Mùa xuân sang có hoa anh đào... Chúng ta thường nghe câu hát này. Hoa sẽ rơi và mùa xuân sẽ trôi qua. Đó là những gì rất đẹp, rất mong manh và rất vô thường. Mùa xuân không chỉ là sự chuyển giao của thời tiết, mà còn là biểu tượng của sự tái sinh và hy vọng. Từ những cánh hoa anh đào mỏng manh của phương Đông đến khu vườn tràn ngập nắng ấm của phương Tây, mùa xuân là yêu thương, cũng là thân phận mong manh của đời người. Hoa anh đào, và mùa xuân là hiển lộ của vô thường, những gì rất đẹp đang trôi qua.
Trong thần thoại Nhật Bản, hình ảnh mùa xuân gắn liền với nữ thần Konohanasakuya-hime – nàng công chúa của những đóa hoa nở rộ. Là con gái của thần núi Ouyamatsumi, vẻ đẹp của nàng “rực rỡ và thanh khiết như hoa anh đào” (Sakura). Konohanasakuya-hime hay Sakuya-hime là nữ thần của núi Phú Sĩ và các ngọn núi lửa trong thần thoại Nhật Bản.
Nàng Sakuya-hime gặp chàng Ninigi trên bờ biển và họ yêu nhau; Chàng Ninigi cầu hôn Sakuya-hime với cha của nàng, Ohoyamatsumi. Ohoyamatsumi đề nghị gả con gái lớn của mình, Iwa-Naga-hime, nhưng Ninigi chỉ yêu Sakuya-hime. Thần núi Ohoyamatsumi miễn cưỡng đồng ý và Ninigi cùng Ko-no-hana kết hôn. Vì Ninigi từ chối Iwa-Naga, công chúa đá, nên cuộc sống của con người được cho là ngắn ngủi và phù du, giống như hoa anh đào, chứ không bền vững và lâu dài như đá.
Nàng Sakuya-hime mang thai chỉ sau một đêm, khiến chàng Ninigi nghi ngờ. Anh ta tự hỏi liệu đây có phải là con của một vị thần khác. Nàng Sakuya-hime nổi giận trước lời nghi ngờ của Ninigi. Thế rồi nàng bước vào một túp lều không cửa, rồi châm lửa đốt, tuyên bố rằng sẽ không ai bị tổn thương vì lửa, nếu thai nhi thực sự là con của Ninigi. Và rồi bên trong túp lều, nàng sinh ra ba người con trai: Hoderi, Hosuseri và Hoori. Cả mẹ và ba con bước ra bình an, rực rỡ trên tro tàn của lửa.
Từ kỳ tích đó, nàng Sakuya-hime được thờ như thần núi Phú Sĩ, và được tin là có thể chữa bệnh thần kỳ. Theo một truyền thuyết thế kỷ 11, một ngôi làng nhỏ ở tỉnh Suruga tên là Kamiide bị dịch bệnh đậu mùa hoành hành. Trong làng có một cậu bé tên là Yosoji và mẹ cậu, người bị nhiễm bệnh. Để chữa bệnh cho mẹ, Yosoji đến gặp một thầy bói, người bảo cậu hãy lấy nước từ một con suối nhỏ gần núi Phú Sĩ.
Ngày hôm sau, Yosoji quyết định đến con suối, nhưng rồi cậu gặp ba con đường khác nhau, không biết nên đi đường nào. Một cô gái trẻ mặc áo trắng từ trong rừng đi đến chỗ Yosoji và dẫn cậu đến con suối. Yosoji múc nước từ suối và cho mẹ uống.
Vài ngày sau, Yosoji quay lại nơi ba con đường giao nhau và gặp lại cô gái mặc áo trắng. Cô ấy bảo cậu hãy quay lại sau ba ngày nữa và cô ấy sẽ gặp cậu ở đó. Cô ấy cũng nói rằng sẽ cần năm chuyến đi đến con suối để chữa trị cho tất cả dân làng.
