Hôm nay,  

Những trở ngại trong quan hệ Mỹ-Việt từ sau 1975

26/09/202510:24:00(Xem: 1658)
BuiVanPhu_2025_0921_USVNRelations_UCB_H01
Giáo sư Peter Zinoman, bên trái, và Giáo sư Tường Vũ (Ảnh: Bùi Văn Phú)

 

Chiến tranh Việt Nam chấm dứt vào ngày 30/4/1975, ghi dấu sự thất bại của Hoa Kỳ sau 20 năm can dự, qua 5 đời tổng thống.
 
Cuộc chiến đó đã làm hao tốn xương máu và tài nguyên của các bên tham gia, cùng biết bao giấy mực để ghi lại, phân tích những biến cố, những chính sách và chiến lược.
 
50 năm sau và thêm 8 đời tổng thống Mỹ, tuy Việt Nam nay không còn là quan tâm của đại đa số quần chúng như thời chiến tranh, nhưng một nước Việt Nam thống nhất về địa lý vẫn nằm trong chiến lược của Mỹ và vẫn được các nhà nghiên cứu về chính trị, sử, xã hội, kinh tế, quốc phòng và những nhà hoạt động môi trường, xã hội dân sự, những người tranh đấu cho dân chủ, nhân quyền quan tâm vì những vấn đề tồn đọng sau chiến tranh và các chính sách của Hà Nội.
 
Những chủ đề liên quan đã được trình bày trong một hội nghị quốc tế tổ chức vào hai ngày 18 và 19/9/2025 tại Đại học U.C. Berkeley với sự tham dự của nhiều học giả, nghiên cứu sinh từ các đại học Hoa Kỳ, Việt Nam, Singapore, Pháp; cùng các cựu lãnh đạo, phóng viên, nhà hoạt động.
 
Hội nghị "The Challenges of Peace: US-Vietnam Relations Since 1975" (Các thách thức của hòa bình: Quan hệ Mỹ-Việt từ 1975) do Center for Southeast Asian Studies (Trung tâm Đông Nam Á học, Đại học U.C. Berkeley) và US-VN Research Center (Trung tâm Nghiên cứu Mỹ-Việt, Đại học Oregon, Eugene) phối hợp tổ chức.
 
Có những đề tài kinh điển như quan hệ ngoại giao Hoa Kỳ-Việt Nam từ 1986 đến 1988 của nghiên cứu sinh Zachary Tayler, Đại học Ohio.
 
Chính sách "Ngoại giao cây tre" được cố Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng đẩy mạnh như là chủ trương của Việt Nam trong quan hệ với thế giới, đặc biệt là với các cường quốc Nga, Mỹ, Trung. Nhưng nay Tổng Bí thư Tô Lâm không dùng cụm từ đó, và Thủ tướng Phạm Minh Chính cũng chỉ nhắc đến vài lần trong thời gian qua. Theo Tiến sĩ Nguyễn Khắc Giang, hiện đang nghiên cứu tại viện ISEAS-Yusof Ishak (Singapore) và Trung tâm Nghiên cứu Mỹ-Việt, Đại học Oregon, đó có thể là tín hiệu sẽ có những thay đổi trong quan hệ Việt Nam với các cường quốc?
 
Nhìn lại quá khứ, những bài học rút ra từ quan hệ Hoa Kỳ và Việt Nam Cộng hòa được đúc kết qua bài nói chuyện của ông Hoàng Đức Nhã, cựu Bí thư của Tổng thống Nguyễn Văn Thiệu, và John Negroponte, cựu Thứ trưởng Ngoại giao Mỹ trong chính quyền của Tổng thống Richard Nixon.
 
Ông Nhã cho rằng lãnh đạo Mỹ đã đối xử với lãnh đạo Việt Nam Cộng hòa theo kiểu "đại ca với đàn em" (big guy - small guy) chứ không phải là một đồng minh. Bài học kinh nghiệm cho Hoa Kỳ là nên biết lắng nghe đồng minh của mình, ông nói.
 
