Hôm nay,  

Dầu Khí và Dân Khí

08/08/201200:00:00(Xem: 16676)
Vấn đề Trung Quốc của Thế Giới và Vấn đề Trung Quốc của Việt Nam

Chiều mùng bốn Tháng Tám, tại Trung Tâm Công Giáo ở Quận Cam, miền Nam California, đã có một cuộc hội thảo về đề tài "Vấn Đề Tranh Chấp Biển Đông". Bốn diễn giả lần lượt là:

1)Cựu Sĩ quan Hải quân Việt Nam Cộng Hoà Vũ Hữu San, nguyên Hạm trưởng Khu trục hạm HQ4 Trần Khánh Dư trong các chiến hạm đã đối đầu với Hải quân Trung Quốc năm 1974 để bảo vệ Hoàng Sa. Sau 1975, tai Hoa Kỳ ông trở thành một chuyên gia có uy tín về hải dương và chủ quyền của Việt Nam ngoài Đông hải. Tác giả của các cuốn biên khảo: Lược-Sử Tổ-Chức Hải-Quân VNCH; Địa-Lý Biển Đông với Hoàng-Sa & Trường-Sa; Vịnh Bắc-Việt & Chủ-Quyền Hải-phận; Tài-liệu Hải-Chiến Hoàng-Sa; Sơ-lược Hải-Sử & Thủy-Quân Nước ta; Chiến-hạm & Chiến-Đĩnh VNCH.

2)Ông Huỳnh Văn Lang, nguyên Tổng giám đốc Viện Hối đoái tại Miền Nam, nhà báo và sau này là doanh gia, và một vị học giả cao niên trong nhiều lãnh vực.

3)Chuyên gia kinh tế Nguyễn-Xuân Nghĩa.

4)Tiến sĩ Mai Thanh Truyết, chuyên gia hóa học và bảo vệ môi trường, Phó Chủ tịch đảng Đại Việt.

Sau đây là phần phát biểu ngắn của ông Nguyễn-Xuân Nghĩa trước khi đi vào phần thảo luận.

Khi còn đi học, nếu có cái may được đi học, đa số chúng ta thường ít chú ý đến hai môn địa dư và lịch sử. Đấy là một thiệt hại cho nhận thức của chúng ta.

Những người có lý tưởng hay tham vọng đều mong hoặc nghĩ rằng mình sẽ thay đổi bộ mặt của xã hội, quốc gia hay thế giới cho người hay vì mình. Thật ra, chúng ta đều bị địa dư ràng buộc mà không ý thức được và nếu có hiểu rõ sự ràng buộc đó trong quá khứ qua môn học về lịch sử thì may ra mình nhìn ra những cách xoay trở để thoát khỏi điều kiện của không gian là địa dư và thời gian là lịch sử. Hai diễn giả Vũ Hữu San và Huỳnh Văn Lang vừa nhắc lại các điều kiện về địa dư và lịch sử đó làm khuôn khổ suy tư cho chúng ta.

Khởi đi từ đó, chúng tôi xoay ngược tầm ngắm vào Trung Quốc để tìm hiểu về mục tiêu và những giới hạn của họ.

Sự Thật Về Trung Quốc

Có lãnh thổ bát ngát tới 10 triệu cây số vuông, thật ra Trung Quốc là một ốc đảo nghèo, thiếu đất và thiếu nước trong khu vực Trung Nguyên trù phú nhất của họ ở miền Đông, trên vùng châu thổ của hai con sông lớn là Hoàng hà và Dương tử.

Thiếu đất vì khu vực Trung Nguyên, cái nôi của văn hoá chính trị xứ này, chỉ có diện tích canh tác tính theo đầu người bằng một phần ba của trung bình thế giới. Thiếu nước vì diện tích nước, tức là vùng chuôm ao sông hồ, chỉ là 0,28% và họ có trữ lượng nước cho dân số thuộc loại thấp nhất Á châu vốn dĩ là lục địa thiếu nước nhất địa cầu - mà càng kỹ nghệ hoá lại càng cần nước.

Ngày nay, 30 năm sau cải cách kinh tế và có sản lượng đứng thứ nhì thế giới, Trung Quốc vẫn là một nước đói ăn và khát dầu.