Sau năm chuyến đi, mẹ của Yosoji đã khỏi bệnh, và nhiều người dân làng khác cũng vậy. Những người dân làng cảm ơn anh, nhưng anh biết rằng tất cả là nhờ cô gái mặc áo trắng. Vì vậy, anh quay trở lại con suối để bày tỏ lòng biết ơn với cô gái ấy. Tuy nhiên, anh thấy con suối đã hoàn toàn khô cạn và cô gái không còn ở đó nữa. Vì vậy, Yosoji cầu nguyện rằng cô gái sẽ hiện ra để anh có thể cảm ơn cô vì những việc làm của cô.
Cô gái xuất hiện trước mặt anh và Yosoji nói rằng anh muốn bày tỏ lòng biết ơn sâu sắc của mình đối với cô và muốn biết cô là ai, để anh có thể nói với dân làng biết ai là người mà họ cần cảm ơn. Cô gái mặc áo trắng nói rằng danh tính của cô không quan trọng và nói lời tạm biệt với Yosoji. Sau đó, cô vẫy một cành hoa trà trên đầu và một đám mây từ núi Phú Sĩ bay xuống đón cô đi. Yosoji nhận ra người phụ nữ đó không ai khác chính là Nữ thần núi Phú Sĩ.
Trong văn học Hoa Kỳ, nhà văn Oscar Wilde viết một truyện ngắn thơ mộng, “The Selfish Giant” (Người khổng lồ ích kỷ) về những lý do mùa xuân hiện tới và biến mất. Truyện "Người khổng lồ ích kỷ" của Oscar Wilde kể về một người khổng lồ từng ích kỷ, sau khi trở về nhà sau chuyến đi bảy năm, nhìn thấy những đứa trẻ đang vui chơi trong khu vườn xinh đẹp của mình. Bực mình vì sự hiện diện của chúng, ông xây một bức tường cao để ngăn chúng vào, tuyên bố rằng khu vườn chỉ dành riêng cho mình. Kết quả là, mùa xuân không đến với khu vườn của ông, chỉ kéo dài trong tiếng cười của lũ trẻ, còn mùa đông thì bao trùm khắp nơi. Khi không có lũ trẻ, khu vườn trở nên tàn tạ: cây cối không chịu nở hoa, chim chóc ngừng hót, và cảnh vật chìm trong mùa đông vĩnh cửu.
Một ngày nọ, người khổng lồ thức dậy và nghe thấy một giai điệu ngọt ngào, ông nghĩ đó là tiếng nhạc của các nhạc công của nhà vua, nhưng hóa ra đó là tiếng chim sẻ nhỏ hót bên ngoài. Tò mò, ông nhìn ra ngoài cửa sổ và phát hiện ra lũ trẻ đã tìm được đường vào khu vườn qua một lỗ nhỏ trên tường. Cây cối lại vui tươi trở lại, nở hoa sau một thời gian dài bị bỏ quên. Tuy nhiên, ông nhận thấy một cậu bé đơn độc ở một góc, không thể với tới cành cây và đang khóc cầu cứu. Nhận ra sự ích kỷ của mình, người khổng lồ quyết định giúp cậu bé leo lên cây và thề sẽ phá bỏ bức tường.
Thế nhưng, khi người khổng lồ bước ra ngoài, lũ trẻ bỏ chạy, khiến khu vườn lại chìm trong mùa đông, ngoại trừ cậu bé nhỏ vẫn ở lại. Người khổng lồ nhẹ nhàng nâng cậu bé lên cây, khiến cây lại nở hoa. Lũ trẻ quay trở lại, và mùa xuân trở lại khu vườn. Người khổng lồ, giờ đây được lũ trẻ yêu mến, vui vẻ chơi đùa với chúng, nhưng lại nhớ nhung cậu bé nhỏ, kẻ đã biến mất một cách bí ẩn sau ngày hôm đó.
