Hôm nay,  

Đọc Tuyển Tập Trịnh Y Thư: Theo Dấu Thư Hương 2

19/12/202509:54:00(Xem: 552)

TDTH II Cover PreOrder 

Nhà văn Trịnh Y Thư vừa ấn hành tuyển tập Theo Dấu Thư Hương 2, gồm nhiều bài viết trong nhiều chủ đề đa dạng, phần lớn là về văn học nghệ thuật, đôi khi là lịch sử, khoa học, xã hội. Tuyển tập dày 294 trang, đang lưu hành trên các mạng, như Amazon và Barnes & Noble. Nhìn chung, tác phẩm giúp độc giả soi rọi thêm nhiều cách nhìn đa dạng, mới mẻ, kể cả khi tác giả viết về những người viết chúng ta đã quen thuộc trong văn học Việt Nam, như về Ngô Thế Vinh, Đỗ Hồng Ngọc, Nguyễn Thị Khánh Minh, và nhiều người khác.

Tác giả gọi tuyển tập này là “tạp luận”, nhưng đọc cho kỹ, không có gì có thể gọi là “tạp” nơi đây, vì đây là trường hợp, như với truyện Khuất Đẩu, theo Trịnh Y Thư, “tôi đã nghiền ngẫm đọc để có bài viết trong cuốn sách” (TDTH2, trang 13) hay có khi là “tôi chọn ra được vài ba bài đắc ý” (trang 14) từ các bài anh viết trên Việt Báo Daily News, hay như “những chuyện xảy ra bên lề lịch sử hay bị chính sử gạt sang một bên, bôi xóa, bóp méo, khiến tôi cảm thấy thôi thúc muốn nói lên cảm nghĩ của mình” (trang 14) – và, thế đó, chỉ từ việc anh đọc sách để rồi viết sách, “không chỉ là hành động đơn độc mà là cách sống trong cô đơn một cách có ý nghĩa. Nó biến cô đơn thành kết nối, dửng dưng thành suy ngẫm, và im lặng thành đối thoại.” (trang 13).

Trịnh Y Thư hy vọng một cuộc đối thoại. Có thực là đối thoại có thể xảy ra trên quê nhà chúng ta, nơi chữ nghĩa đã trở thành vũ khí chứ không chắc bao nhiêu phần là ghi lại sự thật và thảo luận? Để hình thành một cuộc đối thoại, trước tiên là cần lắng nghe. Đặc biệt là các đề tài liên hệ lịch sử, cần phải trung tính để đọc cả những sự thật khó nghe đối với phe ta, phe mình... nơi trong nhiều thập niên chúng ta bị đẩy vào dòng sông lịch sử hai bờ. Như trường hợp tiểu thuyết của Bảo Ninh đang được (hay bị) tranh luận hiện nay, từ những trang sách viết từ cô đơn, lặng lẽ rồi trở thành chuyện chụp mũ ngay trong các pháo đài văn học Hà Nội. Nếu Bảo Ninh không phải người bên kia, mà là người bên này, thì bạn sẽ không tìm được bản sách giấy nào trong quê nhà chúng ta. Bất kể rằng, Bảo Ninh đã dựng một số chuyện không thật để bôi nhọ tư cách người lính Miền Nam.

Tuy nhiên, Trịnh Y Thư là một người rất thơ mộng, và chàng đã viết với hy vọng “im lặng thành đối thoại.

Sách Theo Dấu Thư Hương 2 mở đầu bằng một “Lời Ngỏ” dài bốn trang, kế tiếp là 18 bài viết nhiều chủ đề, cuối cùng là cuộc đối thoại thực sự với Nhã Lan trong chương trình phát thanh “Tản Mạn Văn Học” trong hình thức Nhã Lan hỏi và Trịnh Y Thư đáp. Sau cùng là vài trang tiểu sử và danh sách tác phẩm.

Nhìn chung, tuyển tập Theo Dấu Thư Hương 2 thuộc loại “nghiêm và buồn,” nghĩa là, sách dày 294 trang, cầm lên rất là nhẹ, nhưng khi bạn càng đọc, càng suy nghĩ, càng ngấm từng dòng chữ của tác giả, sách bỗng trở nên nặng trĩu tay. Nhưng đó là một nỗi buồn rất nghiêm túc mà bất kỳ người viết nào cũng có sẵn và dễ dàng được khơi dậy.