Đói ăn vì dù sản xuất nhiều nông sản nhất thế giới, xứ này vẫn phải nhập cảng lương thực, vốn dĩ là sản phẩm còn chiến lược hơn dấu thô. Và khát dầu vì công cuộc kỹ nghệ hóa đòi hỏi những nguyên nhiên hoạt liệu mà họ không có trong lãnh thổ và lại lạc hậu nên sử dụng kém hiệu năng.

Đặc tính thứ hai, thuộc về địa dư và lịch sử của xứ này. Trung Quốc là nơi mà sự sợ hãi đã ăn sâu vào tiềm thức của lãnh đạo mọi thời và đã được dựng thành một kỳ quan của thế giới, có thể nhìn thấy từ mặt trăng. Đó là Vạn lý Trường thành, xuất hiện từ thời Chiến Quốc, được mở mang tu bổ trong các đời Tần, đời Minh.

Nỗi sợ hãi ấy xuất phát từ sự kiện Hán tộc kiêu căng đã bị các dị tộc mà họ khinh miệt nhiều lần tấn công từ hướng Tây và hướng Bắc và vào làm chủ Trung Nguyên trong nhiều thế kỷ, từ Hung Nô, Tây Hạ đến Kim, Liêu, Mông Cổ hay Mãn Thanh.

Trong nội bộ, địa dư hình thề là cảnh "tam phân" đến nay vẫn là một nan đề kinh tế.

Thứ nhất, khu vực duyên hải tương đối thịnh vượng tại miền Đông thì đất chật người đông. Thứ hai, khu vực bị khóa trong lục địa là miền Tây thì khô cằn nghèo đói với dân số cũng rất cao đã nhiều lần tiến vào Trung Nguyên làm "cách mạng", từ Tần Thủy Hoàng Đế đến Mao Trạch Đông. Thứ ba là vùng biên giới từ hướng Tây lên phía Bắc là khu vực hiểm trở của núi đèo quan ải, và sa mạc thảo nguyên, nơi xuất phát nhiều đợt tấn công của dị tộc.

Địa thế đó là một bài toán về chính trị và an ninh cho trung ương, triều đình hay Bộ Chính trị.

Chính trị là phải kiểm soát được thế mạnh của Hán tộc tại Trung Nguyên - hoặc của trung ương trên các địa phương nói theo ngôn từ hiện đại. Và an ninh là phải xây dựng "biên trấn" thành "phiên trấn", vùng trái độn quân sự trên lãnh thổ của dị tộc để bảo vệ Trung Nguyên. Vì vậy Tây Tạng, Tân Cương, Nội Mông, Mãn Châu mới thành các vùng chiếm đóng và củng cố như trái độn quân sự. Bên trong là các đặc khu tự trị hành chánh dành cho dị tộc nằm tại các tỉnh bị khóa trong lục địa.


Với di sản đó của địa dư hình thể và lịch sử Trung Quốc, chúng ta bước qua lãnh vực kinh tế.

Trong bốn ngàn năm có sử viết, bài toán kinh tế của xứ này luôn luôn bị bài toán an ninh chi phối. Trung Quốc có thể tồn tại với chế độ tự cung tự cấp và giải quyết nhu cầu trao đổi bằng đường bộ qua lãnh thổ Trung Á, mà ta gọi là "Con Đường Tơ Lụa". Chế độ tự cung tự cấp hoặc bế quan toả cảng đã được Mao Trạch Đông thử nghiệm lần cuối cùng và dẫn tới khủng hoảng.

Khi Đặng Tiểu Bình tiến hành cải cách từ năm 1979 - với lực đẩy tâm lý là những tổn thất quá lớn vì quân đội quá lạc hậu trong cuộc chiến tại Việt Nam năm đó – Trung Quốc đã mở ra ngoài. Nhờ đó mà kinh tế phát đạt hơn, nhưng cũng vì đó mà, lần đầu tiên trong lịch sử, xứ này lệ thuộc vào bên ngoài.

Họ cần thị trường quốc tế cho một hệ thống sản xuất quá tải và lệch lạc so với khả năng tiêu thụ của thị trường nội địa. Họ càng cần tới bên ngoài vì phải nhập cảng nguyên nhiên vật liệu và kỹ thuật cho công cuộc kỹ nghệ hóa ở bên trong.

Nhưng thế giới bên ngoài đã thay đổi....

Chuyện cưỡi ngựa rong xe qua Trung Á không còn là giải pháp. Thế giới ngày nay đã mở ra và thu hẹp lại nên 90% lượng hàng buôn bán từ lục địa này qua lục địa khác đều dùng phương tiện hàng hải, rẻ nhất và có giá trị kinh tế nhất. Hàng hải là phải chở hàng qua biển....

