly City, California. Chị gái tuổi teen của tôi cũng phụ giúp gia đình. Anh trai cả làm việc trong một siêu thị bên đường phố đối diện và cũng giúp đỡ chúng tôi với thu nhập nhỏ trong khi đang học trung học. Tôi quá trẻ để làm bất cứ điều gì ngoài việc than thở và cảm thấy khốn khổ vì bị bỏ rơi. Tôi gặp ác mộng. Tôi nhớ ba tôi, người đã phải ở lại.

Sau đó, ngay sau khi chúng tôi đến Mỹ, có tin ba tôi đã ra khỏi Việt Nam, sau khi chúng tôi vừa bay qua biển. Cả nhà tôi rất vui mừng. Chúng tôi mở tiệc ăn mừng. Ba đã sống sót. Nhưng khi ba về, ông trở thành một người đàn ông khác – gầy gò, tối tăm và buồn bã. Ba là người đàn ông thất bại, đầy đau khổ.

Không ngừng bị giày vò bởi những chấn thương và mất mát vì đã chứng kiến nhiều cảnh thương vong, ông ngồi thu mình trong phòng ngủ và suy ngẫm. Vào buổi tối, ông thường ra phòng khách xem tin tức – ông nghe Walter Cronkite đưa những tin tồi tệ. Ông uống rượu whiskey với soda và đá. Sau đó, ông lui về phòng ngủ trong im lặng.



Đôi khi ông sẽ ăn tối cùng cả nhà. Những lúc khác, ông chỉ ăn một mình.

Ông gần như bị tê liệt bởi nỗi kinh hoàng và những mất mát, nhục nhã ê chề vì thất bại. Cánh cửa của cái chết và tuyệt vọng không đóng lại sau cuộc chiến. Nó đang rủ rê ông.

Mẹ tôi lo lắng. Nhưng sau khoảng một năm, bà không thể chịu nổi khi nhìn ba tôi như thế. Mất đi một quốc gia và vật lộn để sống sót trong cảnh nghèo đói ở một nơi khác với ba đứa con đã quá căng thẳng, nhưng trên tất cả, ba tôi là một người chồng bất lực với ám ảnh về những linh hồn ma quái.

Một đêm nọ, cuộc tranh cãi dữ dội đã nổ ra giữa ba má tôi.

Trong căn gác nhỏ trên quán ăn mà má đang làm việc, tiếng la hét vọng ra. “Anh phải sống cho đàng hoàng,” mẹ lớn tiếng la ba. “Tỉnh dậy khỏi cái tình trạng mê sảng ngu ngốc này đi!” Bà đe dọa rằng sẽ mang theo các con và bỏ ba một mình nếu ông không thay đổi.

Phải nhớ rằng đây là một người phụ nữ mà trước đây – ở một quốc gia khác – đã liều mình để cứu chồng mình khi ông bơi ra giữa biển. Vài cuộc cãi nhau nữa đã diễn ra, và không lâu sau đó mọi rạn nứt giữa họ được hàn gắn, để rồi, vào một đêm muộn, khi tôi đang cuộn mình trong chiếc túi ngủ hỏng trên một chiếc giường nhỏ trong phòng ngủ, tôi nghe thấy tiếng ba mẹ tôi nói chuyện bên ngoài.

“Anh thề với em đi,” mẹ thì thầm. “Anh thề với em rằng anh sẽ cố gắng hết mình để giúp mình thoát nghèo. Anh thề với em rằng anh sẽ làm mọi điều có thể để nuôi sống gia đình. Làm lại tất cả, một cách trọn vẹn, để con mình được lớn lên trong đầy đủ hạnh phúc.”

Ba tôi im lặng hồi lâu, rồi ông nói: “Anh hứa với em. Anh sẽ bảo đảm rằng con cái chúng ta sẽ được nuôi dạy chu đáo.”

Tôi nhớ rõ khoảnh khắc đó. Tôi chỉ nằm đó giả vờ ngủ, nhưng đã lặng lẽ khóc. Tôi chưa bao giờ chia sẻ điều đó với bất kỳ ai cho đến bây giờ, ngay cả với anh chị em tôi. Nhưng ngay lúc đó, tôi biết: mẹ tôi đang thực hiện lời thề với chính mình. Ở một mức độ nào đó, bà đang cố gắng hàn gắn hôn nhân của mình, nhưng ở một mức độ sâu hơn, bà thực sự đang liều mình để bảo vệ sự gắn bó vững chãi của gia đình – điều mà mẹ trân trọng hơn tất cả – để cứu ba tôi một lần nữa.