Ngay nơi trang bìa sau của tuyển tập, in một trích dẫn từ “Lời Ngỏ” của Trịnh Y Thư, cũng là những hình ảnh “nghiêm và buồn” (như: cô đơn, định hình và tái định hình đời sống nội tâm, hiện sinh, cái chết, ý nghĩa cuộc đời, tình yêu, sự vong thân...) được tác giả mô tả:

Sự cô đơn của việc đọc sách trở thành chất xúc tác cho việc định hình và tái định hình đời sống nội tâm. Đọc sách cũng khiến bật lên những khía cạnh triết học, đặc biệt là sách văn học và triết học, bởi nó giúp chúng ta tiếp cận với những câu hỏi hiện sinh như cái chết, ý nghĩa cuộc sống, tình yêu, sự vong thân. Tính cách đối đầu này chỉ có thể xảy ra trong một tâm trạng quán chiếu cô đơn; nhưng nó giúp ta đối mặt không phải trong tuyệt vọng, mà trong sự thấu hiểu lẫn nhau. Tóm lại, như một thái độ đối với cô đơn, không phải đối đầu lại mà hòa nhập vào, đọc sách không chỉ là hành động đơn độc mà là cách sống trong cô đơn một cách có ý nghĩa. Nó biến cô đơn thành kết nối, dửng dưng thành suy ngẫm, và im lặng thành đối thoại.

Bài đầu tiên in sau Lời Ngỏ là bài “Sự Lãng Quên” đã kể về trường hợp Nguyễn Hữu Đang, người đứng trên lễ đài sau lưng ông Hồ trong buổi lễ đọc Tuyên Ngôn Độc Lập của Việt Nam ngày 2 tháng 9 năm 1945 và khoảng thập niên sau tham dự nhóm Nhân Văn Giai Phẩm để đòi tự do trong sáng tác văn học, đã bị nhà nước chuyên chính vô sản tẩy xóa từ hình ảnh (tẩy trắng hình chụp ở lễ đài) cho tới tẩy xóa mọi mặt trong xã hội, đẩy vào từ nhà tù cho tới cô lập. Trịnh Y Thư ghi nhận rằng Nguyễn Hữu Đang và các nạn nhân Mậu Thân 1968 “bây giờ chỉ còn là những bóng ma, bóng ma quá khứ.” (trang 21).

Trong cương vị một người đọc (làm ơn, xin đừng ai nghĩ rằng tôi đang phê bình văn học), tôi đặc biệt “dị ứng” với bài “Tiếng nói như là kết nối giữa hiện tại với quá khứ” (các trang 25-43). Bài viết có tính sử học công phu này cũng dựa vào thông tin từ GS Trần Huy Bích và chị Ngọc Dung. Điều cực kỳ “nguy hiểm” của bài này: các em thiếu nhi (như tôi) sẽ khóc suốt một tuần lễ, vì nơi đây Trịnh Y Thư đã làm tan biến huyền thoại con rồng cháu tiên của dân tộc Việt Nam. Thế rồi một ngày, chúng ta thấy mình không phải là con nhà rồng-tiên nữa, khi mở sách ra và đọc về cội nguồn cổ đại của người Việt, người Lạc, người Giao Chỉ, và vân vân. Nghĩa là, nơi trang sách này, thần tiên đã chắp cánh bay xa.

Điều tuyệt vời là, trong tuyển tập Theo Dấu Thư Hương 2, chúng ta sẽ thấy Trịnh Y Thư viết rất là thơ, nơi những dòng chữ có sức mạnh buộc tôi đọc đi đọc lại, để suy nghĩ xem thế nào, chất thơ nơi đâu trong chữ của tác giả.

Bạn có thể mở bất kỳ trang sách nào của Theo Dấu Thư Hương 2, và xác suất rất cao là bạn sẽ gặp thơ trong văn xuôi Trịnh Y Thư. Thí dụ, tôi mở ra tình cờ (thật sự là tình cờ, không cố ý, dĩ nhiên, lúc khác sẽ cố ý) nơi trang 105, Trịnh Y Thư viết:

Đọc thơ Nguyễn Thị Khánh Minh là chìm đắm trong một khu vườn chữ nghĩa óng ả, nhiệm mầu, sáng lấp lánh như những chuỗi ngọc. Chị không phát minh nhiều từ mới như các nhà thơ Tượng trưng, nhưng các từ trong thơ nằm cạnh nhau thân thiết như đàn chim thiên di rủ nhau xuôi nam tìm nắng ấm. Chữ nghĩa đẹp, gợi cảm, như có ma lực làm say đắm lòng người đọc. Chị sử dụng phép hoán dụ rất tài tình trong thơ, điều đó càng làm tăng sự phong phú và gợi cảm. Mặt dệt của chữ nghĩa lóng lánh như hoa gấm, ý tứ tuy kín đáo, thâm trầm nhưng nồng nàn hơi thở.” (TDTH2, tr. 105).