Nhiều năm trôi qua, người khổng lồ già yếu và suy nhược, ông suy ngẫm về vẻ đẹp thực sự của khu vườn, nhận ra rằng lũ trẻ chính là khía cạnh quý giá nhất của nó. Một buổi sáng mùa đông, ông nhìn thấy một cái cây xinh đẹp ở góc xa, trĩu quả vàng và hoa, và cậu bé nhỏ đứng dưới gốc cây một lần nữa. Tràn đầy kinh ngạc, ông vội vã chạy ra nhưng niềm vui của ông biến thành sự tức giận khi nhìn thấy những vết đinh trên tay và chân của cậu bé, khiến ông hỏi nguyên nhân của những vết thương đó.
Cậu bé trấn an người khổng lồ, tiết lộ rằng đó là "những vết thương của Tình yêu". Sau đó, cậu bé mời người khổng lồ đến khu vườn của mình—Thiên đường. Ngay sau đó, lũ trẻ tìm thấy người khổng lồ nằm chết dưới gốc cây, xung quanh phủ đầy những bông hoa trắng, tượng trưng cho sự chuyển đổi của ông từ ích kỷ sang vị tha và vẻ đẹp của tình yêu và sự hy sinh.
Trong kho tàng Kinh điển Phật giáo, Trưởng Lão Ni Thi Kệ Thig 14.1 (Subha Jivakambavanika) kể lại một buổi gặp gỡ mùa xuân của Ni sư Subha và một chàng trai lẳng lơ. Chỗ này chúng ta nhận thấy sự tích này nếu được viết lại bằng một truyện ngắn như thời nay, hẳn là có nhiều chi tiết và nhiều đối thoại dài dòng hơn. Thi kệ ghi lại bằng thơ với những hình ảnh đối nghịch từ hai thế giới: chàng trai nói rằng mùa xuân đang rực rỡ, rằng Ni sư xinh đẹp nên trở về đời thường để sống với các niềm vui trần gian. Ni sư trả lời rằng Ni sư đã xuất gia, đã tận diệt dục vọng, không bao giờ muốn hoàn tục. Chàng trai nài nỉ. Ni sư tự móc mắt trao ra. Chàng trai kinh hoàng, xin sám hối. Khi Ni sư tới gặp Đức Phật, thì mắt tự nhiên bình thường trở lại.
Thị kệ Thig 14.1 kể rằng, theo bản Việt dịch của Bhikkhu Indacanda:
“Trong khi vị tỳ khưu ni Subhā đang đi đến khu vườn xoài đáng yêu của Jīvaka, có kẻ vô lại đã cản ngăn nàng. Subhā đã nói với gã ấy điều này:
‘Này ông, tôi đã làm điều gì xúc phạm đến ông, mà ông đứng cản ngăn tôi? Bởi vì việc người nam đụng chạm đến người nữ xuất gia là không được phép.
Điều học này đã được bậc Thiện Thệ thuyết giảng trong Giáo Pháp khả kính của bậc Đạo Sư. Tôi là người nữ có bản thể thanh tịnh, không nhơ bẩn, tại sao ông đứng cản ngăn tôi?
Ông có tâm bị nhiễu loạn, còn tôi không bị nhiễu loạn, ông có sự luyến ái, còn tôi có sự luyến ái đã được xa lìa, không nhơ bẩn, có tâm ý đã được giải thoát về mọi lãnh vực, tại sao ông đứng cản ngăn tôi?’
---- [Chàng trai nói] ‘Nàng trẻ trung và không xấu xa, việc xuất gia sẽ làm điều gì cho nàng? Nàng hãy quăng bỏ y ca-sa, hãy đến, chúng ta hãy vui thú ở khu rừng đã được trổ hoa.
