Hôm nay,  

Miền Nam Việt Nam chưa hề có ‘mùa xuân đầu tiên’

16/05/202500:00:00(Xem: 2641)
 
mua xuan
Người tị nạn Việt Nam vượt biên đến cảng Hamburg trên vào cứu hộ Cap Anamur II, vào mùa hè năm 1986. Ảnh: wikipedia.org
 
Mùa xuân vốn dĩ là mùa của đoàn tụ, nghỉ ngơi, giải trí - là khoảng thời gian an vui và hạnh phúc đối với người Việt Nam. Thế nhưng, liệu người dân Việt Nam, đặc biệt là người dân miền Nam Việt Nam đã từng có một mùa xuân đúng nghĩa như lời ca khúc Mùa Xuân Đầu Tiên của nhạc sĩ Văn Cao?
 
Nhạc sĩ Văn Cao hoàn thành ca khúc Mùa Xuân Đầu Tiên theo đơn đặt hàng của báo Sài Gòn Giải Phóng. Ca khúc được đăng lần đầu trên số báo Xuân của tờ Sài Gòn Giải Phóng dịp Tết Bính Thìn, năm 1976. Thực tế, ý tưởng cho nhạc phẩm này vốn dĩ đã được ông ấp ủ từ năm 1973 – thời điểm sau khi các bên gồm Hoa Kỳ, Bắc Việt, Việt Cộng và Việt Nam Cộng hòa đã ký kết Hiệp định Paris vào ngày 27 Tháng Một năm 1973. Hiệp định này kêu gọi việc ngừng bắn giữa miền Bắc và miền Nam Việt Nam, đánh dấu bằng việc quân đội Hoa Kỳ rút về nước.
 
Dường như "mùa xuân đầu tiên" ấy chỉ thực sự hiện diện ở miền Bắc khi họ đã thỏa mãn được ý muốn chiếm miền Nam hay thậm chí chỉ có trong mơ ước của nhạc sĩ Văn Cao, khi ông viết ca khúc Mùa Xuân Đầu Tiên. Qua đó, bức tranh yên bình trong mơ của nhạc sĩ Văn Cao được ông “vẽ” bằng những hình ảnh "khói bay trên sông, gà đang gáy trưa, người mẹ nhìn đàn con nay đã về" và cảm động nhất là “từ đây người biết yêu người”. Trong khi đó, miền Nam cùng thời lại chìm trong bầu không khí ảm đạm, vì nhiều gia đình phải ly tán, xã hội nghèo đói và hỗn loạn …
 
Sau năm 1975, cuộc sống của nhiều gia đình ở miền Nam Việt Nam hoàn toàn đảo lộn. Các sĩ quan của chế độ Việt Nam Cộng Hòa bị đưa đi cải tạo, nền kinh tế về đối nội bị “ngăn sông cấm chợ”, còn đối ngoại lại bị Hoa Kỳ cấm vận nghiêm ngặt. Thanh niên trai tráng lúc đó bị bắt đi lính để tham gia chiến trường Cambodia với danh nghĩa là “làm nghĩa vụ quốc tế”, dẫn đến hậu quả là nhiều gia đình có con bị chết mất xác, nếu may mắn trở về cũng bị tàn phế thân thể hoặc tâm thần có vấn đề. Những thanh niên còn ở lại nhà thì bị bắt đi làm thủy lợi (đào lòng hồ, đào kênh) với danh nghĩa là “nghĩa vụ lao động” như chính sách trong thời miền Bắc chưa chiếm được miền Nam.
 
Các gia đình có liên quan đến “Mỹ, ngụy” đều bị ép đi kinh tế mới ở nơi thâm sơn cùng cốc, con cái họ muốn học đại học cũng bị từ chối. Quyền tự do con người ở miền Nam hoàn toàn bị tước đoạt. Ví dụ quyền bầu cử chỉ là hình thức. Người lớn lúc ấy thường truyền tai nhau rằng việc họ buộc phải đi bầu cử chỉ là hình thức, bởi các chức vụ lãnh đạo đã được các ông bà cán bộ chỉ định sẵn.
 