Những dòng chữ đó là thơ, không phải phê bình văn học. Nếu cụ Nguyễn Du mà viết về thơ Hồ Xuân Hương như thế, hẳn là tôi sẽ xé trang giấy ra, đưa ra tiệm đóng khung rồi treo lên tường. May quá, không phải cụ Nguyễn và chị Hồ. Có thể sẽ là người của hai trăm năm sau sẽ làm như thế?

Từ trang tình cờ mở ra đó, tôi dò ngược tới, và thấy ngôn ngữ Trịnh Y Thư viết về thơ của duyên, trích: “duyên làm thơ như nói chuyện. Nói thầm thì. Nói trong niềm vui. Nói trong nỗi buồn. Nói trong nỗi nhớ. Nói với người. Nói với cỏ cây hoa lá. Nói với hư vô. Nói với cô đơn.”(TDTH2, tr. 86). Cũng là thơ viết về thơ.

Trịnh Y Thư cũng viết về nỗi chấn động, khi anh phải đọc một mạch những bài thơ của Lê Chiều Giang, vì sức mạnh của những dòng chữ mà anh gọi là đầy ắp đau đớn, “Sự phẫn nộ trong thơ Lê Chiều Giang đã khiến người đọc là tôi phải chấn động, bởi quả thực tôi chưa bao giờ đọc một mạch những bài thơ mà bài nào cũng đầy ắp những nỗi đau đớn uất nghẹn như muốn tung hê mọi thứ, phá tan đập nát cuộc sống, chẳng cần biết hậu quả là gì.” (TDTH2, tr. 93).

Trong bài "Cảm nhận nhân đọc 'Thơ ngắn Đỗ Nghê'" Trịnh Y Thư dẫn ra bốn câu thơ Đỗ Nghê (Đỗ Hồng Ngọc) rồi nhận xét, trích (chữ “tôi” dưới đây là Trịnh Y Thư):

Tôi đặc biệt yêu thích bài Hội An sớm:
 
Hội An còn ngái ngủ
Mái chùa ôm vầng trăng
Giật mình nghe tiếng chổi
Gà gáy vàng trong sương…

Như một khúc Đường thi. Thi ảnh, tuy cổ điển, nhưng đẹp não nùng. Và, chao ơi, tiếng chổi. Sao lại tiếng chổi từ trong sân chùa một cách mơ hồ vọng ra? Sao không là tiếng tụng kinh, tiếng chuông, tiếng mõ vào buổi sớm? Chính sự bất ngờ ấy, đánh động tâm hồn khiến thi nhân giật mình, đã làm tăng thú vị khi đọc bài thơ. Bất ngờ hơn chuyện ông Trương Kế lúc từ Phong Kiều bước xuống thuyền nghe tiếng chuông chùa Hàn Sơn vọng lại. Bài thơ của Đỗ Nghê là bức tranh hiện thực được vẽ bằng bốn câu thơ năm chữ." (TDTH2, tr. 117).

Chỉ cần đọc vài trang bất kỳ của Theo Dấu Thư Hương 2, bạn sẽ kinh ngạc tự hỏi, rằng có mấy ai trên đời viết phê bình văn học y như làm thơ như thế? Dĩ nhiên là có. Trước kia, có Bùi Giáng, Tuệ Sỹ... nhưng mỗi người một kiểu riêng. Thí dụ, nhà sư Tuệ Sỹ viết về Tô Đông Pha, về Lý Hạ tuy là nói về các cõi thơ mộng nhưng vẫn giữ văn phong trong cổng chùa. Bùi Giáng viết về Ni cô Trí Hải, về Tuệ Sỹ tuy là đùa giỡn, phóng túng nhưng vẫn là nhà thơ nói với nhà thơ. Nơi đây, Trịnh Y Thư gây một kinh ngạc cho tôi, vì Trịnh Y Thư là một người biệt xứ từ năm 18 tuổi, du học lại chọn các ngành khoa học, kỹ thuật... không được đắm chìm trong một xã hội tiếng Việt nhiều thập niên như tôi và nhiều nhà văn khác.