Ra khỏi vùng châu thổ của các con sông lớn, người ta phải qua vùng biển nâu là nơi sông đổ ra biển, rồi biển xanh lục là vùng cận duyên trên thềm lục địa, sau đó mới là vùng biển xanh dương của các đại dương.

Trung Quốc có thể kiểm soát được vùng biển nâu và hết bị hải tặc hay "nụy khấu" giặc lùn uy hiếp như trong quá khứ. Và nay đang tiến ra biển xanh lục với tham vọng sẽ xây dựng được các hạm đội có khả năng tung hoành ngoại đại dương. Họ tập tành chuyện đó từ 20 năm nay và đang có giấc mơ lớn.

Nhưng, ra khỏi vùng biển nâu, Trung Quốc đã thấy sự hiện diện khó chịu và đáng nghi ngờ của đệ nhất siêu cường hải dương, đã có kinh nghiệm dày hơn cỡ trăm năm và phương tiện dồi dào tinh vi gấp bội, là Hoa Kỳ.

Với lối suy nghĩ truyền thống xuất phát từ sự hãi sợ trong xương tủy, lãnh đạo Bắ Kinh không tin vào nguyên tắc tự do lưu thông trên các hải lộ mà thế giới đề cao bằng luật lệ quốc tế - và Hoa Kỳ thực tế bảo vệ trên mọi đại dương của địa cầu.

Họ không tin thế giới và muốn kiểm soát quyền tự do đó vì sợ là có ngày sẽ bị Hoa Kỳ hay các nước bán đảo hoặc quần đảo ở chung quanh thắt họng qua các eo biển từ Đông Bắc Á xuống Đông Nam Á.

Không những vậy, vì nạn đói ăn khát dầu, Trung Quốc còn muốn chiếm vùng biển Đông Nam Á - nơi mà các nước vây quanh không là thế lực đáng kể như Đài Loan, Nam Hàn hay Nhật Bản - để khai thác tài nguyên, từ thủy sản đến năng lượng. Họ tin rằng dưới đáy biển, ngoài thềm lục địa của Việt Nam hay Phi Luật Tân, họ sẽ khai thác được từ một phần ba đến 40% yêu cầu về năng lượng mà khỏi phải tìm đến Trung Đông hay Châu Phi.

Chuyện đói ăn, khát dầu, cướp đất, cướp nước ngọt, v.v... là phản ứng bình thường mà bất thường của một xứ lạc hậu!

Tuy nhiên, là những người trông rộng vì tính xa do kinh nghiệm quá khứ, lãnh đạo Trung Quốc còn muốn biến mặt biển vây quanh thành vùng trái độn quân sự, "hạch tâm nghĩa lợi", tương tự như Tân Cương, Tây Tạng, Mãn Châu hay Đài Loan.

Kết Luận

Vì địa dư hình thể, nơi duy nhất bộ binh Trung Quốc có thể tiến ra ngoài lãnh thổ để dựng vùng trái độn là miền Bắc nước Việt mà họ đã thử nghiệm lần cuối vào năm 1979. Mười năm sau, họ giải quyết bài toán đó với việc bình thường hóa bang giao với Hà Nội, và hai chục năm sau thì hoàn thành mỹ mãn nhờ sự góp sức của đảng Cộng sản Việt Nam với những hiệp định mờ ám và bất công.

Ba chục năm sau, là ngày nay, nếu ta tính từ năm 2009, họ tiến sang giải pháp biến Đông hải của Việt Nam thành vùng trái độn quân sự. Mục tiêu của những động thái vừa qua chính là như vậy.

Thế giới có để chuyện ấy xảy ra hay không là bài toán của các nước. Việt Nam có để chuyện ấy xảy ra hay không, đó là bài toán của người Việt. Nó nằm tại Hà Nội.

Chúng ta nên suy nghĩ về bài toán đó, nhưng không quên những khó khăn chồng chất của lãnh đạo Bắc Kinh ở bên trong. Những yếu tố ngoại xâm và nội loạn này của Trung Quốc phải là một phần trong cách suy ngẫm và ứng phó của chúng ta.

