Hôm nay,  

Mùa xuân: từ cổ tích, văn học tới tín ngưỡng

02/01/202600:00:00(Xem: 600)

MUA XUAN 1 ni su

Hình trên tường chùa Thái Lan (Hình: YouTube).



Mùa xuân sang có hoa anh đào... Chúng ta thường nghe câu hát này. Hoa sẽ rơi và mùa xuân sẽ trôi qua. Đó là những gì rất đẹp, rất mong manh và rất vô thường. Mùa xuân không chỉ là sự chuyển giao của thời tiết, mà còn là biểu tượng của sự tái sinh và hy vọng. Từ những cánh hoa anh đào mỏng manh của phương Đông đến khu vườn tràn ngập nắng ấm của phương Tây, mùa xuân là yêu thương, cũng là thân phận mong manh của đời người. Hoa anh đào, và mùa xuân là hiển lộ của vô thường, những gì rất đẹp đang trôi qua.

Trong thần thoại Nhật Bản, hình ảnh mùa xuân gắn liền với nữ thần Konohanasakuya-hime – nàng công chúa của những đóa hoa nở rộ. Là con gái của thần núi Ouyamatsumi, vẻ đẹp của nàng “rực rỡ và thanh khiết như hoa anh đào” (Sakura). Konohanasakuya-hime hay Sakuya-hime là nữ thần của núi Phú Sĩ và các ngọn núi lửa trong thần thoại Nhật Bản.

Nàng Sakuya-hime gặp chàng Ninigi trên bờ biển và họ yêu nhau; Chàng Ninigi cầu hôn Sakuya-hime với cha của nàng, Ohoyamatsumi. Ohoyamatsumi đề nghị gả con gái lớn của mình, Iwa-Naga-hime, nhưng Ninigi chỉ yêu Sakuya-hime. Thần núi Ohoyamatsumi miễn cưỡng đồng ý và Ninigi cùng Ko-no-hana kết hôn. Vì Ninigi từ chối Iwa-Naga, công chúa đá, nên cuộc sống của con người được cho là ngắn ngủi và phù du, giống như hoa anh đào, chứ không bền vững và lâu dài như đá.

Nàng Sakuya-hime mang thai chỉ sau một đêm, khiến chàng Ninigi nghi ngờ. Anh ta tự hỏi liệu đây có phải là con của một vị thần khác. Nàng Sakuya-hime nổi giận trước lời nghi ngờ của Ninigi. Thế rồi nàng bước vào một túp lều không cửa, rồi châm lửa đốt, tuyên bố rằng sẽ không ai bị tổn thương vì lửa, nếu thai nhi thực sự là con của Ninigi. Và rồi bên trong túp lều, nàng sinh ra ba người con trai: Hoderi, Hosuseri và Hoori. Cả mẹ và ba con bước ra bình an, rực rỡ trên tro tàn của lửa.

Từ kỳ tích đó, nàng Sakuya-hime được thờ như thần núi Phú Sĩ, và được tin là có thể chữa bệnh thần kỳ. Theo một truyền thuyết thế kỷ 11, một ngôi làng nhỏ ở tỉnh Suruga tên là Kamiide ​​bị dịch bệnh đậu mùa hoành hành. Trong làng có một cậu bé tên là Yosoji và mẹ cậu, người bị nhiễm bệnh. Để chữa bệnh cho mẹ, Yosoji đến gặp một thầy bói, người bảo cậu hãy lấy nước từ một con suối nhỏ gần núi Phú Sĩ.

Ngày hôm sau, Yosoji quyết định đến con suối, nhưng rồi cậu gặp ba con đường khác nhau, không biết nên đi đường nào. Một cô gái trẻ mặc áo trắng từ trong rừng đi đến chỗ Yosoji và dẫn cậu đến con suối. Yosoji múc nước từ suối và cho mẹ uống.

Vài ngày sau, Yosoji quay lại nơi ba con đường giao nhau và gặp lại cô gái mặc áo trắng. Cô ấy bảo cậu hãy quay lại sau ba ngày nữa và cô ấy sẽ gặp cậu ở đó. Cô ấy cũng nói rằng sẽ cần năm chuyến đi đến con suối để chữa trị cho tất cả dân làng.