Đứng trước tình cảnh ngặt nghèo sau khi Sài Gòn sụp đổ, nhiều người miền Nam dường như chưa từng có mùa xuân, buộc phải lựa chọn con đường “chôn dầu vượt biển” để tìm kiếm tự do. Nỗi đau ly hương và khát vọng tìm tự do đã được nhạc sĩ Châu Đình An bày tỏ trong ca khúc Đêm Chôn Dầu Vượt Biển được sáng tác hồi Tháng Năm 1980 tại trại tị nạn Hồng Kông. Những hình ảnh bi thương trong bài hát khiến lòng người không khỏi se thắt:
 
“Đêm nay anh gánh dầu ra biển anh chôn,
Đêm nay đêm tối trời anh bỏ quê hương
Ra đi trên chiếc thuyền hy vọng vượt trùng dương…
Anh phải bỏ đi thắp lên ngọn lửa hy vọng
Anh phải bỏ đi để em còn sống
Anh phải rời xa mẹ Việt Nam đau đớn…
Hiên ngang trên sóng gào tự do đón chào
Xin chào tự do với nỗi niềm cay đắng…”
 
Từ đó đến nay, dòng người Việt Nam nói chung và người miền Nam nói riêng vẫn không ngừng ra đi tìm tự do và cuộc sống tốt đẹp hơn tại các quốc gia dân chủ, phát triển. Những quốc gia đó là Nhựt Bổn, Đài Loan, Nam Hàn, Hoa Kỳ, Canada, Úc, Đức, Malta, Singapore v.v… Cá biệt, có không ít người khi bị quy kết là “phản động” phải “vượt biên” bằng đường bộ đến Cambodia để tìm cơ hội sống sót.
 
Nếu thế hệ thuyền nhân (thập niên 80 – 90) phải liều mình vượt biên trên những chiếc thuyền nhỏ bé đầy nguy hiểm, thì ngày nay, người Việt tiếp tục rời bỏ quê hương bằng nhiều cách, từ hợp pháp đến bất hợp pháp. Hợp pháp là đi theo diện đoàn tụ gia đình, du học, đầu tư (mua thẻ xanh), kết hôn với người có quốc tịch ngoại quốc, xuất khẩu lao động, hay giám hộ học sinh du học chưa đủ tuổi trưởng thành. Còn bất hợp pháp là xin visa du lịch nhưng sau đó trốn ở lại; đi ra ngoại quốc bằng hợp đồng lao động chính thức nhưng sau đó trốn ở lại làm việc bất hợp pháp; ẩn mình trong những xe tải để vượt biên giới từ Pháp sang Anh hoặc từ Trung – Nam Mỹ đến Mỹ…
 
Điều khôi hài là số người tìm đủ mọi cách ở lại ngoại quốc hợp pháp hay bất hợp pháp đều có dân miền Bắc, “cái nôi” của cộng sản Bắc Việt.
 
Mặc dù chưa có số liệu chính thức cho biết có bao nhiêu người Việt Nam đang sinh sống ở hải ngoại, nhưng rõ ràng, số lượng người Việt đang định cư tại nhiều quốc gia trên thế giới, đặc biệt là tại Hoa Kỳ, ngày càng tăng. Cộng đồng người Việt ở hải ngoại ngày càng phình to, không khỏi làm người trong nước trăn trở phận mình.
 