Trong tuyển tập Theo Dấu Thư Hương 2, một nhà văn nổi bật qua các trang phê bình của Trịnh Y Thư là Ngô Thế Vinh, một bác sĩ nhưng cầm bút từ thời sinh viên và gắn liền với những sóng gió lịch sử của dân tộc, từ thời làm báo ở Đại học Y Khoa Sài Gòn cho tới tham gia cuộc nội chiến, và nhiều năm tù cải tạo trước khi sang Hoa Kỳ định cư. Ngô Thế Vinh được Trịnh Y Thư gọi là "nhà văn dấn thân" (TDTH2, tr. 139)  và là "nhà văn của lương tâm" (TDTH2, tr. 141) khi nhắc tới một thời trước 1975 khi “Ngô Thế Vinh bị bắt ra hầu tòa với tội danh ‘phổ biến những luận điệu phương hại trật tự công cộng và làm suy giảm kỷ luật, tinh thần chiến đấu của quân đội’…” (TDTH2, tr. 140).

Trịnh Y Thư cũng gọi Ngô Thế Vinh là nhà văn đã không chọn con đường dễ dãi khi lặn lội khắp vùng Cửu Long để trở thành một "con chim báo bão" với nhận định, trích:

Trong vòng mấy chục năm qua – với hai tác phẩm quan trọng gây tiếng vang không ít, Cửu Long Cạn Dòng, Biển Đông Dậy Sóng và Mekong Dòng Sông Nghẽn Mạch, cộng thêm hàng chục tiểu luận biên khảo, nghiên cứu giá trị về những biến đổi nguy hại của hệ sinh thái sông Mekong – ông mặc nhiên được xem như một chuyên gia hàng đầu trong lĩnh vực này, và một cách ưu ái hơn, con chim “báo bão” về mối đe dọa thường xuyên và ghê rợn từ phương Bắc đối với sự sinh tồn của đất nước và dân tộc. Để thực hiện các bộ sách về sông Mekong ông đã lặn lội từ tỉnh Vân Nam, Trung Quốc xuống các quốc gia Lào, Thái Lan, Kampuchia và đồng bằng sông Cửu Long, Việt Nam. Qua các chuyến đi quan sát thực địa, ông đã tận mắt chứng kiến sự suy thoái bất khả đảo nghịch của con sông Mekong, “hậu quả dây chuyền của những bước khai thác tự hủy, tàn phá sinh cảnh, làm cạn kiệt nguồn tài nguyên, gây ô nhiễm môi trường,” do chính sách phát triển kinh tế bất chấp hậu quả tai hại ra sao của nhà cầm quyền Trung Quốc, mà Việt Nam là quốc gia lãnh chịu hậu quả nặng nề và thiệt thòi nhất.” (TDTH2, tr. 140-141).

Nhìn chung, văn phong phê bình của Trịnh Y Thư đa dạng, và luôn luôn hướng về những gì có tính thăng hoa của nhân loại. Trong bài viết “Vũ Thư Hiên: Lời xưng tội lúc nửa đêm,” Trịnh Y Thư nhận định:

Nhưng bên dưới những sự thật tàn bạo trần trụi được phơi bày qua chữ nghĩa, là tính nhân bản và cái “human spirit”. Đấy chính là tính văn học đích thực trong truyện Vũ Thư Hiên. Cái “human spirit”, hiển lộ trong những truyện ngắn của ông, không hẳn chỉ đơn thuần là tinh thần, khí thế hay sự can trường của con người trước nghịch cảnh theo cách hiểu bình thường, nó còn là biểu hiệu cho “lòng khao khát muốn sống và được sống như con người”. Và, như chúng ta đều biết, muốn sống và được sống như con người là một điều cực khó.” (TDTH2, tr. 190).

Một điểm nữa, Trịnh Y Thư có một văn phong đặc biệt, khi đặt nhan đề, tìm ra những tựa đề có tính tượng hình. Tôi ưa thích đặc biệt bài “Khuất Đẩu: Đi tìm bóng mình trong cơn lũ cuồng nộ của lịch sử” – không chỉ nhan đề rất thơ mộng, rất dữ dội, rất nghiêm và buồn, mà cũng về cách truyện của Khuất Đẩu được phân tích.