Đại sứ Negroponte nhận định cuộc chiến Việt Nam không phải là chiến tranh du kích mà là quy ước. Tết Mậu Thân du kích miền Nam đã bị Hà Nội thí mạng gần hết và Bắc Việt bắt đầu đem xe tăng vào chiến trường. Sai lầm của Mỹ là sau Mậu Thân, thay vì bắt đầu rút quân, Tướng Westmoreland lại yêu cầu Tổng thống Lyndon Johnson đưa thêm 200.000 lính Mỹ vào chiến trường. Hoa Kỳ đã có tầm nhìn sai khi cho rằng Trung Cộng có ý định nhuộm đỏ Đông Nam Á, mà thực ra Liên Xô khi đó và cho đến sau này mới là quốc gia yểm trợ Hà Nội bành trướng chủ thuyết cộng sản, theo ông.
 
Về kinh tế, yếu tố Trung Quốc có nhiều ảnh hưởng đến Việt Nam, từ gia nhập WTO đến ký kết các hiệp ước kinh tế song phương với các quốc gia, theo Tiến sĩ Nguyễn Đức Thành từ Trung tâm Nghiên cứu Kinh tế và Chiến lược tại Hà Nội và hiện là giáo sư chính trị học tại Đại học Oregon. Đồ biểu ông đưa ra cho thấy Hoa Kỳ không phải là quốc gia có nhiều dự án FDI đầu tư trực tiếp vào Việt Nam, mà đứng thứ 11, sau Singapore, Hàn Quốc, Trung Quốc, Hong Kong, Đài Loan, Hà Lan v.v… Theo diễn giả, tiền của người Việt từ nước ngoài gửi về không giúp cho phát triển kinh tế mà còn làm chậm lại, như trường hợp của Philippines có lượng kiều hối rất cao.
 
Về hợp tác quốc phòng, Tiến sĩ Khang Vũ từ Đại học Boston nhận định việc bán vũ khí cho Việt Nam thì Nga vẫn là nguồn cung cấp lớn nhất và thuận tiện hơn vì mua vũ khí của Mỹ có những ràng buộc đi kèm. Do đó, Mỹ và Việt Nam khó có thể trở thành một liên minh an ninh và Hà Nội không thể thoát Trung.
 
Bài nói chuyện về bia tưởng niệm John McCain bên bờ hồ Trúc Bạch ở Hà Nội có những điều ít người biết. Đó là nơi phi cơ chiến đấu của Thiếu tá John McCain, sau là thượng nghị sĩ và ứng viên tổng thống, bị bắn rơi trong một phi vụ oanh tạc miền Bắc năm 1967 và bị bắt làm tù binh. Theo Giáo sư Christina Schwenkel, Đại học U.C. Riverside, nguyên thủy đó là tấm bia ghi công dân quân đã bắn rơi máy bay và bắt sống được phi công McCain. Từ khi hai nước có quan hệ ngoại giao, nơi đây đã trở thành địa điểm thăm viếng của các dân cử Quốc hội, quan chức quốc phòng Mỹ và gần đây nhất, khi còn tại chức, Tổng thống Joe Biden và Phó Tổng thống Kamala Harris cũng đã đến đặt vòng hoa tưởng niệm. Trong những năm qua, bia này đã được sửa chữa và tu bổ nhiều lần và tùy theo cảm nhận về chiến tranh của khách viếng, hành động đó có thể là để nhớ ơn dân quân đã bắn rơi máy bay Mỹ hay là để tưởng niệm một phi công, anh hùng của nước Mỹ.
 
Tiến sĩ Andrew Wells-Dang của Viện Hòa bình cho biết trong bài phát biểu của ông rằng Bảo tàng Chứng tích Chiến tranh ở Thành phố Hồ Chí Minh có dự định được đổi tên thành Bảo tàng Hòa bình, nhưng tình hình lúc này phức tạp trên thế giới có liên quan đến Hoa Kỳ nên chưa thuận tiện. Là người trực tiếp làm việc với đối tác Việt Nam, ông nói rằng đã có những thêm bớt, sắp xếp lại nội dung trưng bày tại bảo tàng theo một dự án được sự hỗ trợ của cơ quan USAID, và điều đó cho thấy quan hệ hai nước dần có nhiều gắn bó hơn. Theo kế hoạch, bảo tàng với sự sắp xếp mới sẽ mở cửa vào giữa năm nay, nhưng vì chính sách mới của Hoa Kỳ đã dẹp bỏ USAID nên dự án phải dừng.
 