MUA XUAN 2 nu than Nhat Ban-Hình chính

Konohanasakuy, nữ thần của núi Phú Sĩ và các núi lửa trong thần thoại Nhật. (Hình từ YouTube)


Sau năm chuyến đi, mẹ của Yosoji đã khỏi bệnh, và nhiều người dân làng khác cũng vậy. Những người dân làng cảm ơn anh, nhưng anh biết rằng tất cả là nhờ cô gái mặc áo trắng. Vì vậy, anh quay trở lại con suối để bày tỏ lòng biết ơn với cô gái ấy. Tuy nhiên, anh thấy con suối đã hoàn toàn khô cạn và cô gái không còn ở đó nữa. Vì vậy, Yosoji cầu nguyện rằng cô gái sẽ hiện ra để anh có thể cảm ơn cô vì những việc làm của cô.

Cô gái xuất hiện trước mặt anh và Yosoji nói rằng anh muốn bày tỏ lòng biết ơn sâu sắc của mình đối với cô và muốn biết cô là ai, để anh có thể nói với dân làng biết ai là người mà họ cần cảm ơn. Cô gái mặc áo trắng nói rằng danh tính của cô không quan trọng và nói lời tạm biệt với Yosoji. Sau đó, cô vẫy một cành hoa trà trên đầu và một đám mây từ núi Phú Sĩ bay xuống đón cô đi. Yosoji nhận ra người phụ nữ đó không ai khác chính là Nữ thần núi Phú Sĩ.
Trong văn học Hoa Kỳ, nhà văn Oscar Wilde viết một truyện ngắn thơ mộng, “The Selfish Giant” (Người khổng lồ ích kỷ) về những lý do mùa xuân hiện tới và biến mất. Truyện "Người khổng lồ ích kỷ" của Oscar Wilde kể về một người khổng lồ từng ích kỷ, sau khi trở về nhà sau chuyến đi bảy năm, nhìn thấy những đứa trẻ đang vui chơi trong khu vườn xinh đẹp của mình. Bực mình vì sự hiện diện của chúng, ông xây một bức tường cao để ngăn chúng vào, tuyên bố rằng khu vườn chỉ dành riêng cho mình. Kết quả là, mùa xuân không đến với khu vườn của ông, chỉ kéo dài trong tiếng cười của lũ trẻ, còn mùa đông thì bao trùm khắp nơi. Khi không có lũ trẻ, khu vườn trở nên tàn tạ: cây cối không chịu nở hoa, chim chóc ngừng hót, và cảnh vật chìm trong mùa đông vĩnh cửu.

Một ngày nọ, người khổng lồ thức dậy và nghe thấy một giai điệu ngọt ngào, ông nghĩ đó là tiếng nhạc của các nhạc công của nhà vua, nhưng hóa ra đó là tiếng chim sẻ nhỏ hót bên ngoài. Tò mò, ông nhìn ra ngoài cửa sổ và phát hiện ra lũ trẻ đã tìm được đường vào khu vườn qua một lỗ nhỏ trên tường. Cây cối lại vui tươi trở lại, nở hoa sau một thời gian dài bị bỏ quên. Tuy nhiên, ông nhận thấy một cậu bé đơn độc ở một góc, không thể với tới cành cây và đang khóc cầu cứu. Nhận ra sự ích kỷ của mình, người khổng lồ quyết định giúp cậu bé leo lên cây và thề sẽ phá bỏ bức tường.

Thế nhưng, khi người khổng lồ bước ra ngoài, lũ trẻ bỏ chạy, khiến khu vườn lại chìm trong mùa đông, ngoại trừ cậu bé nhỏ vẫn ở lại. Người khổng lồ nhẹ nhàng nâng cậu bé lên cây, khiến cây lại nở hoa. Lũ trẻ quay trở lại, và mùa xuân trở lại khu vườn. Người khổng lồ, giờ đây được lũ trẻ yêu mến, vui vẻ chơi đùa với chúng, nhưng lại nhớ nhung cậu bé nhỏ, kẻ đã biến mất một cách bí ẩn sau ngày hôm đó.

Nhiều năm trôi qua, người khổng lồ già yếu và suy nhược, ông suy ngẫm về vẻ đẹp thực sự của khu vườn, nhận ra rằng lũ trẻ chính là khía cạnh quý giá nhất của nó. Một buổi sáng mùa đông, ông nhìn thấy một cái cây xinh đẹp ở góc xa, trĩu quả vàng và hoa, và cậu bé nhỏ đứng dưới gốc cây một lần nữa. Tràn đầy kinh ngạc, ông vội vã chạy ra nhưng niềm vui của ông biến thành sự tức giận khi nhìn thấy những vết đinh trên tay và chân của cậu bé, khiến ông hỏi nguyên nhân của những vết thương đó.