Trịnh Y Thư viết, trích: “Truyện Khuất Đẩu, dù là truyện ngắn hay truyện vừa, mở ra trong tâm tư người đọc nhiều liên tưởng bát ngát; bên dưới lớp vỏ thô nhám, sần sùi, đôi khi tàn bạo, khốc liệt, là những chua xót, ngậm ngùi cho thân phận con người, những thân phận bị chôn vùi dưới con trốt xoáy của lịch sử và dòng đời. Đọc Khuất Đẩu không phải để tìm kiếm câu trả lời cho những vấn nạn nhân sinh, nhà văn không đưa ra đáp án, lại càng không rao giảng đạo đức, thậm chí một lời an ủi cũng không. [...] Trang sách có thể úa vàng rách nát nhưng những con chữ trên mặt sách vẫn nóng hôi hổi như vừa được viết ra với dòng máu sục sôi.” (TDTH2, tr. 210).

Trong bài “Đọc tiểu thuyết THUYỀN của Nguyễn Đức Tùng: Những ký ức cuồng nộ về một thời bão táp” (cũng là một tựa đề nhiều hình ảnh), Trịnh Y Thư nhận định về cuốn tiểu thuyết trong bối cảnh về một thời vượt biên, nơi nhà thơ họ Nguyễn có một văn phong truyện rất mới, trích: “Đang miêu thuật tự sự thoắt nhảy sang độc thoại nội tâm rồi lại thoắt về tự sự. Suy nghĩ bên trong của nhân vật được thể hiện ngay khi sự việc xảy ra. Cấu trúc phi tuyến tính của mạch văn khiến thời gian có thể không di chuyển theo trình tự biên niên; suy nghĩ có thể quay lại quá khứ, không nhất thiết là ngày hôm qua, mà có thể nhiều chục năm về trước, hoặc suy nghĩ ấy nhảy về phía trước cũng nhiều chục năm. Ngữ pháp truyền thống ở đây không được tôn trọng nghiêm ngặt, câu chữ có thể bị phân mảnh hoặc kéo dài lê thê, phản ánh tính ngẫu nhiên, mông lung, bất chợt của suy nghĩ. Tính chủ quan cũng hiển lộ rõ ràng qua thủ pháp này: Ngòi bút tập trung vào ấn tượng cá nhân nhiều hơn là thực tế khách quan. Nói chung, kỹ thuật này thường được sử dụng để đào sâu hiểu biết về tâm lý, cho phép người đọc trải nghiệm tâm trí và tâm lý của nhân vật từ bên trong.”  (TDTH2, tr. 214).

Trong tuyển tập Theo Dấu Thư Hương 2 vẫn còn nhiều bài khác, với nhiều chủ đề khác... xin mời độc giả lần mở từng trang sách. Bài giới thiệu sách nơi đây không thể nói hết những gì tuyển tập chuyên chở. Nếu bạn là nhà thơ, bạn sẽ thấy những quan tâm rất lớn trong tuyển tập, thí dụ như bài “Tại sao chúng ta làm thơ?” nơi các trang 67-85. Nếu bạn là nhà văn, một người viết văn xuôi, bạn tất nhiên sẽ chú ý bài “Tản văn, Tùy bút và Ký giống, khác nhau như thế nào?” nơi các trang 59-66. Và nếu bạn quan tâm về văn học Mỹ, bạn tất nhiên sẽ ưa thích bài “Tính đa dạng và hòa nhập trong văn học Mỹ” nơi các trang 223-238.

Nói ngắn gọn, Theo Dấu Thư Hương 2 có sức mạnh lôi cuốn nhiều độc giả sẽ đọc một mạch, không muốn buông tay xuống để nghỉ. Đây là một tuyển tập rất thơ, rất cuồng nộ, và cũng rất buồn. Đây là những dòng chữ rất mực khó tìm trong cõi này.

Bạn có thể tìm mua Theo Dấu Thư Hương 2 từ Amazon, khi vào trang này:


Hay là vào trang của nhà xuất bản Barnes & Noble:


Từ tìm kiếm: theo dau thu huong II, trinh y thu

Nếu bạn đang ở Quận Cam, xin mời tới mua ở Nhà Sách Tự Lực.