Nhiều đề tài liên quan đến di sản chiến tranh đã được các diễn giả trình bày, từ việc tìm kiếm và xác định hài cốt binh lính còn mất tích, cho đến số phận của Nghĩa trang Quân đội Biên Hòa, nơi chôn cất hàng vạn tử sĩ Việt Nam Cộng hòa.
 
BuiVanPhu_2025_0921_USVNRelations_UCB_H04

 Thành viên cộng tác với Trung tâm Nghiên cứu Mỹ-Việt, Đại học Oregon. Từ trái: Duyên Bùi,
Nguyễn Thiện Ý, Alex Thái Đình Võ, Tường Vũ và Thuỷ Nguyễn (Ảnh: Bùi Văn Phú) 

 

Tiến sĩ Alex-Thái Đình Võ từ Đại học Công nghệ Texas (TTU) đã nói về số phận của tử sĩ, mà cho đến nay chỉ có lính Mỹ hay bộ đội cộng sản được quan tâm, còn lính Việt Nam Cộng hòa bị bỏ ra ngoài. Trong mong muốn đem lại sự hòa giải, ông đã làm việc nhiều năm để đưa vấn đề Nghĩa trang Quân đội Biên Hòa và số phận lính Việt Nam Cộng hòa còn mất tích vào trong các cuộc thảo luận liên quan đến quan hệ Việt-Mỹ. Đến nay vấn đề này đã được Hoa Kỳ quan tâm, nhưng phía Việt Nam vẫn chưa đồng ý.
 
Theo nghiên cứu sinh Hà Tiên-Dung từ Đại học Stanford, đó là một quyết định chính trị của Hà Nội, khi từ chối việc Hoa Kỳ đưa người lính Việt Nam Cộng vào nghị trình thương thảo, qua bài nói chuyện của cô về công tác tìm kiếm, xác định những liệt sĩ miền Bắc.
Hòa giải dân tộc cũng được nhiều người gốc Việt tham dự hội thảo nhắc đến, từ diễn giả cho đến khách tham dự. Câu hỏi là làm sao để có hòa giải?
 
Cựu phóng viên chiến trường và thuyền nhân vượt biển Vũ Thanh Thủy nói rằng Hà Nội chỉ cần thừa nhận lịch sử của học tập cải tạo, lịch sử của thuyền nhân vượt biên, vượt biển.
 
Tiến sĩ Phạm Thị Hồng Hà từ Viện Sử học Hà Nội nói về các chính sách hòa giải của nhà nước đối với Việt kiều từ sau chiến tranh cho đến cuối thập niên 1990. Sinh viên ban tiến sĩ sử tại Đại học Berkeley, Vincent Trần, đã có bài tham luận về những nỗ lực muốn hòa giải từ phía người Việt hải ngoại, điển hình là tổ chức Tập hợp Dân chủ Đa nguyên, tức nhóm Thông Luận, của ông Nguyễn Gia Kiểng.
 
Tiến sĩ Alex-Thái đưa đề nghị cần "hóa giải" trước khi có "hòa giải". Tôi có nêu câu hỏi, nếu Tổng Bí thư Tô Lâm yêu cầu đưa 3 đề nghị cụ thể để đem lại hòa giải thì theo ba diễn giả của hội thảo chủ đề "Các thách thức tiến tới hòa giải" (Challenges to Reconciliation) là những đề nghị gì. Nhưng không ai có câu trả lời.
 