Cậu bé trấn an người khổng lồ, tiết lộ rằng đó là "những vết thương của Tình yêu". Sau đó, cậu bé mời người khổng lồ đến khu vườn của mình—Thiên đường. Ngay sau đó, lũ trẻ tìm thấy người khổng lồ nằm chết dưới gốc cây, xung quanh phủ đầy những bông hoa trắng, tượng trưng cho sự chuyển đổi của ông từ ích kỷ sang vị tha và vẻ đẹp của tình yêu và sự hy sinh.

Trong kho tàng Kinh điển Phật giáo, Trưởng Lão Ni Thi Kệ Thig 14.1 (Subha Jivakambavanika) kể lại một buổi gặp gỡ mùa xuân của Ni sư Subha và một chàng trai lẳng lơ. Chỗ này chúng ta nhận thấy sự tích này nếu được viết lại bằng một truyện ngắn như thời nay, hẳn là có nhiều chi tiết và nhiều đối thoại dài dòng hơn. Thi kệ ghi lại bằng thơ với những hình ảnh đối nghịch từ hai thế giới: chàng trai nói rằng mùa xuân đang rực rỡ, rằng Ni sư xinh đẹp nên trở về đời thường để sống với các niềm vui trần gian. Ni sư trả lời rằng Ni sư đã xuất gia, đã tận diệt dục vọng, không bao giờ muốn hoàn tục. Chàng trai nài nỉ. Ni sư tự móc mắt trao ra. Chàng trai kinh hoàng, xin sám hối. Khi Ni sư tới gặp Đức Phật, thì mắt tự nhiên bình thường trở lại.

Thị kệ Thig 14.1 kể rằng, theo bản Việt dịch của Bhikkhu Indacanda:

Trong khi vị tỳ khưu ni Subhā đang đi đến khu vườn xoài đáng yêu của Jīvaka, có kẻ vô lại đã cản ngăn nàng. Subhā đã nói với gã ấy điều này:

‘Này ông, tôi đã làm điều gì xúc phạm đến ông, mà ông đứng cản ngăn tôi? Bởi vì việc người nam đụng chạm đến người nữ xuất gia là không được phép.
Điều học này đã được bậc Thiện Thệ thuyết giảng trong Giáo Pháp khả kính của bậc Đạo Sư. Tôi là người nữ có bản thể thanh tịnh, không nhơ bẩn, tại sao ông đứng cản ngăn tôi?

Ông có tâm bị nhiễu loạn, còn tôi không bị nhiễu loạn, ông có sự luyến ái, còn tôi có sự luyến ái đã được xa lìa, không nhơ bẩn, có tâm ý đã được giải thoát về mọi lãnh vực, tại sao ông đứng cản ngăn tôi?’

---- [Chàng trai nói] ‘Nàng trẻ trung và không xấu xa, việc xuất gia sẽ làm điều gì cho nàng? Nàng hãy quăng bỏ y ca-sa, hãy đến, chúng ta hãy vui thú ở khu rừng đã được trổ hoa.


Các cây cối, vươn lên với bụi phấn của những bông hoa, tỏa ra khắp nơi mùi hương ngọt ngào. Tháng đầu xuân là mùa hoan lạc; nàng hãy đến, chúng ta hãy vui thú ở khu rừng đã được trổ hoa.

Các cây cối với những đỉnh chóp đã được đơm bông tựa như đang di chuyển đến (mỗi khi) được lay động bởi gió. Sẽ có sự hứng thú gì cho nàng, nếu nàng một mình đi sâu vào trong khu rừng? [...]

MUA XUAN 3 Rumi poet

Nhà thơ Rumi nổi tiếng nhất trong thi ca Hồi giáo. (Youtube)


Nàng đi tới lui tựa như con búp bê làm bằng vàng, tựa như nàng tiên ở vườn hoa Cittaratha. Ôi tuyệt thế giai nhân, nàng chói sáng với các loại vải Kāsī tinh tế, bóng láng.

Ôi người có đôi mắt dịu dàng của loài nhân điểu, ta có thể chiều theo sự sai bảo của nàng nếu chúng ta chung sống ở bên trong khu rừng, bởi vì không có sanh linh nào đáng yêu hơn nàng.