Các cây cối, vươn lên với bụi phấn của những bông hoa, tỏa ra khắp nơi mùi hương ngọt ngào. Tháng đầu xuân là mùa hoan lạc; nàng hãy đến, chúng ta hãy vui thú ở khu rừng đã được trổ hoa.
Các cây cối với những đỉnh chóp đã được đơm bông tựa như đang di chuyển đến (mỗi khi) được lay động bởi gió. Sẽ có sự hứng thú gì cho nàng, nếu nàng một mình đi sâu vào trong khu rừng? [...]
Nàng đi tới lui tựa như con búp bê làm bằng vàng, tựa như nàng tiên ở vườn hoa Cittaratha. Ôi tuyệt thế giai nhân, nàng chói sáng với các loại vải Kāsī tinh tế, bóng láng.
Ôi người có đôi mắt dịu dàng của loài nhân điểu, ta có thể chiều theo sự sai bảo của nàng nếu chúng ta chung sống ở bên trong khu rừng, bởi vì không có sanh linh nào đáng yêu hơn nàng.
Nếu nàng sẽ làm theo lời nói của ta, được an vui, nàng hãy đến, hãy ngụ ở trong nhà, với việc cư ngụ ở trong sự an toàn của tòa lâu đài, có những người nữ làm công việc hầu hạ nàng.
Hãy mặc vào các tấm vải Kāsī tinh tế, hãy trưng diện tràng hoa và vật thoa. Ta sẽ tạo ra cho nàng nhiều nữ trang các loại làm bằng vàng, ngọc ma-ni, và ngọc trai.[...]
--- [Ni sư nói:] ‘Đối với ông, ở đây, ở cái thân xác có bản chất tan rã, chứa đầy các vật ghê tởm, làm cho các bãi tha ma phát triển, vật gì được xem là cốt lõi mà sau khi nhìn thấy vật ấy thì ông mất hồn và nhìn đắm đuối?’
---- [Chàng trai nói:] ‘Đôi mắt (của nàng) tựa như (cặp mắt) của loài nai cái, tựa như (cặp mắt) của nữ nhân điểu ở trong khu rừng. Sau khi nhìn theo đôi mắt của nàng, niềm thích thú dục tình của ta gia tăng thêm nữa.
(Đôi mắt của nàng) giống như chóp đỉnh của đóa sen xanh ở trên khuôn mặt tựa như vàng không vết bẩn của nàng. Sau khi nhìn theo đôi mắt của nàng, mức độ dục tình của ta gia tăng thêm nữa.
Hỡi người có lông mi dài, hỡi người có cái nhìn trong trắng, cho dầu nàng đi xa, ta (sẽ) nhớ (nàng). Hỡi người có đôi mắt dịu dàng của loài nhân điểu, bởi vì không có cặp mắt nào đáng yêu hơn cặp mắt của nàng.’[...]
---- [Ni sư nói:] Tôi đây là nữ đệ tử của bậc Thiện Thệ, có sự di chuyển bằng chiếc xe Đạo Lộ tám chi phần, có mũi tên đã được nhổ lên, không còn lậu hoặc, đã được đi đến căn nhà trống vắng, tôi thỏa thích.
Bởi vì tôi đã nhìn thấy những con búp bê khéo được tô màu, hoặc những con rối bằng gỗ, được buộc chặt bằng những sợi dây và những thanh gỗ, nhảy múa theo nhiều kiểu.
Khi (những) sợi dây và thanh gỗ ấy được lấy ra, được tháo rời, được gỡ bỏ, được phân tán, đã được làm thành mảnh vụn, không thể tìm ra, trong trường hợp ấy thì tâm có thể trú vào cái gì?[...]
[Và đoạn cuối như sau:]
Với tâm ý không luyến tiếc, vị ni có khuôn mặt dễ thương, đã móc lấy (con mắt), và đã không tiếc nuối (nói rằng): ‘Này, ông hãy mang đi con mắt cho ông đi,’ đồng thời đã trao con mắt cho gã đàn ông ấy.
Liền khi ấy sự luyến ái của gã ấy đã ngưng hẳn, và tại nơi ấy gã đã xin vị ni thứ lỗi: ‘Thưa vi ni thực hành Phạm hạnh, có thể tốt lành được chăng? Việc như thế này sẽ không tái diễn.
Sau khi xúc phạm con người như thế này, tựa như đã ôm lấy ngọn lửa cháy bùng, giống như đã cầm lấy nọc độc của con rắn. Còn có thể tốt lành được chăng? Xin hãy thứ lỗi cho tôi.’
Và đã được tự do lìa khỏi gã ấy, vị tỳ khưu ni ấy đã đi đến gặp đức Phật cao quý. Sau khi nhìn thấy tướng trạng phước báu cao quý, con mắt đã trở nên giống như tình trạng trước đây.”
Thơ Thiền Việt Nam cũng có nhiều hình ảnh về mùa xuân. Như bài thơ “Thị học” (Dạy cho học nhân) của Tuệ Trung Thượng Sĩ (1230 – 1291). Nhà sư Nguyễn Thế Đăng trong bài viết nhan đề “Một Điểm Xuân Quang Chốn Chốn Hoa” đã dịch và chú giải:
“Học giả phân vân chẳng biết sao
Mài chi gạch ngói uổng công lao
Bảo anh cửa người thôi nương dựa
Một điểm xuân quang chốn chốn hoa.
"Một điểm xuân quang là một điểm linh quang, thành ngữ để chỉ bản tâm. Trong kinh thường nói đến viên ngọc tâm, viên ngọc như ý....Một điểm xuân quang để chỉ bản tâm của mỗi người. Nhưng tại sao nói là “một điểm”, mà không nói các điểm? Một điểm vì trong bản tâm, trong Phật tâm, tất cả đều là một, đều là “một vị”, không có cái gì khác, cái gì ngoài. Không có chúng sanh ở ngoài mà cũng không có Phật ở ngoài. Một điểm linh quang hay một điểm xuân quang để chỉ trong bản tâm, trong bản tánh của tâm chỉ có một vị là ánh sáng, một vị bản tâm hay Chân tâm." (“Một Điểm Xuân Quang Chốn Chốn Hoa” – Nguyễn Thế Đăng)
Câu thứ nhất trong bài thơ nói rằng người chưa ngộ bản tâm thì cứ phân vân mãi. Câu thứ nhì hàm ý rằng tu mà không thấy bản tâm thì chỉ là mài ngói làm gương. Câu thứ ba hàm ý rằng đừng đi theo bất kỳ cửa nào ngoài tâm mình. Câu thứ tư nói rằng thấy ánh sáng mùa xuân trong tâm mình, thì nơi nào cũng nở hoa.
Trong khi đó, Kinh Thánh của Cơ Đốc Giáo cũng ghi hình ảnh về mùa xuân. Sau đây là những câu Kinh Thánh phổ biến về mùa xuân.
1. Hãy cầu xin Chúa ban mưa vào mùa xuân; chính Chúa là Đấng sai giáng những cơn giông bão. Ngài ban mưa xuống cho mọi người, và ban cây cối trên đồng ruộng cho mọi người. — Zechariah 10:1
2. Vậy, hỡi anh em, hãy kiên nhẫn cho đến khi Chúa đến. Hãy xem người nông dân chờ đợi đất đai cho mùa màng quý giá như thế nào, kiên nhẫn chờ đợi những cơn mưa mùa thu và mùa xuân. — James 5:7
3. Và Đức Chúa Trời phán: “Hãy có các vật chiếu sáng trong khoảng không trên trời để phân rẽ ngày và đêm. Chúng sẽ dùng làm dấu hiệu, để định mùa, ngày và năm.” — (Genesis 1:14)
4. Lòng trung tín nảy sinh từ đất, và sự công chính nhìn xuống từ trời. Chúa chắc chắn sẽ ban những điều tốt lành, và đất đai của chúng ta sẽ cho mùa màng bội thu. Sự công chính đi trước Ngài và dọn đường cho bước chân của Ngài. —Psalm 85:11-13.