Trong phần nói chuyện của ông Hoàng Đức Nhã, khi hỏi ông nghĩ gì về những tuyên bố của Tổng Bí thư Tô Lâm về một "kỷ nguyên mới" cho đất nước, ông Nhã trả lời rằng ông muốn thấy lãnh đạo Hà Nội "walk the talk", tức là lời nói phải đi đôi với việc làm, còn chỉ nói suông thì dễ lắm. Ông gợi ý cho trùng tu Nghĩa trang Quân đội Biên Hòa và trả lại tài sản đã tịch thu của dân, của người đã bỏ nước ra đi.
 
BuiVanPhu_2025_0921_USVNRelations_UCB_H02_ElizabethPhu
Bà Elizabethe Phù, nguyên Cố vấn An ninh Quốc gia đặc trách Đông Á-Đông Nam Á-châu Đại Dương cho hai tổng thống Mỹ (Ảnh: Bùi Văn Phú)


Dù nhiều thập niên đã qua đi, khi nhắc lại quá khứ đau buồn, nhiều diễn giả đã xúc động, trong đó có diễn giả danh dự của hội nghị là bà Elizabeth Phù, một phụ nữ đã từng làm cố vấn phụ trách vùng Đông Á, Đông Nam Á và châu Đại Dương trong Hội đồng An ninh Quốc gia của Tổng thống George W. Bush (con) và Tổng thống Barack Obama.
 
Bà đã khóc khi kể lại chuyện cùng cha mẹ vượt biên thất bại và bị bắt đưa vào trại cải tạo. Chuyến đi thứ nhì vào năm 1979, gia đình bà cùng 250 người khác ra đến hải phận quốc tế thì tàu bị hỏng máy. Gặp một tàu đánh cá, họ đòi 10 chiếc nhẫn vàng thì mới kéo tàu hư vào bờ. Cha của bà đã gom đủ 10 chiếc nhẫn, bơi qua tàu kia đưa cho họ và sau đó con tàu vượt biển được kéo vào bờ, rồi vào trại Pulau Bidong. Khi đó bà mới 4 tuổi.
 
Bà tốt nghiệp Đại học U.C. Berkeley với bằng cử nhân chính trị học và thạc sĩ quan hệ quốc tế từ U.C. San Diego. Bà chọn ngành học này vì muốn chu du thế giới. Công việc trong chính phủ của bà là tại Bộ Quốc phòng và nhờ khả năng và tính chuyên cần, bà đã trở thành cố vấn cho hai tổng thống Mỹ và có cơ hội đi đến nhiều quốc gia như từng mơ ước.
 
Bà nói làm chính sách là đặt quyền lợi nước Mỹ lên trên hết. Khi Tổng thống Barack Obama đón tiếp Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng tại Bạch Ốc, bà có mặt tại đó, trong khi cha của bà tham gia biểu tình ở California để phản đối chuyến viếng thăm của lãnh đạo Hà Nội. Bà hiểu người cha và cộng đồng người Việt có những quan tâm về quê hương, khi có thể bà tìm cách đưa vào chính sách.
 
Đinh Phương Thảo hiện là sinh viên ban tiến sĩ tại Đại học Michigan, là một nhà hoạt động cho nhân quyền và từng bị quấy nhiễu ở Việt Nam. Cô đã rơi nước mắt khi nhớ về những bạn cùng chí hướng đang còn bị giam tù. Theo cô, từ khi Hoa Kỳ và Việt Nam nâng cấp quan hệ lên đối tác chiến lược toàn diện thì những nhà ngoại giao Mỹ và từ các đại sứ quán khác cũng đã ít quan tâm hơn đến những anh chị em ở tù vì lên tiếng tranh đấu cho tự do, dân chủ.
 
Hoàng Thị Minh Hồng là nhà hoạt động môi trường bị nhà nước cáo buộc trốn thuế, bị kết án tù và phạt tiền. Nhờ can thiệp của Hoa Kỳ, các trường đại học và tổ chức quốc tế, năm ngoái bà đã được qua Mỹ tị nạn. Bà Hồng cho biết các tổ chức xã hội dân sự và NGO hiện nay hoặc do nhà nước kiểm soát hoặc phải giải thể.
 