Nếu nàng sẽ làm theo lời nói của ta, được an vui, nàng hãy đến, hãy ngụ ở trong nhà, với việc cư ngụ ở trong sự an toàn của tòa lâu đài, có những người nữ làm công việc hầu hạ nàng.

Hãy mặc vào các tấm vải Kāsī tinh tế, hãy trưng diện tràng hoa và vật thoa. Ta sẽ tạo ra cho nàng nhiều nữ trang các loại làm bằng vàng, ngọc ma-ni, và ngọc trai.[...]

--- [Ni sư nói:] ‘Đối với ông, ở đây, ở cái thân xác có bản chất tan rã, chứa đầy các vật ghê tởm, làm cho các bãi tha ma phát triển, vật gì được xem là cốt lõi mà sau khi nhìn thấy vật ấy thì ông mất hồn và nhìn đắm đuối?’

---- [Chàng trai nói:] ‘Đôi mắt (của nàng) tựa như (cặp mắt) của loài nai cái, tựa như (cặp mắt) của nữ nhân điểu ở trong khu rừng. Sau khi nhìn theo đôi mắt của nàng, niềm thích thú dục tình của ta gia tăng thêm nữa.

(Đôi mắt của nàng) giống như chóp đỉnh của đóa sen xanh ở trên khuôn mặt tựa như vàng không vết bẩn của nàng. Sau khi nhìn theo đôi mắt của nàng, mức độ dục tình của ta gia tăng thêm nữa.

Hỡi người có lông mi dài, hỡi người có cái nhìn trong trắng, cho dầu nàng đi xa, ta (sẽ) nhớ (nàng). Hỡi người có đôi mắt dịu dàng của loài nhân điểu, bởi vì không có cặp mắt nào đáng yêu hơn cặp mắt của nàng.’[...]

---- [Ni sư nói:] Tôi đây là nữ đệ tử của bậc Thiện Thệ, có sự di chuyển bằng chiếc xe Đạo Lộ tám chi phần, có mũi tên đã được nhổ lên, không còn lậu hoặc, đã được đi đến căn nhà trống vắng, tôi thỏa thích.

Bởi vì tôi đã nhìn thấy những con búp bê khéo được tô màu, hoặc những con rối bằng gỗ, được buộc chặt bằng những sợi dây và những thanh gỗ, nhảy múa theo nhiều kiểu.

Khi (những) sợi dây và thanh gỗ ấy được lấy ra, được tháo rời, được gỡ bỏ, được phân tán, đã được làm thành mảnh vụn, không thể tìm ra, trong trường hợp ấy thì tâm có thể trú vào cái gì?[...]

[Và đoạn cuối như sau:]

Với tâm ý không luyến tiếc, vị ni có khuôn mặt dễ thương, đã móc lấy (con mắt), và đã không tiếc nuối (nói rằng): ‘Này, ông hãy mang đi con mắt cho ông đi,’ đồng thời đã trao con mắt cho gã đàn ông ấy.

Liền khi ấy sự luyến ái của gã ấy đã ngưng hẳn, và tại nơi ấy gã đã xin vị ni thứ lỗi: ‘Thưa vi ni thực hành Phạm hạnh, có thể tốt lành được chăng? Việc như thế này sẽ không tái diễn.

Sau khi xúc phạm con người như thế này, tựa như đã ôm lấy ngọn lửa cháy bùng, giống như đã cầm lấy nọc độc của con rắn. Còn có thể tốt lành được chăng? Xin hãy thứ lỗi cho tôi.’

Và đã được tự do lìa khỏi gã ấy, vị tỳ khưu ni ấy đã đi đến gặp đức Phật cao quý. Sau khi nhìn thấy tướng trạng phước báu cao quý, con mắt đã trở nên giống như tình trạng trước đây.”

Thơ Thiền Việt Nam cũng có nhiều hình ảnh về mùa xuân. Như bài thơ “Thị học” (Dạy cho học nhân) của Tuệ Trung Thượng Sĩ (1230 – 1291). Nhà sư Nguyễn Thế Đăng trong bài viết nhan đề “Một Điểm Xuân Quang Chốn Chốn Hoa” đã dịch và chú giải:

Học giả phân vân chẳng biết sao
Mài chi gạch ngói uổng công lao
Bảo anh cửa người thôi nương dựa
Một điểm xuân quang chốn chốn hoa.