Gửi ý kiến của bạn
Vui lòng nhập tiếng Việt có dấu. Cách gõ tiếng Việt có dấu ==> https://youtu.be/ngEjjyOByH4
Tên của bạn
Email của bạn
)
Năm 1895, Alfred Nobel – nhà khoa học bị ám ảnh bởi cái giá mà nhân loại phải trả từ phát minh của mình – đã để lại di chúc năm 1895 rằng tài sản của ông sẽ dùng để tài trợ các giải thưởng “mang lại lợi ích lớn nhất cho nhân loại.” Đối với Nobel Hòa Bình, ông có phần đặc biệt: giải thưởng này sẽ được trao cho người đã “có nhiều hành động hoặc nỗ lực mang đến sự đoàn kết, hòa bình giữa các quốc gia, bãi bỏ hoặc giảm bớt quân đội thường trực, tổ chức và thúc đẩy các hội nghị hòa bình.” Sứ mệnh chọn lựa được giao cho Quốc Hội Na Uy, có lẽ vì ông tin rằng Na Uy – khi đó còn nhỏ bé và trung lập – sẽ ít bị cám dỗ bởi chính trị quyền lực.
Trung Hoa ngày nay như kinh thành giữa sa mạc, vẻ yên ổn bên ngoài chỉ là lớp sơn son thếp vàng phủ lên nền đá đã rạn. Thế giới đứng ngoài quan sát, vừa lo nó sụp, vừa biết nó trụ lại nhờ ảo ảnh quyền lực và niềm tin vay mượn. Dưới lớp hào nhoáng của “Giấc mộng Trung Hoa” là một cơ đồ quyền lực đang già nua trong chính tuổi trẻ của mình. Bởi sức mạnh của nó không khởi từ niềm tin, mà từ nỗi sợ — và nỗi sợ, tự thuở khai triều lập quốc, chưa bao giờ là nền tảng lâu bền.
Ngày 8 tháng 10 năm 2025, tại tòa án liên bang ở Alexandria, bang Virginia, cựu Giám đốc Cơ quan Điều tra Liên bang (FBI) James Comey không nhận tội đối với hai cáo buộc hình sự. Cáo trạng nêu rằng vào tháng 9 năm 2020, Comey đã nói dối Quốc Hội khi vẫn giữ nguyên lời khai trong buổi điều trần trước đó rằng ông không hề cho phép để lộ thông tin về cuộc điều tra của FBI liên quan đến Hillary Clinton. Theo nhiều bình luận gia pháp lý, từ cánh tả đến cánh hữu, việc truy tố Comey chủ yếu chỉ là do chính phủ liên bang đang cố tình nhắm vào kẻ mà Tổng thống “thấy không vừa mắt.” Comey là người đứng đầu cuộc điều tra nghi án Nga can thiệp bầu cử tổng thống 2016 và bị Trump lột chức vào năm 2017.
Sau sáu ngày đột ngột “bặt tiếng,” chương trình Jimmy Kimmel Live, của MC kiêm diễn viên hài và nhà biên kịch nổi tiếng, đã trở lại với khán thính giả vào tối 23/9/2025. Sự trở lại này, chỉ vỏn vẹn sau gần một tuần bị đình chỉ, không chỉ là tin vui với những người yêu tiếng cười đêm khuya của truyền hình Mỹ, mà còn là một hồi chuông cảnh tỉnh, kéo theo những bàn luận trái chiều, chạm đến cốt lõi của tự do ngôn luận, một trong những quyền thiêng liêng nhất trong thể chế dân chủ.
Texas, mùa thu 2025 – trên khuôn viên đại học giữa vùng đất vốn tự hào là “trái tim bảo thủ của nước Mỹ”, thay vì nghe tiếng lá thu rơi, người ta lại nghe tiếng giày đinh vang vọng, bước chân của bóng ma McCarthyism quay về - phiên bản thế kỷ 21 - trở lại giảng đường với tốc độ và sự kinh dị của thời đại kỹ thuật số. Ngày 9 tháng 9, trên bục giảng của trường Texas A&M University, giáo sư Melissa McCoul trong giờ văn học thiếu nhi, dùng hình một con kỳ lân tím để nói với sinh viên rằng bản sắc con người không chỉ có hai nửa nam–nữ. Một sinh viên giơ tay hỏi: “Điều này có hợp pháp không?” và viện dẫn sắc lệnh mà Tổng thống Donald Trump ký hồi tháng Giêng, tuyên bố chỉ có hai giới tính sinh học. Bà McCoul đáp bằng lý lẽ, không viện dẫn chính trị. Nhưng một chiếc điện thoại trong lớp đã ngầm quay lại hình ảnh. Và chỉ ít lâu sau, cả nước đều xem đoạn clip ấy – không phải để học, mà để phán xét.
Trong bối cảnh toàn cầu hóa và chuyển đổi thể chế, phương Tây và Việt Nam đang phải đối diện trước những thách thức nghiêm trọng về cải cách chính sách để cho phù hợp với nhu cầu của thời đại mới, nhất là vai trò của pháp luật. Pháp luật là nền tảng thiết yếu cho sự vận hành ổn định và công bằng của xã hội. Là hệ thống quy phạm điều chỉnh hành vi con người, pháp luật không chỉ bảo vệ quyền lợi cá nhân và tập thể mà còn thúc đẩy sự phát triển bền vững. Trong xã hội hiện đại, vai trò của pháp luật được thể hiện rõ nét qua các lĩnh vực như bảo vệ an ninh quốc phòng, duy trì trật tự xã hội, bảo đảm quyền tự do cá nhân, phát triển phúc lợi xã hội, và thúc đẩy tinh thần hợp tác cũng như hội nhập.
Ngày 30 tháng 9 năm 2025, tại căn cứ Thủy Quân Lục Chiến ở Quantico, Virginia, Bộ trưởng Quốc phòng Pete Hegseth bước lên sân khấu trước hàng trăm tướng và đô đốc được triệu tập từ khắp nơi trên thế giới. Ông tuyên bố sẽ “cải tổ văn hóa quân đội” bằng mười chỉ thị mới, nhằm quét sạch cái mà ông gọi là “rác rưởi thức tỉnh” và khôi phục “tinh thần chiến binh”. Cụm từ ấy – nửa ca tụng bạo lực, nửa tán dương cơ bắp – nay đã trở thành thương hiệu chính trị của Hegseth. Trong cuốn Cuộc Chiến Chống Lại Những Chiến Binh (2024), ông cho rằng việc phụ nữ được đưa vào các vai trò chiến đấu đã “làm cạn kiệt” tinh thần này, khiến quân đội Hoa Kỳ “ít sát thương hơn.” Nghe qua, người ta tưởng quân đội chỉ tồn tại để đong máu đếm xác.
Ông bà xưa đã nói, nắm thì “nắm kẻ có tóc ai nắm kẻ trọc đầu.” Cách nói dân gian này rất cụ thể và dễ hình dung, người có tóc thì dễ bị nắm, bị túm, còn người trọc đầu thì không thể nắm được. Mang câu nói này vào chính trường Mỹ hiện tại, quả là khôi hài, nhưng không kém màu bi kịch. Nó phản ánh một sự thật trần trụi và không thể tránh khỏi: Quyền lực, chính sách, sắc lệnh hành pháp, các cuộc chiến pháp lý và ‘tuổi thọ’ chính trị của người đứng đầu nhánh hành pháp đang phụ thuộc vào sự phục tùng của các nhà lãnh đạo và những tài phiệt. Họ là ai? Họ là một mạng lưới của các quan chức, nhà lập pháp, giám đốc điều hành truyền thông, nhà tài trợ…, những người đã chọn chọ họ một thế đứng, xuôi theo những gì tổng thống muốn.
Bộ Tư Pháp Hoa Kỳ đang đánh một đòn nguy hiểm: huy động các văn phòng công tố đi điều tra mạng lưới từ thiện Open Society Foundations của gia đình Soros, một quỹ từ thiện quốc tế, nổi tiếng với việc tài trợ cho các dự án dân chủ, giáo dục và nhân quyền trên khắp thế giới. Danh sách cáo buộc nghe cứ như “vật lạ”: từ đốt phá đến tài trợ khủng bố. Open Society Foundations lập tức phản đối, khẳng định mình hoạt động hợp pháp, và nhắc lại điều mà bất cứ người tỉnh táo nào cũng hiểu: khi chính quyền có thể tùy tiện lấy một nhóm dân sự làm vật tế, thì quyền của mọi nhóm khác cũng chẳng còn gì bảo đảm.
Trong nhiều thập niên qua, giải pháp hai nhà nước luôn được xem là phương án khả thi nhằm mang lại hòa bình cho khu vực Trung Đông. Tuy nhiên, tiến trình này vẫn chưa đạt được kết quả cụ thể. Gần đây, cuộc tranh luận về việc công nhận nhà nước Palestine đang có những chuyển biến mới khi Pháp và Ả Rập Xê Út tổ chức một hội nghị quốc tế tại New York, ngay trước thềm Đại hội thường niên của Liên Hiệp Quốc.