Ngoài những bài nói chuyện về quan hệ hai nước, về hòa giải, hội thảo còn có những nghiên cứu về cách nhìn của giới trẻ về cuộc chiến Việt Nam, qua những dữ liệu từ những thảo luận trên mạng xã hội đã được Tiến sĩ Thủy Nguyễn của Trung tâm Nghiên cứu Việt-Mỹ, Đại học Oregon thu thập và phân tích.

BuiVanPhu_2025_0921_USVNRelations_UCB_H03
 Thảo luận chủ đề “Những thách thức cho việc hoà giải” với Giáo sư Nguyễn Thị Liên Hằng, trên bục điều hợp, Phạm Thị Hồng Hà, Vincent Trần và Alex Thái Đình Võ (Ảnh: Bùi Văn Phú)
 
Hay một cuộc thăm dò ý kiến với sự tham gia của 51 sinh viên từ 4 đại học ở Việt Nam về suy nghĩ của các bạn liên quan đến dân chủ, hoạt động sinh viên, thực hiện bởi Hoàng Cẩm Thanh, đang giảng dạy tại Đại học Khoa học Xã hội Nhân văn Thành phố Hồ Chí Minh và Nguyễn Thúc Cường, sinh viên ban tiến sĩ Đại học McGill. Kết quả của thăm dò cho thấy quan điểm của đa số sinh viên rất giống với nhà nước, khiến có ý kiến nói rằng không thể tin được các thăm dò thực hiện trong nước Việt Nam vì ít ai dám nói thật.
 
Trong lãnh vực văn học là bài thuyết trình của Vinh Phú Phạm, phó giáo sư trường Bard HSEC, về văn chương của người Việt hải ngoại. Theo ông, nhiều tác giả nay không viết về quá khứ chiến tranh, như Ocean Vương với On Earth We're Briefly Gorgeous và Thao Thai với Banyan Moon mà ông trích dẫn và phân tích. Ông chỉ đề cập đến các tác phẩm bằng tiếng Anh, mà thực ra văn học hải ngoại còn một mảng nữa, ít được giới học thuật nghiên cứu, đó là những tác phẩm tiếng Việt, theo nhận định của Tiến sĩ Alex-Thái Đình Võ.
 
Đó cũng là điều còn thiếu trong ngành Việt học, mà theo Giáo sư Peter Zinoman trong phần đúc kết sau hai ngày hội thảo, với đường hướng coi Việt Nam là trung tâm, theo ông mảng về Việt Nam Cộng hòa, về những nhà hoạt động và về cộng đồng người Việt ở Mỹ còn nhiều chủ đề cần nghiên cứu.
 
Qua hội thảo, 15 bài thuyết trình có thể triển khai thành những bài nghiên cứu học thuật để xuất bản trên các tạp chí chuyên ngành.
 
Kết thúc chương trình, các thành viên của US-VN Research Center tại Đại học Oregon, dưới sự điều hành của Giáo sư Tường Vũ, đã trình bày về các hoạt động, dự án xuất bản, quan hệ và sinh hoạt với cộng đồng người Việt, khuyến khích sinh viên nghiên cứu về Việt Nam để giới học thuật biết đến và hiểu hơn về cộng đồng người Việt ở Mỹ và về một nước Việt Nam Cộng hòa nay không còn nhưng đã từng hiện hữu trong 20 năm.
 
Trong 30 năm qua, từ ngày Giáo sư Peter Zinoman dạy sử tại Đại học U.C. Berkeley, ông đã đào tạo được một số tiến sĩ sử chuyên về Việt Nam, trong đó có nhiều người gốc Việt: Tường Vũ, Nữ-Anh Trần, Martina Nguyễn, Jenny Phạm, Uyên Nguyễn, Alex Holcombe, Jason Picard và họ đang giảng dạy tại các đại học ở Hoa Kỳ và Việt Nam.

Bùi Văn Phú

  • Tác giả Bùi Văn Phú là giảng viên đại học cộng đồng, nhà báo tự do từ vùng Vịnh San Francisco, California.
 