"Một điểm xuân quang là một điểm linh quang, thành ngữ để chỉ bản tâm. Trong kinh thường nói đến viên ngọc tâm, viên ngọc như ý....Một điểm xuân quang để chỉ bản tâm của mỗi người. Nhưng tại sao nói là “một điểm”, mà không nói các điểm? Một điểm vì trong bản tâm, trong Phật tâm, tất cả đều là một, đều là “một vị”, không có cái gì khác, cái gì ngoài. Không có chúng sanh ở ngoài mà cũng không có Phật ở ngoài. Một điểm linh quang hay một điểm xuân quang để chỉ trong bản tâm, trong bản tánh của tâm chỉ có một vị là ánh sáng, một vị bản tâm hay Chân tâm." (“Một Điểm Xuân Quang Chốn Chốn Hoa” – Nguyễn Thế Đăng)

Câu thứ nhất trong bài thơ nói rằng người chưa ngộ bản tâm thì cứ phân vân mãi. Câu thứ nhì hàm ý rằng tu mà không thấy bản tâm thì chỉ là mài ngói làm gương. Câu thứ ba hàm ý rằng đừng đi theo bất kỳ cửa nào ngoài tâm mình. Câu thứ tư nói rằng thấy ánh sáng mùa xuân trong tâm mình, thì nơi nào cũng nở hoa.

Trong khi đó, Kinh Thánh của Cơ Đốc Giáo cũng ghi hình ảnh về mùa xuân. Sau đây là những câu Kinh Thánh phổ biến về mùa xuân.

1. Hãy cầu xin Chúa ban mưa vào mùa xuân; chính Chúa là Đấng sai giáng những cơn giông bão. Ngài ban mưa xuống cho mọi người, và ban cây cối trên đồng ruộng cho mọi người. — Zechariah 10:1

2. Vậy, hỡi anh em, hãy kiên nhẫn cho đến khi Chúa đến. Hãy xem người nông dân chờ đợi đất đai cho mùa màng quý giá như thế nào, kiên nhẫn chờ đợi những cơn mưa mùa thu và mùa xuân. — James 5:7

3. Và Đức Chúa Trời phán: “Hãy có các vật chiếu sáng trong khoảng không trên trời để phân rẽ ngày và đêm. Chúng sẽ dùng làm dấu hiệu, để định mùa, ngày và năm.” — (Genesis 1:14)

4. Lòng trung tín nảy sinh từ đất, và sự công chính nhìn xuống từ trời. Chúa chắc chắn sẽ ban những điều tốt lành, và đất đai của chúng ta sẽ cho mùa màng bội thu. Sự công chính đi trước Ngài và dọn đường cho bước chân của Ngài. —Psalm 85:11-13.

5. Chúng ta hãy nhận biết Chúa; chúng ta hãy kiên trì tìm hiểu Ngài. Chắc chắn như mặt trời mọc, Ngài sẽ hiện đến; Ngài sẽ đến với chúng ta như mưa mùa đông, như mưa mùa xuân tưới mát đất đai. — Hosea 6:3.

Phía Hồi giáo cũng nhìn về mùa xuân như phục sinh. Đặc biệt là Tháng Ramadan: Tháng lễ linh thiêng này dành cho việc ăn chay, cầu nguyện và suy ngẫm thường diễn ra một phần hoặc toàn bộ trong mùa xuân. Nó đôi khi được mô tả là "mùa xuân của Kinh Qur'an", thời gian dành cho các hoạt động tâm linh sâu sắc và gắn kết cộng đồng.

Lễ Eid al-Fitr: Lễ hội đánh dấu sự kết thúc của tháng Ramadan là một lễ kỷ niệm vui vẻ thường diễn ra vào mùa xuân, thể hiện tinh thần biết ơn và cộng đồng, phù hợp với chủ đề đổi mới của mùa xuân.

Nhà thơ nổi tiếng nhất của Hồi giáo là Rumi (1207–1273)   cũng có những bài thơ mùa xuân, ca ngợi sự hồi sinh của thiên nhiên như một sự phản ánh tình yêu thiêng liêng, thúc giục sự thức tỉnh tâm linh, nơi hoa trở thành sứ giả, làn gió thì thầm những bí mật, và tâm hồn thức tỉnh trước một mùa xuân vĩnh cửu của niềm vui, nhìn thấy Đấng Tối Cao trong mỗi nụ hoa hé nở và sắc màu rực rỡ, thường sử dụng hình ảnh vườn cây ăn quả, khu vườn và sự nở rộ của trái tim để mời gọi những người yêu nhau đắm chìm trong vẻ đẹp của Thượng Đế và trỗi dậy như sự sống mới từ lòng đất, bỏ lại những lo toan trần thế để say đắm trong tình yêu thiêng liêng.