Kính chào quý vị,

Tôi là Derek Trần, dân biểu đại diện Địa Hạt 45, và thật là một vinh dự lớn lao khi được đứng nơi đây hôm nay, giữa những tiếng nói, những câu chuyện, và những tâm hồn đã góp phần tạo nên diện mạo văn học của cộng đồng người Mỹ gốc Việt trong suốt một phần tư thế kỷ qua.
Hai mươi lăm năm! Một cột mốc bạc! Một cột mốc không chỉ đánh dấu thời gian trôi qua, mà còn ghi nhận sức bền bỉ của một giấc mơ. Hôm nay, chúng ta kỷ niệm 25 năm Giải Viết Về Nước Mỹ của nhật báo Việt Báo.

Khi những người sáng lập giải thưởng này lần đầu tiên ngồi lại bàn thảo, họ đã hiểu một điều rất căn bản rằng: Kinh nghiệm tỵ nạn, hành trình nhập cư, những phức tạp, gian nan, và sự thành công mỹ mãn trong hành trình trở thành người Mỹ gốc Việt – tất cả cần được ghi lại. Một hành trình ý nghĩa không những cần nhân chứng, mà cần cả những người viết để ghi nhận và bảo tồn. Họ không chỉ tạo ra một cuộc thi; họ đã và đang xây dựng một kho lưu trữ. Họ thắp lên một ngọn hải đăng cho thế hệ sau để chuyển hóa tổn thương thành chứng tích, sự im lặng thành lời ca, và cuộc sống lưu vong thành sự hội nhập.

Trong những ngày đầu ấy, văn học Hoa Kỳ thường chưa phản ánh đầy đủ sự phong phú và đa dạng về kinh nghiệm của chúng ta. Giải thưởng Viết Về Nước Mỹ thực sự đã lấp đầy khoảng trống đó bằng sự ghi nhận và khích lệ vô số tác giả, những người đã cầm bút và cùng viết nên một thông điệp mạnh mẽ: “Chúng ta đang hiện diện nơi đây. Trải nghiệm của chúng ta là quan trọng. Và nước Mỹ của chúng ta là thế đó.”


Suốt 25 năm qua, giải thưởng này không chỉ vinh danh tài năng mà dựng nên một cộng đồng và tạo thành một truyền thống.
Những cây bút được tôn vinh hôm nay không chỉ mô tả nước Mỹ; họ định nghĩa nó. Họ mở rộng giới hạn của nước Mỹ, làm phong phú văn hóa của nước Mỹ, và khắc sâu tâm hồn của nước Mỹ. Qua đôi mắt họ, chúng ta nhìn thấy một nước Mỹ tinh tế hơn, nhân ái hơn, và sau cùng, chân thật hơn.

Xin được nhắn gửi đến các tác giả góp mặt từ bao thế hệ để chia sẻ tấm chân tình trên các bài viết, chúng tôi trân trọng cảm ơn sự can đảm của quý vị. Can đảm không chỉ là vượt qua biến cố của lịch sử; can đảm còn là việc ngồi trước trang giấy trắng, đối diện với chính mình, lục lọi ký ức đau thương sâu đậm, và gửi tặng trải nghiệm đó đến tha nhân. Quý vị là những người gìn giữ ký ức tập thể và là những người dẫn đường cho tương lai văn hóa Việt tại Hoa Kỳ.

Với Việt Báo: Xin trân trọng cảm ơn tầm nhìn, tâm huyết, và sự duy trì bền bỉ giải thưởng này suốt một phần tư thế kỷ.
Khi hướng đến 25 năm tới, chúng ta hãy tiếp tục khích lệ thế hệ kế tiếp—những blogger, thi sĩ, tiểu thuyết gia, nhà phê bình, nhà văn trẻ—để họ tìm thấy tiếng nói của chính mình và kể lại sự thật của họ, dù đó là thử thách hay niềm vui. Bởi văn chương không phải là một thứ xa xỉ; đó là sự cần thiết. Đó là cách chúng ta chữa lành, cách chúng ta ghi nhớ, và là cách chúng ta tìm thấy nơi chốn của mình một cách trọn vẹn.

Xin cảm ơn quý vị.

NHẬN TIN QUA EMAIL
Vui lòng nhập địa chỉ email muốn nhận.