Phan Tấn Hải
(12/2025)
 
Hình ảnh:
 
DSC_0255
Trịnh Y Thư & Phan Tấn Hải tại buổi Ra Mắt Sách hôm 6 Tháng 12, 2025 tại Coffee Factory, OC.
 
Trinh y thu ra mat sach
Trịnh Y Thư trong buổi RMS (ảnh Phan Tấn Hải).

Gửi ý kiến của bạn
Vui lòng nhập tiếng Việt có dấu. Cách gõ tiếng Việt có dấu ==> https://youtu.be/ngEjjyOByH4
Tên của bạn
Email của bạn
)
Có thể hình dung như thế nào về truyện ngắn Nguyễn Văn Sâm? Khi tôi khép lại các trang sách trong tuyển tập "Chiếc Ba Lô Để Lại" dày 630 trang mới ấn hành của vị giáo sư nổi tiếng về văn học chữ Nôm, khi chữ biến mất là hiện lên một cánh đồng cò bay thẳng cánh, nơi có sương mai và nắng sớm của ngôn ngữ Lục Tỉnh mà chúng ta ngỡ như đã biến mất từ nhiều thập niên trước, bây giờ như tình cờ hiển lộ trên ký ức như mây trời Núi Cấm. Nơi này, nơi kia trên các trang giấy tập truyện, giữa những chuyển biến truyện và đối thoại của nhân vật là khói sương của tín ngưỡng dân gian Nam Bộ, nơi niềm tin tự nhiên vào luật nhân quả, nơi đó cái thiện sẽ lưu giữ trong lòng người và những gì bất thiện sẽ phai nhạt theo quá khứ lịch sử.
Hans Fallada, tên thật là Rudolf Ditzen, người đã sống giữa những biến động của nước Đức — từ sự sụp đổ của Đế chế, đến cơn bão của Thế chiến thứ nhất, rồi bước vào cơn ác mộng của Đệ tam đế chế. Trước chiến tranh, Fallada là một nhà văn nổi tiếng, tác giả của Little Man, What Now?, được Hollywood dựng thành phim. Nhưng khi Hitler lên nắm quyền, ông bị cấm xuất bản, bị Gestapo rình rập, và bị ép phải viết những tác phẩm phục vụ tuyên truyền. Tưởng chừng như bị nghiền nát giữa bạo lực và sợ hãi, ông lại tìm thấy trong ngục tối một đường sống của tâm hồn – viết. Trong ngục tối, ông bí mật viết nên ba cuốn tiểu thuyết mã hóa, và sau chiến tranh, vừa thoát xác một người sống sót, ông viết cuốn cuối cùng: Mỗi người đều chết một mình (Every Man Dies Alone).
Năm 2025 đánh dấu một bước ngoặt đặc biệt trong hành trình của Ocean Vuong (1). Nhà văn, nhà thơ gốc Việt nầy đã trở thành một trong những khuôn mặt quan trọng nhất của văn chương Mỹ đương đại. Không còn là “hiện tượng thơ”, không còn được biết đến qua nỗi đau di dân, không còn đứng trong hào quang của Night Sky with Exit Wounds hay thành công bất ngờ của On Earth We’re Briefly Gorgeous trước đây, Ocean Vuong năm 2025 là một nhà văn đang mở ra biên giới mới của chính mình với The Emperor of Gladness, NXB Penguin Press, New York, 2025)...
Ngay chính cái tên “Tôi, Không Là Của Ai” đã là một tiếng kêu vừa thẳng thắn, vừa đau đớn. Tôi không là của ai trong cuộc đời này. Tôi không là con của cha tôi. Nhà văn, ký giả Amy Wallace từng lên tiếng, Virginia cũng từng bị chính cha mình ức hiếp khi cô 7 tuổi. Cô khước từ cái quyền sở hữu của những kẻ đã lạm dụng mình. Cô bị khước từ quyền được sống và được làm người, dù đó là những ngày hạnh phúc muộn màng của hơn 20 năm sau ngày cô thoát khỏi Jeffrey Epstein và Ghislaine Maxwell. Khi Virginia viết cuốn tự truyện này là lúc cô đã được hưởng 22 năm tự do. Tự do khỏi Epstein, Maxwell, đường dây mua bán tình dục trẻ em mà cô là một trong những nô lệ tình dục của Epstein. Hai mươi hai năm đó, cô tự thú, “không dễ dàng chút nào.” Không bao giờ có vết thương nào không để lại vết sẹo. Không bao giờ có sự hồi phục nào không để lại trầm tích.
Vâng, cảm ơn nhà thơ thiền sư Thiện Trí. Ý nghĩa rất minh bạch, rằng hãy về thôi. Về thôi, về mặc Cà Sa / Về thôi cởi áo Ta Bà phong sương... Hiển nhiên, không phải là đổi y phục, mà phải là chuyển hóa nội tâm. Cởi áo Ta Bà không đơn thuần là rời bỏ đời sống cư sĩ hay thế tục, mà là buông bỏ tâm vọng động, tâm phân biệt, tâm chấp ngã vốn đã bị phong sương của sinh tử bào mòn. Mặc áo Cà Sa không nhất thiết là khoác lên mình chiếc áo của người xuất gia, mà là khoác lên tâm từ bi, trí tuệ, và vô ngã.
Khăn quấn. Áo sơ sinh. Muối. Tuyết. Băng. Năm vật trắng - năm tiếng gọi đầu tiên - đặt lên trang giấy như một chuỗi hạt. Trong tay Han Kang, chúng vừa là dấu hiệu khởi sinh, vừa là định mệnh. Đứa trẻ chưa kịp sống đã được bọc trong khăn trắng, và cũng chính khăn quấn ấy trở thành tấm liệm. Trắng ở đây không phải nền sáng, mà là sự trống vắng ngân nhịp toàn cuốn sách. Han Kang, nhà văn Hàn Quốc được biết nhiều qua The Vegetarian, tác phẩm đã đem về cho bà giải Nobel Văn chương năm 2024, xuất hiện trong văn học thế giới như một cơn gió lớn. Nhưng The White Book mới là tác phẩm tôi rất yêu của Bà – những dòng chữ lặng mà sáng, mong manh mà bám riết.
Cuốn sách này là một công trình phục vụ cộng đồng nhân kỷ niệm 50 năm xa quê hương sống đời viễn xứ (1975-2025). Sách được in thành 2 tập – Tập 1 gồm 41 tác giả và Tập 2 gồm 45 tác giả. Như vậy, tổng cộng có 86 tác giả, trong đó có nhiều tác giả đã nổi tiếng từ trước 1975. Tám mươi sáu tác giả đến vùng đất này bằng những cách khác nhau, trình độ khác nhau, nghề nghiệp khác nhau nhưng có một điểm tất cả đều giống nhau. Đó là: Họ đã sống và viết bên dòng Potomac.
Ngày 17 tháng 9 năm 2025, thi sĩ “Công giáo” Lê Đình Bảng đã bước vào độ tuổi thượng thọ. Ông đã chính thức đạt 83 tuổi Tây và 84 năm tuổi ‘Mụ’. Một độ tuổi cần nghỉ ngơi, an dưỡng tuổi già. Song với tình yêu văn chương, chữ nghĩa và đặc biệt là niềm tin vào tôn giáo, ông vẫn như một thanh niên tráng kiện, đầy đức tin và nhiệt huyết, khi cho ra mắt thi phẩm thứ 25, sau rất nhiều tác phẩm nổi tiếng với nhiều thể loại khác nhau như văn xuôi, nghiên cứu lịch sử, tôn giáo...sáng tác kể từ năm 1967 miệt mài cho đến nay...
Tập truyện ngắn vừa phát hành của nhà văn Trần Kiêm Trinh Tiên có một nhan đề rất là buồn, “Hạt U Minh.” Nhiều truyện trong tập này như dường viết về các lằn ranh bị vượt qua. Thí dụ, lằn ranh tình yêu (hay như dường là tình yêu) giữa một ni cô và một chàng trai trong trường Dòng. Hay thí dụ, mối tình giữa một thiếu nữ Huế và chàng trai Mỹ, và chàng chết khi bùng nổ các trận đánh trong Tết Mậu Thân ở Huế. Hay như truyện cuối trong tập, khởi đầu là các hình ảnh liên hệ tới Kinh Thánh Ki Tô Giáo, giữa truyện là ký ức một thiếu nữ về một truyện Thiền... Cuộc đời, vâng cuộc đời, thực sự là không có lằn ranh, dù là màu da hay tôn giáo. Tác giả có vẻ như muốn nêu chủ đề từ những chuyện đời thường.


Kính chào quý vị,

Tôi là Derek Trần, dân biểu đại diện Địa Hạt 45, và thật là một vinh dự lớn lao khi được đứng nơi đây hôm nay, giữa những tiếng nói, những câu chuyện, và những tâm hồn đã góp phần tạo nên diện mạo văn học của cộng đồng người Mỹ gốc Việt trong suốt một phần tư thế kỷ qua.
Hai mươi lăm năm! Một cột mốc bạc! Một cột mốc không chỉ đánh dấu thời gian trôi qua, mà còn ghi nhận sức bền bỉ của một giấc mơ. Hôm nay, chúng ta kỷ niệm 25 năm Giải Viết Về Nước Mỹ của nhật báo Việt Báo.

Khi những người sáng lập giải thưởng này lần đầu tiên ngồi lại bàn thảo, họ đã hiểu một điều rất căn bản rằng: Kinh nghiệm tỵ nạn, hành trình nhập cư, những phức tạp, gian nan, và sự thành công mỹ mãn trong hành trình trở thành người Mỹ gốc Việt – tất cả cần được ghi lại. Một hành trình ý nghĩa không những cần nhân chứng, mà cần cả những người viết để ghi nhận và bảo tồn. Họ không chỉ tạo ra một cuộc thi; họ đã và đang xây dựng một kho lưu trữ. Họ thắp lên một ngọn hải đăng cho thế hệ sau để chuyển hóa tổn thương thành chứng tích, sự im lặng thành lời ca, và cuộc sống lưu vong thành sự hội nhập.

Trong những ngày đầu ấy, văn học Hoa Kỳ thường chưa phản ánh đầy đủ sự phong phú và đa dạng về kinh nghiệm của chúng ta. Giải thưởng Viết Về Nước Mỹ thực sự đã lấp đầy khoảng trống đó bằng sự ghi nhận và khích lệ vô số tác giả, những người đã cầm bút và cùng viết nên một thông điệp mạnh mẽ: “Chúng ta đang hiện diện nơi đây. Trải nghiệm của chúng ta là quan trọng. Và nước Mỹ của chúng ta là thế đó.”


Suốt 25 năm qua, giải thưởng này không chỉ vinh danh tài năng mà dựng nên một cộng đồng và tạo thành một truyền thống.
Những cây bút được tôn vinh hôm nay không chỉ mô tả nước Mỹ; họ định nghĩa nó. Họ mở rộng giới hạn của nước Mỹ, làm phong phú văn hóa của nước Mỹ, và khắc sâu tâm hồn của nước Mỹ. Qua đôi mắt họ, chúng ta nhìn thấy một nước Mỹ tinh tế hơn, nhân ái hơn, và sau cùng, chân thật hơn.

Xin được nhắn gửi đến các tác giả góp mặt từ bao thế hệ để chia sẻ tấm chân tình trên các bài viết, chúng tôi trân trọng cảm ơn sự can đảm của quý vị. Can đảm không chỉ là vượt qua biến cố của lịch sử; can đảm còn là việc ngồi trước trang giấy trắng, đối diện với chính mình, lục lọi ký ức đau thương sâu đậm, và gửi tặng trải nghiệm đó đến tha nhân. Quý vị là những người gìn giữ ký ức tập thể và là những người dẫn đường cho tương lai văn hóa Việt tại Hoa Kỳ.

Với Việt Báo: Xin trân trọng cảm ơn tầm nhìn, tâm huyết, và sự duy trì bền bỉ giải thưởng này suốt một phần tư thế kỷ.
Khi hướng đến 25 năm tới, chúng ta hãy tiếp tục khích lệ thế hệ kế tiếp—những blogger, thi sĩ, tiểu thuyết gia, nhà phê bình, nhà văn trẻ—để họ tìm thấy tiếng nói của chính mình và kể lại sự thật của họ, dù đó là thử thách hay niềm vui. Bởi văn chương không phải là một thứ xa xỉ; đó là sự cần thiết. Đó là cách chúng ta chữa lành, cách chúng ta ghi nhớ, và là cách chúng ta tìm thấy nơi chốn của mình một cách trọn vẹn.

Xin cảm ơn quý vị.

NHẬN TIN QUA EMAIL
Vui lòng nhập địa chỉ email muốn nhận.