Nhà thơ Rumi viết trong bài thơ "Mùa xuân" (Spring), theo bản Anh dịch của Coleman Barks, có những dòng, trích như sau:
Một lần nữa, hoa violet cúi đầu trước hoa lily.
Một lần nữa, hoa hồng lại xé bỏ chiếc áo choàng của mình!
Những bông hoa xanh đã đến từ thế giới khác,
say sưa như làn gió đang hướng đến một trò nghịch ngợm mới.
[...]
Một lần nữa, mùa xuân đã đến
và một mạch suối trào dâng dưới mọi thứ,
một vầng trăng trượt ra khỏi bóng tối...
Rực rỡ nhất, có lẽ, trong văn học Việt Nam viết về mùa xuân hẳn là hai câu đầu trong bài "Chào Nguyên Xuân" của thi sĩ Bùi Giáng (1926-1998) -- người có cuộc đời rất kỳ lạ trong đời thường, mà vẫn như là một nhân vật huyền thoại, tuy rằng từng hiện diện giữa rất nhiều người chúng ta. Hai câu đầu bài thơ đó của Bùi Giáng là:

Xin chào nhau giữa con đường
Mùa xuân phía trước miên trường phía sau.

Và khi thế giới bước vào năm mới 2026, xin hãy chúc lành nhau với mùa xuân phía trước, và với vô lượng miên trường buông lại hết phía sau.