Theo thống kê về người Việt sinh sống tại 49 quốc gia, tính đến năm 2023, cộng đồng người Việt tại Hoa Kỳ đứng đầu trong danh sách người Việt ở hải ngoại, với khoảng 2,346,000 người. Một con số khôi hài khác là tại Cambodia hiện có từ 400,000 đến 1,000,000 người gốc Việt, đưa quốc gia này lên vị trí thứ hai về số người Việt định cư. Đứng thứ ba là cộng đồng người Việt tại Nhựt Bổn, với khoảng 520,154 người (năm 2023). Tại Pháp, cộng đồng người Việt được xếp ở vị trí thứ tư, với khoảng 400,000 người (năm 2022). Trong khi đó, Úc giữ vị trí thứ năm với 334,781 người (năm 2021). Các quốc gia tiếp theo trong danh sách gồm: Canada với 275,530 người (năm 2021), Đài Loan với khoảng 246,973 đến 470,000 người (năm 2023), Nam Hàn với 209,373 người (năm 2022), và Đức với khoảng 215,000 người (năm 2023).
 
Đến khi nào không còn những dòng người bỏ quê hương ra đi thì may ra đất nước Việt Nam mới có “mùa xuân đầu tiên” đúng nghĩa. Những người bỏ nước ra đi không chỉ để tìm “mùa xuân” cho bản thân mà còn mang “mùa xuân” về cho gia đình, mang tiền về cho mẹ”, để thỏa lòng mong ước cho “bầy trẻ thơ  ngây chờ mong anh trai sẽ đem về cho tà áo mới. Ba ngày xuân đi khoe xóm giềng” (trích lời ca khúc Xuân Này Con Không Về).

Sự kỳ vọng của gia đình, cha mẹ và các em dành cho người ra đi đôi khi mãi mãi không trở thành hiện thực, bởi không ít người đã phải bỏ mạng nơi xứ người. Nếu như trước đây, những người vượt biên từng mất xác trên biển, thì ngày nay, những người đi tìm "mùa xuân" ở đất khách có thể mất mạng vì nhiều nguyên nhân khác nhau. Mới đây, trang báo điện tử Tuổi Trẻ đưa tin bốn công dân Việt Nam - hai nam và hai nữ - đã thiệt mạng tại Đài Loan, nghi do ngộ độc khí carbon monoxide (CO).

Danh tính các nạn nhân được xác định là anh Nguyen (22 tuổi), anh Tran (27 tuổi), chị Nguyen (23 tuổi) và chị Phan (20 tuổi). Trong đó anh Nguyen và anh Tran bị nghi là người lao động nhập cư bỏ trốn; chị Nguyen có giấy phép lao động hợp pháp tại Đài Loan; còn chị Phan là du học sinh chương trình trao đổi - đang theo học tại một trường đại học ở miền Nam Đài Loan.

Như vậy, có thể thấy rằng nhiều người dân Việt Nam thà chấp nhận rời bỏ quê hương, dù biết có thể mất mạng, còn hơn là tiếp tục sống trong một đất nước chưa từng có “mùa xuân” thực sự. Thử hỏi một đất nước làm sao có “mùa xuân” trong khi đến nay vẫn chưa có bất kỳ chính sách miễn phí nào dành cho giáo dục, y tế?

Hậu quả là trẻ em nhiều nơi phải bỏ học vì không đủ tiền đi học, bệnh nhân nhiều người bị chết oan, buộc phải bỏ điều trị vì không đủ tiền tạm ứng viện phí. Bên cạnh đó, các chính sách hỗ trợ từ nhà nước nếu có thì hầu như không đáng kể. Chẳng hạn, chính sách khuyến khích phụ nữ sinh hai con chỉ hỗ trợ tối đa ba triệu đồng mỗi người - một khoản tiền chẳng đáng là bao, thậm chí không rõ là được cấp theo tháng, theo năm hay chỉ một lần duy nhất. Trong khi đó, chi phí để nuôi dạy một đứa trẻ hiện nay đang là gánh nặng cho phụ huynh, khiến nhiều người trẻ không dám kết hôn và không dám đẻ con, dẫn đến tỷ lệ sinh con ở thành thị ngày càng thấp.  

Trong khi đó nhà nước chỉ tìm cách thu từ người dân đủ loại phí. Mới nhất trong hai năm nay là loại phí 600,000 đồng/năm đối với từng gia đình, trong đó bao gồm: “Quỹ vận chuyển chất thải rắn” (trong khi mỗi gia đình ở thành thị đều phải đóng tiền đổ rác theo tháng), “Quỹ xã hội” (không hiểu loại quỹ này chi cho việc gì), “Quỹ phường bình yên” (có bị cướp mất điện thoại hay bị giật giỏ xách gần nhà thì cũng đừng mơ công an tìm cho), “Quỹ phòng chống thiên tai” (loại quỹ này huy động mỗi năm từ trường học đến công sở, nhà máy), “Quỹ quà tặng thanh niên nhập ngũ” (tại sao phải tặng quà cho thanh niên phải làm nghĩa vụ quân sự), “Quỹ biển đảo quê hương” (tàu lạ tấn công bắt cóc ngư dân và quân nước lạ đổ bộ lên một đảo thuộc Trường Sa vẫn xảy ra mới đây)!!!

Thay vì những khoản chi cho mục đích này phải được trích từ ngân sách nhà nước - tức là từ chính nguồn thuế thu từ dân thì... chính quyền cộng sản buộc mỗi gia đình phải đóng góp tiếp! Điều khốn nạn là dù bất bình, không gia đình nào được từ chối đóng góp, vì từ chối sẽ bị công an tới điều tra, quấy nhiễu!

Vì thế, những người ra đi, nếu may mắn, có thể đã tìm thấy nhiều mùa xuân nơi đất khách quê người. Ngược lại, có lẽ họ phải mang theo hy vọng ấy sang một thế giới khác. Còn đối với những người vẫn còn kẹt tại Việt Nam - những người có cái nhìn đúng đắn về lịch sử và thể chế hiện nay- thì họ hiểu rằng, miền Nam Việt Nam chưa từng có một mùa xuân đầu tiên nào cả. Khi mà từng giờ từng phút họ sống trong lo âu, sợ bị chính quyền “mời lên phường” chỉ vì dám phản ảnh tình trạng trì trệ hay bất cập trong cách quản lý của nhà nước trên mạng xã hội.
 
Thật nực cười (hay cười ra nước mắt) khi người dân phải chạy đôn chạy đáo lo toan cho cái ăn, cái mặc, và còn phải nạp đủ thứ loại phí do nhà nước đặt ra, thì tiền hối lộ cho đám cán bộ ngày càng tăng, tính từ triệu Mỹ kim trở lên!!!
 
Tidoo Nguyễn
 

Ý kiến bạn đọc
05/11/202519:03:46
Khách
Nhục nhã ! : Từ những năm 1980 tới nay, Việt nam dưới chế độ Cộng sản ,năm này qua năm khác, sống kiếp ký sinh, sống kiếp tầm gửi vào người Việt hải ngoại .
Trung bình khoảng 16 tỷ đô la một năm; năm 2022, lên đến 19 tỷ đô la; năm 2021 là 18 tỷ đô la; năm 2020 là 17 tỷ đô la.
27/09/202518:35:53
Khách
thực sự nực cười=)) xin lỗi vì đã lạc vào lãnh địa của các bạn nhé. số liệu ở đâu cho thấy tất cả những người lựa chọn việc định cư/du học nước ngoài đều do bất mãn với chính sách nhà nước, chọn rời bỏ quê hương dù phải mất mạng? chỉ có những con người bán nước cầu vinh, những kẻ quen với cuộc sống trụy lạc an nhàn không chịu được gian khổ mới có những suy nghĩ như vậy thôi. khác tư tưởng thì nói mãi cũng thành thừa. sống ở Việt Nam mình hạnh phúc lắm nhé, và mình tin hàng triệu ng khác cũng vậy
18/05/202520:41:54
Khách
"Mùa xuân đầu tiên" là một ca khúc viết về mùa xuân do nhạc sĩ Tuấn Khanh sáng tác vào năm 1966. Đây là một trong những ca khúc xuân nổi tiếng ở miền nam Việt Nam.
Gửi ý kiến của bạn
Vui lòng nhập tiếng Việt có dấu. Cách gõ tiếng Việt có dấu ==> https://youtu.be/ngEjjyOByH4
Tên của bạn
Email của bạn
)
Trong 50 năm vừa qua, cộng đồng Việt Nam đã có những thành tựu nào về chính trị và văn hóa? Thực tế là đã có rất nhiều chuyển biến. Thời gian đầu là những cộng đồng tỵ nạn ở Hoa Kỳ, lan rộng thành những cộng đồng đông người Việt hơn ở rất nhiều nước trên thế giới; và rồi hình ảnh những người thất trận và tỵ nạn mờ nhạt đi. Nhiều thế hệ trẻ ra đời, trưởng thành, trở thành và gánh vác một căn cước mới. Từ đó, có nhiều cộng đồng mang thêm sức mạnh chính trị, văn hóa.
Có lần tôi đứng trước một căn phòng đầy học sinh trung học và kể một câu chuyện về thời điểm chiến tranh Việt Nam chấm dứt, về việc tôi đã bỏ chạy sang Mỹ khi còn nhỏ, và trải nghiệm đó vẫn ám ảnh và truyền cảm hứng cho tôi như thế nào, thì một cô gái trẻ giơ tay hỏi tôi: “Ông có thể cho tôi biết tại sao cha tôi không bao giờ kể cho tôi nghe về cuộc chiến đó không? Cha tôi uống rượu rất nhiều, nhưng lại ít nói.” Giọng nói cô run rẩy. Cô gái bảo cha cô là một người lính miền Nam Việt Nam, ông đã chứng kiến nhiều cảnh đổ máu nhưng nỗi buồn của ông phần nhiều là trong nội tâm, hoặc nếu đôi khi thể hiện ra ngoài thì bằng những cơn thịnh nộ.
Những ngày này, trên phạm vi cả nước, đảng cộng sản việt nam đang tổ chức rầm rộ kỷ niệm 50 năm ngày “giải phóng” Miền Nam, thống nhất đất nước. Thực chất, đây là cuộc nội chiến tương tàn giữa hai anh em Bắc- Nam cùng một Nước vì ý thức hệ cộng sản và dân chủ. Lẽ ra, sau khi đã “thống nhất”, “bên thắng cuộc” phải chủ động trong việc “hòa giải, hòa hợp” dân tộc để tái thiết và phát triẻn Đất Nước. Nhưng, 50 năm qua, hận thù vẫn luôn được nhà cầm quyền cộng sản nuôi dưỡng và khích lệ dưới mọi hình thức.
Điều thú vị nhất của nghề làm báo là luôn có sự mới lạ. Ngày nào cũng có chuyện mới, không nhàm chán, nhưng đôi khi cũng kẹt, vì bí đề tài. Người viết, người vẽ, mỗi khi băn khoăn tìm đề tài, cách tiện nhất là hỏi đồng nghiệp. Ngày 26 tháng 3, 1975, hoạ sĩ Ngọc Dũng (Nguyễn Ngọc Dũng: 1931-2000), người dùng bút hiệu TUÝT, ký trên các biếm hoạ hàng ngày trên trang 3 Chính Luận, gặp người viết tại toà soạn, hỏi: “Bí quá ông ơi, vẽ cái gì bây giờ?”
Chiến tranh là một nỗi đau dằn vặt của nhân loại vì không ai muốn nó xảy ra, nhưng chiến tranh vẫn cứ xảy đến như một điều kiện cần thiết biện minh cho sự tồn tại của thế giới con người. Ngày Ba mươi tháng 4 năm 1975 là một cột mốc đánh dấu một biến cố chính trị trong lịch sử chính trị thế giới, ngày cuộc chiến tranh Việt Nam (1954-1975) chấm dứt.
Năm mươi năm nhìn lại, sau ngày 30 tháng 04, 1975, cái dấu mốc lịch sử đau thương của đất nước Việt Nam, nói chung, và người dân miền Nam nói riêng. Sự thật lịch sử về ngày này đã được phơi bày rõ ràng trên mọi phương tiện truyền thông, tin tức, và trong thế giới sử. Ai cũng đã rõ, phe thắng trận, sai, phe thua trận, đúng. Điều này không cần bàn cãi nữa; cho dù kẻ chiến thắng cố tình viết lại lịch sử Việt Nam theo ý mình khi sức mạnh của họ nằm trên nòng súng. Phe thua cuộc lại là phe thắng được nhân tâm.
Vũ Xuân Thông sinh ngày 9 tháng 12 năm 1939 tại Hà Nội. Là gia đình có đạo dòng, Thông theo học trường Puginier, là một ngôi trường cổ xưa được xây cất từ năm 1897 tại Hà Nội. Năm 1954, khi gia đình di cư vào Nam, ở tuổi 15 Thông là con trai cả trong một gia đình lúc đó có 4 anh em: Vũ Xuân Thông, Vũ Văn Thanh, Vũ Văn Phượng, Vũ Thị Bích, sau này trên vùng đất mới, gia đình Thông có thêm 2 người em nữa là Vũ Hồng Vân, Vũ Văn Dũng.
Hai tên đeo băng đỏ đưa tôi đến một căn nhà nằm trên đường Tôn Thất Thuyết. Nay mới biết là cơ sở kinh tài của Việt Cộng. Vào bên trong, tôi thấy có một số người bị bắt trước ngồi trên băng ghế đặt ở góc một phòng lớn rộng rãi. Họ ngước mắt nhìn tôi có vẻ ái ngại. Tôi biết những người ngồi đó là thành phần đặc biệt nằm trong danh sách tìm bắt của chúng. Nhìn họ, tôi thấy mấy người quen quen. Hình như họ là viên chức Chính Phủ trong tỉnh. Tôi được đưa đến ngồi cạnh họ. Tất cả đều im lặng, không ai nói với ai lời nào ngay cả khi bất chợt nhìn thấy tôi. Có lẽ im lặng để che đậy cái lý lịch của mình, làm như không quen biết nhau, nếu có khai láo cũng không liên lụy đến người khác.
Chiến tranh là một nỗi đau dằn vặt của nhân loại vì không ai muốn nó xảy ra, nhưng chiến tranh vẫn cứ xảy đến như một điều kiện cần thiết biện minh cho sự tồn tại của thế giới con người. Ngày Ba mươi tháng 4 năm 1975 là một cột mốc đánh dấu một biến cố chính trị trong lịch sử chính trị thế giới, ngày cuộc chiến tranh Việt Nam (1954-1975) chấm dứt.
Trong cuộc đời, ắt hẳn bạn đã nhiều lần bước trên lối mòn giữa một cánh đồng cỏ hay trong một khu rừng? Thoạt đầu, lối mòn ấy cũng đầy hoa hoang cỏ dại như chung quanh, nhưng những bước chân người dẫm lên qua ngày tháng đã tạo thành một con đường bằng phẳng. Ký ức chúng ta cũng tương tự như lối mòn ấy. Những trải nghiệm với cảm xúc mạnh mẽ trong quá khứ được nhớ đi nhớ lại như những bước chân đi trên lối mòn góp phần hình thành ký ức, và cả con người chúng ta. Người Mỹ gọi loại ký ức này là “core memory” mà ta có thể dịch ra Việt ngữ là ký ức cốt lõi. Với tôi, ký ức cốt lõi ấy là những gì xẩy ra cho tôi và gia đình trong quãng thời gian kể từ khi thị xã Ban Mê Thuột thất thủ ngày 12 tháng Ba năm 1975, kéo theo sự sụp đổ của miền Nam Việt Nam chưa đến bẩy tuần sau đó. Tôi vẫn nhớ, và nhớ rất rõ.


Kính chào quý vị,

Tôi là Derek Trần, dân biểu đại diện Địa Hạt 45, và thật là một vinh dự lớn lao khi được đứng nơi đây hôm nay, giữa những tiếng nói, những câu chuyện, và những tâm hồn đã góp phần tạo nên diện mạo văn học của cộng đồng người Mỹ gốc Việt trong suốt một phần tư thế kỷ qua.
Hai mươi lăm năm! Một cột mốc bạc! Một cột mốc không chỉ đánh dấu thời gian trôi qua, mà còn ghi nhận sức bền bỉ của một giấc mơ. Hôm nay, chúng ta kỷ niệm 25 năm Giải Viết Về Nước Mỹ của nhật báo Việt Báo.

Khi những người sáng lập giải thưởng này lần đầu tiên ngồi lại bàn thảo, họ đã hiểu một điều rất căn bản rằng: Kinh nghiệm tỵ nạn, hành trình nhập cư, những phức tạp, gian nan, và sự thành công mỹ mãn trong hành trình trở thành người Mỹ gốc Việt – tất cả cần được ghi lại. Một hành trình ý nghĩa không những cần nhân chứng, mà cần cả những người viết để ghi nhận và bảo tồn. Họ không chỉ tạo ra một cuộc thi; họ đã và đang xây dựng một kho lưu trữ. Họ thắp lên một ngọn hải đăng cho thế hệ sau để chuyển hóa tổn thương thành chứng tích, sự im lặng thành lời ca, và cuộc sống lưu vong thành sự hội nhập.

Trong những ngày đầu ấy, văn học Hoa Kỳ thường chưa phản ánh đầy đủ sự phong phú và đa dạng về kinh nghiệm của chúng ta. Giải thưởng Viết Về Nước Mỹ thực sự đã lấp đầy khoảng trống đó bằng sự ghi nhận và khích lệ vô số tác giả, những người đã cầm bút và cùng viết nên một thông điệp mạnh mẽ: “Chúng ta đang hiện diện nơi đây. Trải nghiệm của chúng ta là quan trọng. Và nước Mỹ của chúng ta là thế đó.”


Suốt 25 năm qua, giải thưởng này không chỉ vinh danh tài năng mà dựng nên một cộng đồng và tạo thành một truyền thống.
Những cây bút được tôn vinh hôm nay không chỉ mô tả nước Mỹ; họ định nghĩa nó. Họ mở rộng giới hạn của nước Mỹ, làm phong phú văn hóa của nước Mỹ, và khắc sâu tâm hồn của nước Mỹ. Qua đôi mắt họ, chúng ta nhìn thấy một nước Mỹ tinh tế hơn, nhân ái hơn, và sau cùng, chân thật hơn.

Xin được nhắn gửi đến các tác giả góp mặt từ bao thế hệ để chia sẻ tấm chân tình trên các bài viết, chúng tôi trân trọng cảm ơn sự can đảm của quý vị. Can đảm không chỉ là vượt qua biến cố của lịch sử; can đảm còn là việc ngồi trước trang giấy trắng, đối diện với chính mình, lục lọi ký ức đau thương sâu đậm, và gửi tặng trải nghiệm đó đến tha nhân. Quý vị là những người gìn giữ ký ức tập thể và là những người dẫn đường cho tương lai văn hóa Việt tại Hoa Kỳ.

Với Việt Báo: Xin trân trọng cảm ơn tầm nhìn, tâm huyết, và sự duy trì bền bỉ giải thưởng này suốt một phần tư thế kỷ.
Khi hướng đến 25 năm tới, chúng ta hãy tiếp tục khích lệ thế hệ kế tiếp—những blogger, thi sĩ, tiểu thuyết gia, nhà phê bình, nhà văn trẻ—để họ tìm thấy tiếng nói của chính mình và kể lại sự thật của họ, dù đó là thử thách hay niềm vui. Bởi văn chương không phải là một thứ xa xỉ; đó là sự cần thiết. Đó là cách chúng ta chữa lành, cách chúng ta ghi nhớ, và là cách chúng ta tìm thấy nơi chốn của mình một cách trọn vẹn.

Xin cảm ơn quý vị.

NHẬN TIN QUA EMAIL
Vui lòng nhập địa chỉ email muốn nhận.