5. Chúng ta hãy nhận biết Chúa; chúng ta hãy kiên trì tìm hiểu Ngài. Chắc chắn như mặt trời mọc, Ngài sẽ hiện đến; Ngài sẽ đến với chúng ta như mưa mùa đông, như mưa mùa xuân tưới mát đất đai. — Hosea 6:3.
Phía Hồi giáo cũng nhìn về mùa xuân như phục sinh. Đặc biệt là Tháng Ramadan: Tháng lễ linh thiêng này dành cho việc ăn chay, cầu nguyện và suy ngẫm thường diễn ra một phần hoặc toàn bộ trong mùa xuân. Nó đôi khi được mô tả là "mùa xuân của Kinh Qur'an", thời gian dành cho các hoạt động tâm linh sâu sắc và gắn kết cộng đồng.
Lễ Eid al-Fitr: Lễ hội đánh dấu sự kết thúc của tháng Ramadan là một lễ kỷ niệm vui vẻ thường diễn ra vào mùa xuân, thể hiện tinh thần biết ơn và cộng đồng, phù hợp với chủ đề đổi mới của mùa xuân.
Nhà thơ nổi tiếng nhất của Hồi giáo là Rumi (1207–1273) cũng có những bài thơ mùa xuân, ca ngợi sự hồi sinh của thiên nhiên như một sự phản ánh tình yêu thiêng liêng, thúc giục sự thức tỉnh tâm linh, nơi hoa trở thành sứ giả, làn gió thì thầm những bí mật, và tâm hồn thức tỉnh trước một mùa xuân vĩnh cửu của niềm vui, nhìn thấy Đấng Tối Cao trong mỗi nụ hoa hé nở và sắc màu rực rỡ, thường sử dụng hình ảnh vườn cây ăn quả, khu vườn và sự nở rộ của trái tim để mời gọi những người yêu nhau đắm chìm trong vẻ đẹp của Thượng Đế và trỗi dậy như sự sống mới từ lòng đất, bỏ lại những lo toan trần thế để say đắm trong tình yêu thiêng liêng.
Nhà thơ Rumi viết trong bài thơ "Mùa xuân" (Spring), theo bản Anh dịch của Coleman Barks, có những dòng, trích như sau:
Một lần nữa, hoa violet cúi đầu trước hoa lily.
Một lần nữa, hoa hồng lại xé bỏ chiếc áo choàng của mình!
Những bông hoa xanh đã đến từ thế giới khác,
say sưa như làn gió đang hướng đến một trò nghịch ngợm mới.
[...]
Một lần nữa, mùa xuân đã đến
và một mạch suối trào dâng dưới mọi thứ,
một vầng trăng trượt ra khỏi bóng tối...
Rực rỡ nhất, có lẽ, trong văn học Việt Nam viết về mùa xuân hẳn là hai câu đầu trong bài "Chào Nguyên Xuân" của thi sĩ Bùi Giáng (1926-1998) -- người có cuộc đời rất kỳ lạ trong đời thường, mà vẫn như là một nhân vật huyền thoại, tuy rằng từng hiện diện giữa rất nhiều người chúng ta. Hai câu đầu bài thơ đó của Bùi Giáng là:
Xin chào nhau giữa con đường
Mùa xuân phía trước miên trường phía sau.
Và khi thế giới bước vào năm mới 2026, xin hãy chúc lành nhau với mùa xuân phía trước, và với vô lượng miên trường buông lại hết phía sau.
Phan Tấn Hải
Gửi ý kiến của bạn