Mẹ đang điều chỉnh tầm nhìn của ông xa khỏi những hồn ma của chiến tranh, hướng về một tương lai tươi sáng ở Mỹ – hứa hẹn một cuộc sống tốt đẹp. Thực chất, mẹ đang nói: “Hãy thoát khỏi những hồn ma và trở về với em. Đứng cạnh em bên tán cây đời này. Chúng ta hãy cùng vun xới nó, để nó đơm hoa kết trái. Hãy cùng em đắp xây một cuộc sống trọn vẹn nhất!”

Và ba đã thực hiện tất cả những gì ông đã hứa với mẹ tôi.

Không lâu sau đêm đó, ba đã tìm được công việc tại Ngân hàng Mỹ. Ông học và lấy được bằng cử nhân chính trị học; ba học ban đêm ở trường và, qua những nỗ lực vượt bậc, ba đã đạt được bằng cao học về quản trị kinh doanh. Sau một thời gian, ba trở thành Phó Tổng Giám đốc phụ trách bộ phận đầu tư tại ngân hàng. Sau khi chiến đấu cho một cuộc chiến ở một quốc gia khác trong suốt hai mươi lăm năm, ba đã xây dựng sự nghiệp mới ở một nơi xa lạ, một thành tựu đáng kinh ngạc chưa từng thấy trong số những người đương thời của ông.

Ngay sau khi nhận được tờ ngân phiếu đầu tiên, ba đã mua cho tôi ba tập album để lưu trữ tem. Tôi đã thoát khỏi Việt Nam với bộ sưu tập tem quý giá trong một túi nhựa, nhưng những album nặng chứa tem phải để lại. Món quà này đã làm tôi ngạc nhiên và thích thú vô cùng. Cuối cùng, tôi đã có một nơi để cất giữ những con tem đẹp của mình. Tôi đã dành nhiều tháng sắp xếp chúng và cảm thấy một niềm vui bất tận trong lòng. Bởi vì trong thâm tâm, tôi hiểu rằng – ba thực sự đang thực hiện những lời hứa với mẹ tôi… và tôi, giống như những con tem quý giá của tôi, đã tìm lại được mái ấm.

Để chuẩn bị cho dịp này, gia đình tôi và tôi đã xem qua vô số bức ảnh được ghi lại qua nhiều năm tháng, và khi ngắm nhìn chúng, những câu chuyện hiện lên trong từng bức ảnh không còn là nỗi buồn mà đã trở thành những hoài niệm thân thương và ấm áp.

Những hình ảnh ở Mỹ trải dài suốt hơn bốn thập niên, và chúng gợi nhớ về những buổi tiệc mừng nhà mới, đám cưới, lễ tốt nghiệp và nhiều buổi tiệc sinh nhật, chưa kể đến các kỳ nghỉ và du thuyền ở Châu Âu và Mexico. Tất cả những hình ảnh này cho thấy một hành trình rất dài của chúng tôi từ những năm tháng đầu khi trở thành người tị nạn từ Việt Nam. Đây là một giấc mơ Mỹ theo kiểu Việt Nam.

Và khi tôi sắp xếp lại tất cả những hình ảnh trải dài qua từng năm tháng buồn vui đời người, tôi thề với bạn, tôi như đang nghe thấy tiếng cười hạnh phúc của mẹ tôi vang lên, rộn ràng và vang vọng – bởi vì mẹ biết rằng mẹ đã chiến thắng.

Ước gì tôi có thể chia sẻ nhiều hơn với quý vị về mẹ tôi, nhưng thời gian không cho phép tôi làm điều đó.

Điều tôi có thể chia sẻ với quý vị là: Bệnh Alzheimer đã từ từ lấy đi, từng mảnh một, của mẹ tôi cho đến khi không còn lại gì của người phụ nữ xinh đẹp và sống động trước đây.

Nhưng khi tôi dõi theo mẹ mất dần đi theo năm tháng, tôi kinh ngạc trước một điều kỳ diệu là, mẹ tôi, dù quên cả bản thân mình và quên tôi là ai, vẫn giữ vững bản chất của mình. Cơm không ăn bà sẽ ném ra ban công để cho chim sẻ và chim bồ câu đến ăn, chúng thường ghé thăm bà mỗi buổi sáng. Các chậu cây không chết vì bị bỏ bê mà, bởi ký ức ngắn hạn đang dần mất đi và thị lực ngày càng kém, mẹ đã tưới nước quá nhiều. (Cuối cùng, chúng tôi đã mua cho mẹ những cây phong lan nhựa, và mẹ, không còn nhận ra sự khác biệt, cũng tưới nước cho chúng và tự hào vì những bông hoa đẹp nở bừng lên mỗi sáng.)

Một vài lần khi còn có thể đi bộ một mình, mẹ đột nhiên biến mất, khiến ba tôi hoảng loạn – nhưng thực ra mẹ đã lang thang đi tìm một gia đình mèo hoang gần nhà vì mẹ muốn đem chúng về nuôi. Cũng vì thế, một buổi sáng nọ, tôi đi cùng mẹ, và khi chúng tôi đi bộ dọc con phố, tôi luôn tự hỏi: làm sao một người đã quên mất nơi mình đang sống, phải vất vả để nhớ tên của chính mình, lại có thể nhớ rằng có một con mèo hoang mẹ và những đứa con của nó đang ở gần đó và cần được chăm sóc?

Một người đi đường có thể nhìn thấy một bà lão gầy yếu đang cho các chú mèo con ăn, nhưng đó không phải là điều tôi nhìn thấy vào buổi sáng hôm ấy. Tôi đã nhìn thấy sự thiêng liêng của đôi bàn tay run rẩy đang nâng đỡ những người đói khát và cùng khổ. Điều tôi nhìn thấy là phép màu và hiện thân của tình yêu. Giây phút đó mới tuyệt vời làm sao.

Và như thế, tất cả mọi thứ sinh ra đều phải chết đi, từ tro bụi sẽ trở về tro bụi, như người đời vẫn nói. Nhưng ông trời vẫn không ngừng ban tình yêu xuống khắp cõi tạm của chúng ta; hiện thân qua lòng trắc ẩn và nhân ái của con người, để chở che, nâng đỡ và yêu thương tất cả những sinh linh đang chịu nhiều đau khổ.

Mẹ tôi không biết điều này, nhưng nhiều năm trước khi mẹ cùng ba thề nguyện, lời thề đó đã neo vào tôi. Trong khoảnh khắc đó, từ sâu thẳm trái tim mình, tôi hiểu rằng mình được yêu thương, và được yêu thương một cách vô điều kiện, và vì vậy tôi thấy mình được tự do. Tự do bay xa, tự do đi khắp thế gian. Tự do yêu đắm say. Tự do đau khổ, hoài nghi và thất bại. Tự do chiến thắng. Bởi mỗi khi nhìn lại, tôi thấy ba mẹ tôi luôn ở đó, bên giường cậu bé là tôi ngày nào, và cùng nhau thề nguyện yêu thương.

Phép màu đó vẫn tiếp tục sống mãi đến ngày hôm nay – và lúc này đây tôi muốn chia sẻ nó với tất cả quý vị đang hiện diện nơi đây để tôn vinh cuộc đời của mẹ tôi, tất cả họ hàng, thân bằng quyến thuộc đã làm sống dậy những hoài niệm về mẹ tôi và lòng độ lượng của người, và tất cả những người đã mất đi những người thân yêu… xin được gọi tên tất cả.

Trước hết, khi cuộc sống trở nên khó khăn, hãy nhớ nấu súp. Và, nếu có thể, quý vị hãy san sẻ với những người đang đói khát.

Quan trọng hơn, hãy mở rộng lòng mình, sống vì người khác, đứng vững bằng cả sức mạnh và lòng dũng cảm của mình để tồn tại giữa cuộc đời, ngay cả khi đối diện với bóng tối và tuyệt vọng, hãy đứng dưới bóng cây của sự sống.

Hãy tiếp tục yêu thương, ngay cả đôi khi đó là điều khó nhất. Bất chấp tất cả nỗi buồn và nước mắt, hãy đứng kiên cường dưới gốc cây đó, chăm sóc nó, và đón chờ hoa thơm quả ngọt.

Hãy đứng đến giây phút cuối cùng, và bạn sẽ không bao giờ, không bao giờ phải đứng một mình.

Andrew Lâm 
Bản dịch của Võ Hương Quỳnh



Đọc bản Anh Ngữ To Feed, to Nurture, to Protect trong trang World Literature Today. 

Gửi ý kiến của bạn
Vui lòng nhập tiếng Việt có dấu. Cách gõ tiếng Việt có dấu ==> https://youtu.be/ngEjjyOByH4
Tên của bạn
Email của bạn
)
09/01/202600:00:00
Người Việt mình, nói cho gọn, là dân có rất nhiều ý kiến. Chuyện gì cũng bàn — bóng đá, chính trị, kinh tế, đến cả… triết học. Ấy vậy mà khi đụng đến nghệ thuật, nhiều người lại im lặng lạ kỳ: nghe người ta khen thì gật, thấy đông người thích thì “ừ, chắc hay đó”, sao cũng được, miễn không phải động não. Một chương trình ca nhạc làm ẩu, ánh sáng lòe loẹt, tiết mục chắp vá — vẫn được tung hô “hoành tráng”. Một không gian trang trí lủng củng, rối mắt, thiếu tiết điệu, thiếu khoảng lặng để mắt nghỉ — vẫn được tán tụng “rực rỡ”. Một cuốn sách lỏng lẻo, thiếu nội dung, không bố cục, chữ nghĩa vênh váo, vẫn được gắn nhãn “sản phẩm văn hóa”. Ca sĩ giọng yếu, phát âm ngọng nghịu, chỉ cần ngân chút “mùi mẫn” là thành “có hồn”.
09/01/202600:00:00
Trong buổi họp báo tại Mar-a-Lago ngày 3 tháng 1 năm 2026, Trump nói rất thẳng. Mục tiêu của Hoa Kỳ tại Venezuela không phải là điều gì mờ ám hay úp mở. Trái lại, ông nêu ra ít nhất bốn mục tiêu, rõ ràng đến mức không thể hiểu lầm: giành thêm quyền tiếp cận dầu hỏa Venezuela; chặn đường ma túy; cắt dòng di dân; và đưa Venezuela trở lại con đường dân chủ. Vấn đề không nằm ở chỗ thiếu minh bạch. Vấn đề nằm ở chỗ bốn mục tiêu ấy không thể cùng tồn tại. Mỗi mục tiêu, nếu xét đến cùng, đều mâu thuẫn với ít nhất một mục tiêu khác. Có mục tiêu này thì phải hy sinh mục tiêu kia. Và khi sự hy sinh ấy xảy ra, ưu tiên thật sự của Washington sẽ lộ diện.
08/01/202611:41:00
Hôm qua, thứ Tư, bà Renee Nicole Good, 37 tuổi, người mẹ ba con ở Minneapolis, lãnh ba phát đạn từ tay đặc vụ ICE – chết ngay giữa đường. Chính quyền Trump qua bà Tricia McLaughlin – thư ký báo chí Bộ Nội An – nhả ngay kịch bản: "Bà ta là 'kẻ bạo loạn hung hãn', dùng xe cán lính, lính bắn tự vệ!" Bà Kristi Noem – bộ trưởng Nội An – vội phong cho nạn nhân danh hiệu "khủng bố nội địa", như thể bà này là du kích ISIS cầm lựu đạn xông vào Nhà Trắng. Chẳng chứng cớ chi hết, chỉ có miệng lưỡi chính trị nhả khói cho vừa kịch bản. Tổng thống Trump xem video một cái là phán: "Bà ta hành động kinh tởm, không phải 'cố tông' mà tông thật!" Ủa, video rõ mồn một: xe bà lùi nhẹ rẽ phải chạy trốn, lính ICE lành lặn bước đi sau đó. Cảnh sát trưởng Minneapolis Brian O’Hara xác nhận: "Chỉ bà ấy bị trọng thương!" Nhưng nhằm nhò gì, Trump-Noem cần kịch bản phải thế thì nó phải thế!
06/01/202619:47:00
Hôm nay, một dòng chữ xuất hiện nhiều trên mạng xã hội: “Jan 06 – Never Forget.” Nếu Donald Trump bị ám ảnh bởi cuộc tranh cử thất bại năm 2020 như thế nào thì vết thương của Đồi Capitol về một ngày bạo loạn cũng hằn sâu như thế. Khác biệt ở chỗ, rồi sẽ có một ngày, khi ra đi, Trump không thể nhớ mình đã từng thua ông Joe Biden. Nhưng vết sẹo của cuộc bạo loạn và hành động của người khởi xướng, vĩnh viễn đi vào lịch sử.
05/01/202618:16:00
Đức Giáo Hoàng Leo XIV, vị giáo hoàng người Mỹ đầu tiên trong lịch sử, đã công khai phản đối chiến dịch quân sự của Trump. Trong buổi đọc kinh vào Chủ Nhật tại Quảng Trường Thánh Phêrô, ngài cho biết ông đang theo dõi sát sao diễn biến tình hình ở Venezuela và kêu gọi tôn trọng chủ quyền và nhân quyền của quốc gia này. Một vị giáo hoàng người Mỹ chỉ trích một tổng thống Mỹ vì vi phạm chủ quyền của một quốc gia khác là một biến cố lịch sử. Tổng thư ký Liên hợp quốc Antonio Guterres bày tỏ "quan ngại sâu sắc" về các cuộc tấn công của Mỹ, người phát ngôn của ông dẫn lời ông nói rằng điều này có thể "tạo ra một tiền lệ nguy hiểm". Tiếng nói chỉ trích mạnh mẽ nhất ở Âu Châu là từ Ngoại Trưởng Pháp, Jean-Noël Barrot. Ông đã tuyên bố chiến dịch bắt giữ Maduro "vi phạm nguyên tắc không sử dụng vũ lực, nguyên tắc nền tảng của luật pháp quốc tế".
02/01/202609:30:00
Tổng thống Donald Trump trong năm đầu của nhiệm kỳ thứ hai tập trung vào những chính sách nhập cư, quốc phòng, thương mại và chính sách đối nội, bao gồm tăng cường kiểm soát biên giới, áp đặt thuế quan mới, tạm dừng tuyển dụng nhân viên liên bang, cùng với những biến đổi lớn trong các cơ quan liên bang như Bộ Giáo dục. Ông cũng không quên tìm cách trả thù những nhân vật đối lập.
02/01/202600:00:00
Thế giới sau mười năm như một bản đồ chằng chịt vết thương. Số cuộc chiến đang diễn ra tăng nhanh, nhiều nơi đẫm máu, nhiều nơi âm ỉ chỉ chờ bùng nổ. Trong số đó, bảy điểm nóng sau đây đáng được theo dõi đầu năm 2026.
31/12/202514:02:00
Những ngày cuối năm, dán mắt vào màn hình giữa tiếng ồn ào của mạng xã hội, một câu hỏi tuy cũ nhưng vẫn luẩn quẩn trong đầu người làm báo: vì sao chúng ta vẫn viết?
26/12/202510:43:00
Từ 61% đến 74% dân Mỹ nghĩ rằng Trump đã đưa nước Mỹ đi sai hướng.
26/12/202500:00:00
Có những người sanh ra trong chiến tranh, lớn lên theo với chiến tranh và vẫn theo dõi âm thầm mọi biến động trong chiến tranh. Không thoát khỏi mọi ám ảnh thì âm thầm sống với ám ảnh…ta xin tạm gọi đó là một sự hỗn loạn ổn định. Và sự hỗn loạn ổn định đó ở rải rác mọi nơi… như một nỗi đau kinh niên, trầm kha, dai dẳng ở mọi lãnh vực của con người. Nga phát động chiến dịch xâm lăng lãnh thổ Ukraine từ năm 2022 mà Putin gọi là một chiến sự đặc biệt, đó là một cuộc chiến tiêu hao, đúng ra là muốn đánh mau, thắng gọn, nhưng rồi đã ba bốn năm qua, cuộc chiến đi vào một đường hầm hun hút!
“Đây là quan điểm của người viết, không nhất thiết là quan điểm của Việt Báo.”


Kính chào quý vị,

Tôi là Derek Trần, dân biểu đại diện Địa Hạt 45, và thật là một vinh dự lớn lao khi được đứng nơi đây hôm nay, giữa những tiếng nói, những câu chuyện, và những tâm hồn đã góp phần tạo nên diện mạo văn học của cộng đồng người Mỹ gốc Việt trong suốt một phần tư thế kỷ qua.
Hai mươi lăm năm! Một cột mốc bạc! Một cột mốc không chỉ đánh dấu thời gian trôi qua, mà còn ghi nhận sức bền bỉ của một giấc mơ. Hôm nay, chúng ta kỷ niệm 25 năm Giải Viết Về Nước Mỹ của nhật báo Việt Báo.

Khi những người sáng lập giải thưởng này lần đầu tiên ngồi lại bàn thảo, họ đã hiểu một điều rất căn bản rằng: Kinh nghiệm tỵ nạn, hành trình nhập cư, những phức tạp, gian nan, và sự thành công mỹ mãn trong hành trình trở thành người Mỹ gốc Việt – tất cả cần được ghi lại. Một hành trình ý nghĩa không những cần nhân chứng, mà cần cả những người viết để ghi nhận và bảo tồn. Họ không chỉ tạo ra một cuộc thi; họ đã và đang xây dựng một kho lưu trữ. Họ thắp lên một ngọn hải đăng cho thế hệ sau để chuyển hóa tổn thương thành chứng tích, sự im lặng thành lời ca, và cuộc sống lưu vong thành sự hội nhập.

Trong những ngày đầu ấy, văn học Hoa Kỳ thường chưa phản ánh đầy đủ sự phong phú và đa dạng về kinh nghiệm của chúng ta. Giải thưởng Viết Về Nước Mỹ thực sự đã lấp đầy khoảng trống đó bằng sự ghi nhận và khích lệ vô số tác giả, những người đã cầm bút và cùng viết nên một thông điệp mạnh mẽ: “Chúng ta đang hiện diện nơi đây. Trải nghiệm của chúng ta là quan trọng. Và nước Mỹ của chúng ta là thế đó.”


Suốt 25 năm qua, giải thưởng này không chỉ vinh danh tài năng mà dựng nên một cộng đồng và tạo thành một truyền thống.
Những cây bút được tôn vinh hôm nay không chỉ mô tả nước Mỹ; họ định nghĩa nó. Họ mở rộng giới hạn của nước Mỹ, làm phong phú văn hóa của nước Mỹ, và khắc sâu tâm hồn của nước Mỹ. Qua đôi mắt họ, chúng ta nhìn thấy một nước Mỹ tinh tế hơn, nhân ái hơn, và sau cùng, chân thật hơn.

Xin được nhắn gửi đến các tác giả góp mặt từ bao thế hệ để chia sẻ tấm chân tình trên các bài viết, chúng tôi trân trọng cảm ơn sự can đảm của quý vị. Can đảm không chỉ là vượt qua biến cố của lịch sử; can đảm còn là việc ngồi trước trang giấy trắng, đối diện với chính mình, lục lọi ký ức đau thương sâu đậm, và gửi tặng trải nghiệm đó đến tha nhân. Quý vị là những người gìn giữ ký ức tập thể và là những người dẫn đường cho tương lai văn hóa Việt tại Hoa Kỳ.

Với Việt Báo: Xin trân trọng cảm ơn tầm nhìn, tâm huyết, và sự duy trì bền bỉ giải thưởng này suốt một phần tư thế kỷ.
Khi hướng đến 25 năm tới, chúng ta hãy tiếp tục khích lệ thế hệ kế tiếp—những blogger, thi sĩ, tiểu thuyết gia, nhà phê bình, nhà văn trẻ—để họ tìm thấy tiếng nói của chính mình và kể lại sự thật của họ, dù đó là thử thách hay niềm vui. Bởi văn chương không phải là một thứ xa xỉ; đó là sự cần thiết. Đó là cách chúng ta chữa lành, cách chúng ta ghi nhớ, và là cách chúng ta tìm thấy nơi chốn của mình một cách trọn vẹn.

Xin cảm ơn quý vị.

NHẬN TIN QUA EMAIL
Vui lòng nhập địa chỉ email muốn nhận.