 

 

 

 

 

 

Gửi ý kiến của bạn
Vui lòng nhập tiếng Việt có dấu. Cách gõ tiếng Việt có dấu ==> https://youtu.be/ngEjjyOByH4
Tên của bạn
Email của bạn
)
Trong 50 năm vừa qua, cộng đồng Việt Nam đã có những thành tựu nào về chính trị và văn hóa? Thực tế là đã có rất nhiều chuyển biến. Thời gian đầu là những cộng đồng tỵ nạn ở Hoa Kỳ, lan rộng thành những cộng đồng đông người Việt hơn ở rất nhiều nước trên thế giới; và rồi hình ảnh những người thất trận và tỵ nạn mờ nhạt đi. Nhiều thế hệ trẻ ra đời, trưởng thành, trở thành và gánh vác một căn cước mới. Từ đó, có nhiều cộng đồng mang thêm sức mạnh chính trị, văn hóa.
Có lần tôi đứng trước một căn phòng đầy học sinh trung học và kể một câu chuyện về thời điểm chiến tranh Việt Nam chấm dứt, về việc tôi đã bỏ chạy sang Mỹ khi còn nhỏ, và trải nghiệm đó vẫn ám ảnh và truyền cảm hứng cho tôi như thế nào, thì một cô gái trẻ giơ tay hỏi tôi: “Ông có thể cho tôi biết tại sao cha tôi không bao giờ kể cho tôi nghe về cuộc chiến đó không? Cha tôi uống rượu rất nhiều, nhưng lại ít nói.” Giọng nói cô run rẩy. Cô gái bảo cha cô là một người lính miền Nam Việt Nam, ông đã chứng kiến nhiều cảnh đổ máu nhưng nỗi buồn của ông phần nhiều là trong nội tâm, hoặc nếu đôi khi thể hiện ra ngoài thì bằng những cơn thịnh nộ.
Những ngày này, trên phạm vi cả nước, đảng cộng sản việt nam đang tổ chức rầm rộ kỷ niệm 50 năm ngày “giải phóng” Miền Nam, thống nhất đất nước. Thực chất, đây là cuộc nội chiến tương tàn giữa hai anh em Bắc- Nam cùng một Nước vì ý thức hệ cộng sản và dân chủ. Lẽ ra, sau khi đã “thống nhất”, “bên thắng cuộc” phải chủ động trong việc “hòa giải, hòa hợp” dân tộc để tái thiết và phát triẻn Đất Nước. Nhưng, 50 năm qua, hận thù vẫn luôn được nhà cầm quyền cộng sản nuôi dưỡng và khích lệ dưới mọi hình thức.
Điều thú vị nhất của nghề làm báo là luôn có sự mới lạ. Ngày nào cũng có chuyện mới, không nhàm chán, nhưng đôi khi cũng kẹt, vì bí đề tài. Người viết, người vẽ, mỗi khi băn khoăn tìm đề tài, cách tiện nhất là hỏi đồng nghiệp. Ngày 26 tháng 3, 1975, hoạ sĩ Ngọc Dũng (Nguyễn Ngọc Dũng: 1931-2000), người dùng bút hiệu TUÝT, ký trên các biếm hoạ hàng ngày trên trang 3 Chính Luận, gặp người viết tại toà soạn, hỏi: “Bí quá ông ơi, vẽ cái gì bây giờ?”
Chiến tranh là một nỗi đau dằn vặt của nhân loại vì không ai muốn nó xảy ra, nhưng chiến tranh vẫn cứ xảy đến như một điều kiện cần thiết biện minh cho sự tồn tại của thế giới con người. Ngày Ba mươi tháng 4 năm 1975 là một cột mốc đánh dấu một biến cố chính trị trong lịch sử chính trị thế giới, ngày cuộc chiến tranh Việt Nam (1954-1975) chấm dứt.
Năm mươi năm nhìn lại, sau ngày 30 tháng 04, 1975, cái dấu mốc lịch sử đau thương của đất nước Việt Nam, nói chung, và người dân miền Nam nói riêng. Sự thật lịch sử về ngày này đã được phơi bày rõ ràng trên mọi phương tiện truyền thông, tin tức, và trong thế giới sử. Ai cũng đã rõ, phe thắng trận, sai, phe thua trận, đúng. Điều này không cần bàn cãi nữa; cho dù kẻ chiến thắng cố tình viết lại lịch sử Việt Nam theo ý mình khi sức mạnh của họ nằm trên nòng súng. Phe thua cuộc lại là phe thắng được nhân tâm.
Vũ Xuân Thông sinh ngày 9 tháng 12 năm 1939 tại Hà Nội. Là gia đình có đạo dòng, Thông theo học trường Puginier, là một ngôi trường cổ xưa được xây cất từ năm 1897 tại Hà Nội. Năm 1954, khi gia đình di cư vào Nam, ở tuổi 15 Thông là con trai cả trong một gia đình lúc đó có 4 anh em: Vũ Xuân Thông, Vũ Văn Thanh, Vũ Văn Phượng, Vũ Thị Bích, sau này trên vùng đất mới, gia đình Thông có thêm 2 người em nữa là Vũ Hồng Vân, Vũ Văn Dũng.
Hai tên đeo băng đỏ đưa tôi đến một căn nhà nằm trên đường Tôn Thất Thuyết. Nay mới biết là cơ sở kinh tài của Việt Cộng. Vào bên trong, tôi thấy có một số người bị bắt trước ngồi trên băng ghế đặt ở góc một phòng lớn rộng rãi. Họ ngước mắt nhìn tôi có vẻ ái ngại. Tôi biết những người ngồi đó là thành phần đặc biệt nằm trong danh sách tìm bắt của chúng. Nhìn họ, tôi thấy mấy người quen quen. Hình như họ là viên chức Chính Phủ trong tỉnh. Tôi được đưa đến ngồi cạnh họ. Tất cả đều im lặng, không ai nói với ai lời nào ngay cả khi bất chợt nhìn thấy tôi. Có lẽ im lặng để che đậy cái lý lịch của mình, làm như không quen biết nhau, nếu có khai láo cũng không liên lụy đến người khác.
Chiến tranh là một nỗi đau dằn vặt của nhân loại vì không ai muốn nó xảy ra, nhưng chiến tranh vẫn cứ xảy đến như một điều kiện cần thiết biện minh cho sự tồn tại của thế giới con người. Ngày Ba mươi tháng 4 năm 1975 là một cột mốc đánh dấu một biến cố chính trị trong lịch sử chính trị thế giới, ngày cuộc chiến tranh Việt Nam (1954-1975) chấm dứt.
Trong cuộc đời, ắt hẳn bạn đã nhiều lần bước trên lối mòn giữa một cánh đồng cỏ hay trong một khu rừng? Thoạt đầu, lối mòn ấy cũng đầy hoa hoang cỏ dại như chung quanh, nhưng những bước chân người dẫm lên qua ngày tháng đã tạo thành một con đường bằng phẳng. Ký ức chúng ta cũng tương tự như lối mòn ấy. Những trải nghiệm với cảm xúc mạnh mẽ trong quá khứ được nhớ đi nhớ lại như những bước chân đi trên lối mòn góp phần hình thành ký ức, và cả con người chúng ta. Người Mỹ gọi loại ký ức này là “core memory” mà ta có thể dịch ra Việt ngữ là ký ức cốt lõi. Với tôi, ký ức cốt lõi ấy là những gì xẩy ra cho tôi và gia đình trong quãng thời gian kể từ khi thị xã Ban Mê Thuột thất thủ ngày 12 tháng Ba năm 1975, kéo theo sự sụp đổ của miền Nam Việt Nam chưa đến bẩy tuần sau đó. Tôi vẫn nhớ, và nhớ rất rõ.


Kính chào quý vị,

Tôi là Derek Trần, dân biểu đại diện Địa Hạt 45, và thật là một vinh dự lớn lao khi được đứng nơi đây hôm nay, giữa những tiếng nói, những câu chuyện, và những tâm hồn đã góp phần tạo nên diện mạo văn học của cộng đồng người Mỹ gốc Việt trong suốt một phần tư thế kỷ qua.
Hai mươi lăm năm! Một cột mốc bạc! Một cột mốc không chỉ đánh dấu thời gian trôi qua, mà còn ghi nhận sức bền bỉ của một giấc mơ. Hôm nay, chúng ta kỷ niệm 25 năm Giải Viết Về Nước Mỹ của nhật báo Việt Báo.

Khi những người sáng lập giải thưởng này lần đầu tiên ngồi lại bàn thảo, họ đã hiểu một điều rất căn bản rằng: Kinh nghiệm tỵ nạn, hành trình nhập cư, những phức tạp, gian nan, và sự thành công mỹ mãn trong hành trình trở thành người Mỹ gốc Việt – tất cả cần được ghi lại. Một hành trình ý nghĩa không những cần nhân chứng, mà cần cả những người viết để ghi nhận và bảo tồn. Họ không chỉ tạo ra một cuộc thi; họ đã và đang xây dựng một kho lưu trữ. Họ thắp lên một ngọn hải đăng cho thế hệ sau để chuyển hóa tổn thương thành chứng tích, sự im lặng thành lời ca, và cuộc sống lưu vong thành sự hội nhập.

Trong những ngày đầu ấy, văn học Hoa Kỳ thường chưa phản ánh đầy đủ sự phong phú và đa dạng về kinh nghiệm của chúng ta. Giải thưởng Viết Về Nước Mỹ thực sự đã lấp đầy khoảng trống đó bằng sự ghi nhận và khích lệ vô số tác giả, những người đã cầm bút và cùng viết nên một thông điệp mạnh mẽ: “Chúng ta đang hiện diện nơi đây. Trải nghiệm của chúng ta là quan trọng. Và nước Mỹ của chúng ta là thế đó.”


Suốt 25 năm qua, giải thưởng này không chỉ vinh danh tài năng mà dựng nên một cộng đồng và tạo thành một truyền thống.
Những cây bút được tôn vinh hôm nay không chỉ mô tả nước Mỹ; họ định nghĩa nó. Họ mở rộng giới hạn của nước Mỹ, làm phong phú văn hóa của nước Mỹ, và khắc sâu tâm hồn của nước Mỹ. Qua đôi mắt họ, chúng ta nhìn thấy một nước Mỹ tinh tế hơn, nhân ái hơn, và sau cùng, chân thật hơn.

Xin được nhắn gửi đến các tác giả góp mặt từ bao thế hệ để chia sẻ tấm chân tình trên các bài viết, chúng tôi trân trọng cảm ơn sự can đảm của quý vị. Can đảm không chỉ là vượt qua biến cố của lịch sử; can đảm còn là việc ngồi trước trang giấy trắng, đối diện với chính mình, lục lọi ký ức đau thương sâu đậm, và gửi tặng trải nghiệm đó đến tha nhân. Quý vị là những người gìn giữ ký ức tập thể và là những người dẫn đường cho tương lai văn hóa Việt tại Hoa Kỳ.

Với Việt Báo: Xin trân trọng cảm ơn tầm nhìn, tâm huyết, và sự duy trì bền bỉ giải thưởng này suốt một phần tư thế kỷ.
Khi hướng đến 25 năm tới, chúng ta hãy tiếp tục khích lệ thế hệ kế tiếp—những blogger, thi sĩ, tiểu thuyết gia, nhà phê bình, nhà văn trẻ—để họ tìm thấy tiếng nói của chính mình và kể lại sự thật của họ, dù đó là thử thách hay niềm vui. Bởi văn chương không phải là một thứ xa xỉ; đó là sự cần thiết. Đó là cách chúng ta chữa lành, cách chúng ta ghi nhớ, và là cách chúng ta tìm thấy nơi chốn của mình một cách trọn vẹn.

Xin cảm ơn quý vị.

NHẬN TIN QUA EMAIL
Vui lòng nhập địa chỉ email muốn nhận.