Phan Tấn Hải
 

Gửi ý kiến của bạn
Vui lòng nhập tiếng Việt có dấu. Cách gõ tiếng Việt có dấu ==> https://youtu.be/ngEjjyOByH4
Tên của bạn
Email của bạn
)
Bùi Giáng sinh năm 1926 tại Quảng Nam, mất ngày 7/10/ 1998 tại bệnh viện Chợ Rẫy, Sài Gòn. Bùi Giáng là nhà nghiên cứu, khảo luận, dịch thuật và làm thơ. Ông thông thạo nhiều ngoại ngữ Anh, Pháp, Đức…, nghiên cứu những tư tưởng triết học của Jean Paul Sartre, Heidegger, Nietche, Albert Camus…, dịch nhiều tác phẩm nổi tiếng của các nhà văn trên thế giới Henry Miller, Simone de Beauvoire, St Exupéry, Sagan, khảo luận những tư tưởng triết học Đông Tây Kim Cổ… Ông xuất bản nhiều tác phẩm dịch thuật, nghiên cứu, phê bình, nổi tiếng các tập thơ Mưa Nguồn, Lá Hoa Cồn, Ngàn Thu Rớt Hột…
Lũ con cháu chúng tôi sang thăm cô Nhã chú Từ ở thành phố Malmo, miền Nam Thụy Điển, vào khoảng giữa tháng 10 2024. Có chúng tôi về, cô chú vui lắm và thường cùng chúng tôi ra ngoài dạo phố, ngắm cảnh, ăn uống. Trong một buổi chiều đi uống cà phê, chúng tôi chụp được tấm hình cô chú nắm tay nhau đi dạo trong một công viên thanh bình, khi trời đất vào thu, dưới ánh nắng nghiêng nghiêng của buổi hoàng hôn cuối ngày. Chúng tôi đặt tên tấm hình đó là “Vẫn nắng vàng dù buổi chiều của đời”, là câu đầu tiên trong bài hát Vầng Trăng Xưa, chú Từ sáng tác trong trại giam Hàm Tân vào năm 1985.
Bước vào phòng triển lãm, ba bức tranh đầu tiên bên tay phải đập vào mắt người thưởng ngoạn là ba tác phẩm của họa sĩ Ann Phong: “I Told You, The Earth Is Warming Up”; “Looking Back, Looking Forward”; “If We Don’t Care For Nature, It Will Disappear.” Chọn ba tác phẩm này cho cuộc triển lãm, họa sĩ giải thích: “Các tác phẩm nghệ thuật của tôi phản ánh mối quan hệ giữa người với người; trách nhiệm mà chúng ta phải có đối với trái đất nơi chúng ta đang sống. Thật đau lòng khi chứng kiến ​​thiên nhiên bị tàn phá bởi lòng tham và sự thiếu hiểu biết của con người. Có vẻ như khi chúng ta càng làm cho cuộc sống của mình trở nên tiện nghi, thì chúng ta càng tạo ra nhiều ô nhiễm hơn; càng làm cạn kiệt tài nguyên của trái đất một cách bất cẩn hơn…”
Nhóm Tuệ Đăng là gì có lẽ đến lúc này không còn xa lạ với cộng đồng người Việt hải ngoại và ngay cả trong nước nữa nhờ thời đại tin học và Youtube lan tỏa nhanh chóng. Nhóm lúc đầu là những thanh thiếu niên Phật tử yêu thích hát nhạc Phật và nhạc quê hương
Nếu "Lữ Hành" là cuộc hành trình thơ thới và bất tận của loài người và được ông sáng tác tại Sàigòn vào năm 1953 đầy hy vọng thì "Dạ Hành" là lúc con người đi trong đêm tối. Mà bóng tối ở đây không là một khái niệm về thời gian khi thiếu ánh mặt trời. Bóng tối là chông gai hiểm hóc của phận người và ca khúc cũng được viết tại Sàigòn nhưng mà là Sàigòn khói lửa của chiến chinh tham tàn năm 1970. Rồi Phạm Duy mới nói về cuộc đi bình thường là bài "Xuân Hành", sáng tác năm 1959, ở giữa hai bài hành kia. Hành trình bình thường và muôn thuở như câu hỏi đầy vẻ triết học là "người là ai, từ đâu tới và sẽ đi về đâu ".... Ngươi từ lòng người đi ra rồi sẽ trở về lòng người. Người vừa là thần thánh, vừa là ma quỷ, biết thương yêu dai mà cũng biết hận thù dài…. Nhất là biết vui buồn giữa hai nhịp đập của con tim, ngay cả khi tim ngừng đập.
Buổi ra mắt sách "Mai Áo Dài" không tổ chức ở khu hội chợ Tết ở Phước Lộc Thọ. Không pháo, không múa lân, không thức ăn, nhưng vẫn thu hút hàng trăm người đến dự...
Thời gian là thực phẩm dài hạn cho người sống. Không thể từ chối. Hoặc chúng ta hưởng thụ nó. Hoặc chúng ta chịu đựng nó. Món ăn này đôi lúc sung sướng để nhai. Đôi lúc mệt mỏi, phiền hà để gặm. Đôi lúc nuốt xuống mắc nghẹn. Đôi lúc nuốt không kịp thở. Đã làm người thì nhất định phải biết sử dụng thời gian. Nếu ai không biết, thì thời gian sẽ sử dụng người đó.
Nghe danh nhà văn Khánh Trường đã lâu, biết ông là họa sĩ, điều đầu tiên tôi đi tìm là cái nhìn của người họa sĩ trong tập Truyện ngắn Khánh Trường I. Ông có những đoạn văn tả cảnh đầy màu sắc. “Bầu trời ửng sáng. Nắng rải xuống mặt đất màu vàng dịu. Nắng làm cho màu đỏ tấm pano quảng cáo trên mặt tường ngôi nhà bên kia đường hực lên rực rỡ, khiến thân thể trần truồng một trăm phần trăm của thiếu nữ nằm tênh hênh suốt chiều ngang tấm pano trở nên mời mọc quyến rũ hơn.”
Một tác phẩm Nghệ thuật Khái niệm gồm một quả chuối đơn giản, được dán bằng băng keo lên tường, đã được bán với giá 6,2 triệu đô-la tại một cuộc đấu giá ở New York vào thứ Tư, 20 tháng 11 năm 2024. Sự kiện này đã gây xôn xao không ít chẳng những trong thế giới nghệ thuật mà cả dư luận công chúng bên ngoài. Tác phẩm với nhan đề Comedian/ Diễn viên hài, của nghệ sĩ người Ý Maurizio Cattelan, đã trở thành một hiện tượng khi ra mắt vào năm 2019 tại Art Basel Miami Beach. Những người tham dự lễ hội nghệ thuật này cố gắng tìm hiểu xem liệu một quả chuối màu vàng đã chín có những đốm đen được dán trên bức tường trắng bằng băng keo bạc loại dán thùng gửi hàng là một trò đùa hay là lời bình luận đầy thách thức láo xược về các tiêu chuẩn đáng ngờ trong giới sưu tập nghệ thuật. Có lúc, một nghệ sĩ khác đã lấy quả chuối ra khỏi bức tường và điềm nhiên bóc vỏ ra ăn. Tác phẩm này thu hút quá nhiều sự chú ý đến mức ban tổ chức phải lấy nó xuống cất đi.
Ngày Lễ Tạ Ơn ở Mỹ (Thanksgiving Day, ngày Thứ Năm trong tuần lễ thứ tư của tháng 11 hàng năm) được cho là khởi đầu vào năm 1621 khi những người di cư đầu tiên từ Anh Quốc đến Bắc Mỹ tạ ơn và ăn mừng với người Mỹ Da Đỏ bản xứ về một vụ mùa màng được thu hoạch khấm khá. Đây cũng là dịp để chúng ta nghĩ đến và đền đáp phần nào những ơn nghĩa mà mình đã nhận được trong cuộc đời này. Trong bài thơ “Ta Về” của nhà thơ Tô Thùy Yên viết khi ra tù cộng sản sau cuộc đổi đời vào ngày 30 tháng 4 năm 1975, có câu thơ mà tôi rất thích: “Cảm ơn hoa đã vì ta nở.” Hoa nở rồi hoa tàn là chuyện rất bình thường theo luật tắc sinh trụ hoại diệt của vạn vật, như nhà Phật đã nói. Hoa có biết nó nở vì ai không? Làm sao chúng ta biết được hoa nở là vì chúng ta? Nhưng nếu không có hoa nở thì làm sao nhà thơ họ Tô kia có thể chiêm ngưỡng được vẻ đẹp mỹ miều của thiên nhiên! Vì vậy mà khi nhìn đóa hoa nở nhà thơ Tô Thùy Yên đã nói lời cảm ơn vì cảm nhận rằng hoa đã vì ông nở.


Kính chào quý vị,

Tôi là Derek Trần, dân biểu đại diện Địa Hạt 45, và thật là một vinh dự lớn lao khi được đứng nơi đây hôm nay, giữa những tiếng nói, những câu chuyện, và những tâm hồn đã góp phần tạo nên diện mạo văn học của cộng đồng người Mỹ gốc Việt trong suốt một phần tư thế kỷ qua.
Hai mươi lăm năm! Một cột mốc bạc! Một cột mốc không chỉ đánh dấu thời gian trôi qua, mà còn ghi nhận sức bền bỉ của một giấc mơ. Hôm nay, chúng ta kỷ niệm 25 năm Giải Viết Về Nước Mỹ của nhật báo Việt Báo.

Khi những người sáng lập giải thưởng này lần đầu tiên ngồi lại bàn thảo, họ đã hiểu một điều rất căn bản rằng: Kinh nghiệm tỵ nạn, hành trình nhập cư, những phức tạp, gian nan, và sự thành công mỹ mãn trong hành trình trở thành người Mỹ gốc Việt – tất cả cần được ghi lại. Một hành trình ý nghĩa không những cần nhân chứng, mà cần cả những người viết để ghi nhận và bảo tồn. Họ không chỉ tạo ra một cuộc thi; họ đã và đang xây dựng một kho lưu trữ. Họ thắp lên một ngọn hải đăng cho thế hệ sau để chuyển hóa tổn thương thành chứng tích, sự im lặng thành lời ca, và cuộc sống lưu vong thành sự hội nhập.

Trong những ngày đầu ấy, văn học Hoa Kỳ thường chưa phản ánh đầy đủ sự phong phú và đa dạng về kinh nghiệm của chúng ta. Giải thưởng Viết Về Nước Mỹ thực sự đã lấp đầy khoảng trống đó bằng sự ghi nhận và khích lệ vô số tác giả, những người đã cầm bút và cùng viết nên một thông điệp mạnh mẽ: “Chúng ta đang hiện diện nơi đây. Trải nghiệm của chúng ta là quan trọng. Và nước Mỹ của chúng ta là thế đó.”


Suốt 25 năm qua, giải thưởng này không chỉ vinh danh tài năng mà dựng nên một cộng đồng và tạo thành một truyền thống.
Những cây bút được tôn vinh hôm nay không chỉ mô tả nước Mỹ; họ định nghĩa nó. Họ mở rộng giới hạn của nước Mỹ, làm phong phú văn hóa của nước Mