Hôm nay,  

Dầu Khí và Dân Khí

08/08/201200:00:00(Xem: 16672)
Vấn đề Trung Quốc của Thế Giới và Vấn đề Trung Quốc của Việt Nam

Chiều mùng bốn Tháng Tám, tại Trung Tâm Công Giáo ở Quận Cam, miền Nam California, đã có một cuộc hội thảo về đề tài "Vấn Đề Tranh Chấp Biển Đông". Bốn diễn giả lần lượt là:

1)Cựu Sĩ quan Hải quân Việt Nam Cộng Hoà Vũ Hữu San, nguyên Hạm trưởng Khu trục hạm HQ4 Trần Khánh Dư trong các chiến hạm đã đối đầu với Hải quân Trung Quốc năm 1974 để bảo vệ Hoàng Sa. Sau 1975, tai Hoa Kỳ ông trở thành một chuyên gia có uy tín về hải dương và chủ quyền của Việt Nam ngoài Đông hải. Tác giả của các cuốn biên khảo: Lược-Sử Tổ-Chức Hải-Quân VNCH; Địa-Lý Biển Đông với Hoàng-Sa & Trường-Sa; Vịnh Bắc-Việt & Chủ-Quyền Hải-phận; Tài-liệu Hải-Chiến Hoàng-Sa; Sơ-lược Hải-Sử & Thủy-Quân Nước ta; Chiến-hạm & Chiến-Đĩnh VNCH.

2)Ông Huỳnh Văn Lang, nguyên Tổng giám đốc Viện Hối đoái tại Miền Nam, nhà báo và sau này là doanh gia, và một vị học giả cao niên trong nhiều lãnh vực.

3)Chuyên gia kinh tế Nguyễn-Xuân Nghĩa.

4)Tiến sĩ Mai Thanh Truyết, chuyên gia hóa học và bảo vệ môi trường, Phó Chủ tịch đảng Đại Việt.

Sau đây là phần phát biểu ngắn của ông Nguyễn-Xuân Nghĩa trước khi đi vào phần thảo luận.

Khi còn đi học, nếu có cái may được đi học, đa số chúng ta thường ít chú ý đến hai môn địa dư và lịch sử. Đấy là một thiệt hại cho nhận thức của chúng ta.

Những người có lý tưởng hay tham vọng đều mong hoặc nghĩ rằng mình sẽ thay đổi bộ mặt của xã hội, quốc gia hay thế giới cho người hay vì mình. Thật ra, chúng ta đều bị địa dư ràng buộc mà không ý thức được và nếu có hiểu rõ sự ràng buộc đó trong quá khứ qua môn học về lịch sử thì may ra mình nhìn ra những cách xoay trở để thoát khỏi điều kiện của không gian là địa dư và thời gian là lịch sử. Hai diễn giả Vũ Hữu San và Huỳnh Văn Lang vừa nhắc lại các điều kiện về địa dư và lịch sử đó làm khuôn khổ suy tư cho chúng ta.

Khởi đi từ đó, chúng tôi xoay ngược tầm ngắm vào Trung Quốc để tìm hiểu về mục tiêu và những giới hạn của họ.

Sự Thật Về Trung Quốc

Có lãnh thổ bát ngát tới 10 triệu cây số vuông, thật ra Trung Quốc là một ốc đảo nghèo, thiếu đất và thiếu nước trong khu vực Trung Nguyên trù phú nhất của họ ở miền Đông, trên vùng châu thổ của hai con sông lớn là Hoàng hà và Dương tử.

Thiếu đất vì khu vực Trung Nguyên, cái nôi của văn hoá chính trị xứ này, chỉ có diện tích canh tác tính theo đầu người bằng một phần ba của trung bình thế giới. Thiếu nước vì diện tích nước, tức là vùng chuôm ao sông hồ, chỉ là 0,28% và họ có trữ lượng nước cho dân số thuộc loại thấp nhất Á châu vốn dĩ là lục địa thiếu nước nhất địa cầu - mà càng kỹ nghệ hoá lại càng cần nước.

Ngày nay, 30 năm sau cải cách kinh tế và có sản lượng đứng thứ nhì thế giới, Trung Quốc vẫn là một nước đói ăn và khát dầu.

Đói ăn vì dù sản xuất nhiều nông sản nhất thế giới, xứ này vẫn phải nhập cảng lương thực, vốn dĩ là sản phẩm còn chiến lược hơn dấu thô. Và khát dầu vì công cuộc kỹ nghệ hóa đòi hỏi những nguyên nhiên hoạt liệu mà họ không có trong lãnh thổ và lại lạc hậu nên sử dụng kém hiệu năng.

Đặc tính thứ hai, thuộc về địa dư và lịch sử của xứ này. Trung Quốc là nơi mà sự sợ hãi đã ăn sâu vào tiềm thức của lãnh đạo mọi thời và đã được dựng thành một kỳ quan của thế giới, có thể nhìn thấy từ mặt trăng. Đó là Vạn lý Trường thành, xuất hiện từ thời Chiến Quốc, được mở mang tu bổ trong các đời Tần, đời Minh.

Nỗi sợ hãi ấy xuất phát từ sự kiện Hán tộc kiêu căng đã bị các dị tộc mà họ khinh miệt nhiều lần tấn công từ hướng Tây và hướng Bắc và vào làm chủ Trung Nguyên trong nhiều thế kỷ, từ Hung Nô, Tây Hạ đến Kim, Liêu, Mông Cổ hay Mãn Thanh.

Trong nội bộ, địa dư hình thề là cảnh "tam phân" đến nay vẫn là một nan đề kinh tế.

Thứ nhất, khu vực duyên hải tương đối thịnh vượng tại miền Đông thì đất chật người đông. Thứ hai, khu vực bị khóa trong lục địa là miền Tây thì khô cằn nghèo đói với dân số cũng rất cao đã nhiều lần tiến vào Trung Nguyên làm "cách mạng", từ Tần Thủy Hoàng Đế đến Mao Trạch Đông. Thứ ba là vùng biên giới từ hướng Tây lên phía Bắc là khu vực hiểm trở của núi đèo quan ải, và sa mạc thảo nguyên, nơi xuất phát nhiều đợt tấn công của dị tộc.

Địa thế đó là một bài toán về chính trị và an ninh cho trung ương, triều đình hay Bộ Chính trị.

Chính trị là phải kiểm soát được thế mạnh của Hán tộc tại Trung Nguyên - hoặc của trung ương trên các địa phương nói theo ngôn từ hiện đại. Và an ninh là phải xây dựng "biên trấn" thành "phiên trấn", vùng trái độn quân sự trên lãnh thổ của dị tộc để bảo vệ Trung Nguyên. Vì vậy Tây Tạng, Tân Cương, Nội Mông, Mãn Châu mới thành các vùng chiếm đóng và củng cố như trái độn quân sự. Bên trong là các đặc khu tự trị hành chánh dành cho dị tộc nằm tại các tỉnh bị khóa trong lục địa.


Với di sản đó của địa dư hình thể và lịch sử Trung Quốc, chúng ta bước qua lãnh vực kinh tế.

Trong bốn ngàn năm có sử viết, bài toán kinh tế của xứ này luôn luôn bị bài toán an ninh chi phối. Trung Quốc có thể tồn tại với chế độ tự cung tự cấp và giải quyết nhu cầu trao đổi bằng đường bộ qua lãnh thổ Trung Á, mà ta gọi là "Con Đường Tơ Lụa". Chế độ tự cung tự cấp hoặc bế quan toả cảng đã được Mao Trạch Đông thử nghiệm lần cuối cùng và dẫn tới khủng hoảng.

Khi Đặng Tiểu Bình tiến hành cải cách từ năm 1979 - với lực đẩy tâm lý là những tổn thất quá lớn vì quân đội quá lạc hậu trong cuộc chiến tại Việt Nam năm đó – Trung Quốc đã mở ra ngoài. Nhờ đó mà kinh tế phát đạt hơn, nhưng cũng vì đó mà, lần đầu tiên trong lịch sử, xứ này lệ thuộc vào bên ngoài.

Họ cần thị trường quốc tế cho một hệ thống sản xuất quá tải và lệch lạc so với khả năng tiêu thụ của thị trường nội địa. Họ càng cần tới bên ngoài vì phải nhập cảng nguyên nhiên vật liệu và kỹ thuật cho công cuộc kỹ nghệ hóa ở bên trong.

Nhưng thế giới bên ngoài đã thay đổi....

Chuyện cưỡi ngựa rong xe qua Trung Á không còn là giải pháp. Thế giới ngày nay đã mở ra và thu hẹp lại nên 90% lượng hàng buôn bán từ lục địa này qua lục địa khác đều dùng phương tiện hàng hải, rẻ nhất và có giá trị kinh tế nhất. Hàng hải là phải chở hàng qua biển....

Ra khỏi vùng châu thổ của các con sông lớn, người ta phải qua vùng biển nâu là nơi sông đổ ra biển, rồi biển xanh lục là vùng cận duyên trên thềm lục địa, sau đó mới là vùng biển xanh dương của các đại dương.

Trung Quốc có thể kiểm soát được vùng biển nâu và hết bị hải tặc hay "nụy khấu" giặc lùn uy hiếp như trong quá khứ. Và nay đang tiến ra biển xanh lục với tham vọng sẽ xây dựng được các hạm đội có khả năng tung hoành ngoại đại dương. Họ tập tành chuyện đó từ 20 năm nay và đang có giấc mơ lớn.

Nhưng, ra khỏi vùng biển nâu, Trung Quốc đã thấy sự hiện diện khó chịu và đáng nghi ngờ của đệ nhất siêu cường hải dương, đã có kinh nghiệm dày hơn cỡ trăm năm và phương tiện dồi dào tinh vi gấp bội, là Hoa Kỳ.

Với lối suy nghĩ truyền thống xuất phát từ sự hãi sợ trong xương tủy, lãnh đạo Bắ Kinh không tin vào nguyên tắc tự do lưu thông trên các hải lộ mà thế giới đề cao bằng luật lệ quốc tế - và Hoa Kỳ thực tế bảo vệ trên mọi đại dương của địa cầu.

Họ không tin thế giới và muốn kiểm soát quyền tự do đó vì sợ là có ngày sẽ bị Hoa Kỳ hay các nước bán đảo hoặc quần đảo ở chung quanh thắt họng qua các eo biển từ Đông Bắc Á xuống Đông Nam Á.

Không những vậy, vì nạn đói ăn khát dầu, Trung Quốc còn muốn chiếm vùng biển Đông Nam Á - nơi mà các nước vây quanh không là thế lực đáng kể như Đài Loan, Nam Hàn hay Nhật Bản - để khai thác tài nguyên, từ thủy sản đến năng lượng. Họ tin rằng dưới đáy biển, ngoài thềm lục địa của Việt Nam hay Phi Luật Tân, họ sẽ khai thác được từ một phần ba đến 40% yêu cầu về năng lượng mà khỏi phải tìm đến Trung Đông hay Châu Phi.

Chuyện đói ăn, khát dầu, cướp đất, cướp nước ngọt, v.v... là phản ứng bình thường mà bất thường của một xứ lạc hậu!

Tuy nhiên, là những người trông rộng vì tính xa do kinh nghiệm quá khứ, lãnh đạo Trung Quốc còn muốn biến mặt biển vây quanh thành vùng trái độn quân sự, "hạch tâm nghĩa lợi", tương tự như Tân Cương, Tây Tạng, Mãn Châu hay Đài Loan.

Kết Luận

Vì địa dư hình thể, nơi duy nhất bộ binh Trung Quốc có thể tiến ra ngoài lãnh thổ để dựng vùng trái độn là miền Bắc nước Việt mà họ đã thử nghiệm lần cuối vào năm 1979. Mười năm sau, họ giải quyết bài toán đó với việc bình thường hóa bang giao với Hà Nội, và hai chục năm sau thì hoàn thành mỹ mãn nhờ sự góp sức của đảng Cộng sản Việt Nam với những hiệp định mờ ám và bất công.

Ba chục năm sau, là ngày nay, nếu ta tính từ năm 2009, họ tiến sang giải pháp biến Đông hải của Việt Nam thành vùng trái độn quân sự. Mục tiêu của những động thái vừa qua chính là như vậy.

Thế giới có để chuyện ấy xảy ra hay không là bài toán của các nước. Việt Nam có để chuyện ấy xảy ra hay không, đó là bài toán của người Việt. Nó nằm tại Hà Nội.

Chúng ta nên suy nghĩ về bài toán đó, nhưng không quên những khó khăn chồng chất của lãnh đạo Bắc Kinh ở bên trong. Những yếu tố ngoại xâm và nội loạn này của Trung Quốc phải là một phần trong cách suy ngẫm và ứng phó của chúng ta.

Gửi ý kiến của bạn
Vui lòng nhập tiếng Việt có dấu. Cách gõ tiếng Việt có dấu ==> https://youtu.be/ngEjjyOByH4
Tên của bạn
Email của bạn
)
Tác phẩm Metamorphosis, tạm dịch Biến Dạng của Franz Kafka mở đầu bằng một trong những câu văn gây ám ảnh nhất trong văn học thế giới: khi Gregor Samsa thức dậy và phát hiện mình đã biến thành một con côn trùng khổng lồ. Không có lời cảnh báo, không có lời giải thích, không có sự chuẩn bị kịch tính nào. Cú sốc đến ngay lập tức – và đó là thiên tài của Kafka. Ông không dẫn dắt người đọc bước nhẹ nhàng vào cơn ác mộng của Gregor Samsa. Ông ném độc giả của ông thẳng vào đó, buộc chúng ta phải đối mặt với sự phi lý của sự tồn tại mà không có sự an ủi của logic hay lý trí.
Sự thật là nạn nhân không “bám theo ICE suốt cả ngày” như Kristi Noem đã nói. Cô bị bắn khoảng 9 giờ 30 phút sáng, trên đường quay về sau khi chở con trai cô đến trường học cách đó vài ngã tư đường. Hôm nay, tờ New York Times và Washington Post đã có video và bài phân tích chi tiết những gì xảy ra thông qua tất cả video nhân chứng ở hiện trường. Hai tờ báo lớn chỉ ra mỗi phát súng của đặc vụ ICE bắn ra ở góc độ nào, có thật sự vì gặp nguy hiểm tính mạng hay không.
LTS: Biến cố Venezuela sau vụ bắt giữ Nicolás Maduro đang làm rúng động toàn vùng Nam Mỹ. Trong bối cảnh ấy, bà Delcy Rodríguez, 56 tuổi, vốn là phó tổng thống dưới thời Maduro, đã được Tòa án Tối cao và quân đội Venezuela đưa lên nắm quyền lâm thời. Bà cũng là một nhân vật từng được Washington ngỏ ý đối thoại trước đây. Sự kiện này đặt ra câu hỏi: Phải chăng đó là bước đầu của sự "chuyển quyền trong nội bộ," hay chỉ là hồi kế tiếp của cùng một vở tuồng?
Cuộc tấn công và bắt sống vợ chồng Tổng thống Nicolás Maduro ngay trên lãnh thổ Venezuela trong ngày cuối tuần đã trở thành một sự kiện chính trị thế giới hàng đầu khi bước vào năm mới 2026 này. Trong khi những đồng minh của Donald Trump ca ngợi và ủng hộ chiến dịch quân sự này thì ngược lại, một số câu hỏi cũng đã được đặt ra là, liệu một cuộc tấn công quân sự vào Venezuela, một quốc gia không mang tính đe dọa trực tiếp và hiển hiện đến an ninh quốc gia Hoa Kỳ, có được thông báo và sự chuẩn thuận của Quốc Hội Hoa Kỳ theo hiến pháp? Cũng như một chiến dịch quân sự và bắt sống một nguyên thủ quốc gia khác trên lãnh thổ một quốc gia có chủ quyền như Venezuela có đúng với nguyên tắc ngoại giao và công pháp quốc tế hay không?
Người đàn ông lê những bước chân nặng nề giữa hai triền núi mù sương. Gió và bụi cát làm mái tóc dài của ông ta rối bời. Chiếc khăn choàng và áo măng-tô có vẻ không đủ ấm, nên gương mặt hốc hác, mệt mỏi, lấm lem những vết đen như vừa chui ra từ mỏ than. Rồi ngay sau đó, ông ta xuất hiện trong một quán nước, ngồi bên chiếc bàn có ly trà nóng bốc khói nghi ngút trên tay, mắt nhìn xa xăm ra cửa. Một tiếng hát khàn, đục, nặng như những vách núi hai bên đường ông ấy đang đi, vang lên.
Sau khi bài “Chúng Ta Sống Sót” đăng tuần qua, Việt Báo nhận được nhiều hồi âm hơn thường lệ: tin nhắn, điện thoại, thư điện tử. Có người quen, có độc giả chưa từng gặp. Nội dung không khác nhau mấy. Phần lớn là sự đồng cảm. Có người nói đọc xong thấy nhẹ lòng, vì biết mình không phải là kẻ đơn độc nghĩ như thế. Có người gửi lời cảm kích khi có người nói hộ tiếng nói lòng mình. Nhưng điều đáng chú ý không nằm ở nội dung, mà ở cách người ta nhắn gửi hồi âm. Tất cả đều chọn nói riêng. Không bình luận công khai. Không chia sẻ kèm ý kiến. Họ đi bằng “cửa hậu”. Lý do dễ hiểu: không muốn bàn chuyện chính trị nơi công cộng, nhất là trên mạng xã hội — nơi một câu nói có thể bị chụp mũ nhanh hơn tốc độ người ta kịp giải thích mình muốn nói gì.
Năm 2025 đi qua trong chiếc bóng của Donald Trump. Vị tổng thống ồn ào này, với cách hành xử phá bỏ mọi khuôn thước, đã làm xoay chuyển trật tự thế giới: khiến các nền kinh tế lên cơn sốt, nhưng cũng đẩy đồng minh Âu châu phải chi nhiều hơn cho quốc phòng. Bước sang 2026, khi “cơn lốc Trump” vẫn còn cuộn, đây là mười điều đáng dõi theo.
Năm 2025 đang khép lại. Không tổng kết. Không lời ca tụng. Chỉ lặng lẽ như một người vừa đi qua nhiều mất mát — chẳng còn hơi sức nói thêm điều gì. Nhìn lại — năm 2025 không dạy ta cách thắng, mà dạy ta cách không ngã gục. Chúng ta sống sót — vì thói quen nhiều hơn hy vọng. Quen giá cả leo nhanh hơn đồng lương. Quen nhìn nhau bằng ngờ vực hơn cảm thông. Quen tin dữ đến sớm hơn cà phê sáng. Quen mỗi ngày đều phải chọn một nỗi lo để mang theo, bởi không ai ôm nỗi chừng ấy đổ vỡ vào lòng cùng lúc.
Con người ở bất cứ nơi nào trên thế giới cũng có quyền được hạnh phúc và tạo ra hạnh phúc. Nó giống như dưới bầu trời có thể xảy ra trận không kích bất cứ lúc nào, dù ngày hay đêm, nhưng người Ukraine vẫn có thể khảy lên tiếng đàn Bandura. Một năm qua, ai trong chúng ta không mệt mỏi với những dòng chảy đầy bụi bặm, thoát ra từ một gánh xiếc nghiệp dư, mang theo những chất dơ của hận thù, ích kỷ, tham vọng, độc tài. Những ngày cuối cùng của năm 2025, hãy nói về Lửa Và Tro (Avatar: Fire and Ash), thưởng thức siêu phẩm giả tưởng của James Cameron, để cùng khép lại một năm ngộp thở của nước Mỹ, và cùng chiêm nghiệm một điều mà nước Mỹ đang cố tình lãng quên.
Mùa Giáng Sinh này, khi chúng ta chúc nhau an lành, hòa bình và thiện chí, có lẽ ta biết rõ hơn bao giờ hết, mình sẽ là người mở cửa quán trọ hay là Herod của thời đại mới? Khi đó, chúng ta sẽ hiểu — Chúa ở bên ai trong mùa Giáng Sinh này.


Kính chào quý vị,

Tôi là Derek Trần, dân biểu đại diện Địa Hạt 45, và thật là một vinh dự lớn lao khi được đứng nơi đây hôm nay, giữa những tiếng nói, những câu chuyện, và những tâm hồn đã góp phần tạo nên diện mạo văn học của cộng đồng người Mỹ gốc Việt trong suốt một phần tư thế kỷ qua.
Hai mươi lăm năm! Một cột mốc bạc! Một cột mốc không chỉ đánh dấu thời gian trôi qua, mà còn ghi nhận sức bền bỉ của một giấc mơ. Hôm nay, chúng ta kỷ niệm 25 năm Giải Viết Về Nước Mỹ của nhật báo Việt Báo.

Khi những người sáng lập giải thưởng này lần đầu tiên ngồi lại bàn thảo, họ đã hiểu một điều rất căn bản rằng: Kinh nghiệm tỵ nạn, hành trình nhập cư, những phức tạp, gian nan, và sự thành công mỹ mãn trong hành trình trở thành người Mỹ gốc Việt – tất cả cần được ghi lại. Một hành trình ý nghĩa không những cần nhân chứng, mà cần cả những người viết để ghi nhận và bảo tồn. Họ không chỉ tạo ra một cuộc thi; họ đã và đang xây dựng một kho lưu trữ. Họ thắp lên một ngọn hải đăng cho thế hệ sau để chuyển hóa tổn thương thành chứng tích, sự im lặng thành lời ca, và cuộc sống lưu vong thành sự hội nhập.

Trong những ngày đầu ấy, văn học Hoa Kỳ thường chưa phản ánh đầy đủ sự phong phú và đa dạng về kinh nghiệm của chúng ta. Giải thưởng Viết Về Nước Mỹ thực sự đã lấp đầy khoảng trống đó bằng sự ghi nhận và khích lệ vô số tác giả, những người đã cầm bút và cùng viết nên một thông điệp mạnh mẽ: “Chúng ta đang hiện diện nơi đây. Trải nghiệm của chúng ta là quan trọng. Và nước Mỹ của chúng ta là thế đó.”


Suốt 25 năm qua, giải thưởng này không chỉ vinh danh tài năng mà dựng nên một cộng đồng và tạo thành một truyền thống.
Những cây bút được tôn vinh hôm nay không chỉ mô tả nước Mỹ; họ định nghĩa nó. Họ mở rộng giới hạn của nước Mỹ, làm phong phú văn hóa của nước Mỹ, và khắc sâu tâm hồn của nước Mỹ. Qua đôi mắt họ, chúng ta nhìn thấy một nước Mỹ tinh tế hơn, nhân ái hơn, và sau cùng, chân thật hơn.

Xin được nhắn gửi đến các tác giả góp mặt từ bao thế hệ để chia sẻ tấm chân tình trên các bài viết, chúng tôi trân trọng cảm ơn sự can đảm của quý vị. Can đảm không chỉ là vượt qua biến cố của lịch sử; can đảm còn là việc ngồi trước trang giấy trắng, đối diện với chính mình, lục lọi ký ức đau thương sâu đậm, và gửi tặng trải nghiệm đó đến tha nhân. Quý vị là những người gìn giữ ký ức tập thể và là những người dẫn đường cho tương lai văn hóa Việt tại Hoa Kỳ.

Với Việt Báo: Xin trân trọng cảm ơn tầm nhìn, tâm huyết, và sự duy trì bền bỉ giải thưởng này suốt một phần tư thế kỷ.
Khi hướng đến 25 năm tới, chúng ta hãy tiếp tục khích lệ thế hệ kế tiếp—những blogger, thi sĩ, tiểu thuyết gia, nhà phê bình, nhà văn trẻ—để họ tìm thấy tiếng nói của chính mình và kể lại sự thật của họ, dù đó là thử thách hay niềm vui. Bởi văn chương không phải là một thứ xa xỉ; đó là sự cần thiết. Đó là cách chúng ta chữa lành, cách chúng ta ghi nhớ, và là cách chúng ta tìm thấy nơi chốn của mình một cách trọn vẹn.

Xin cảm ơn quý vị.

NHẬN TIN QUA EMAIL
Vui lòng nhập địa chỉ email muốn nhận.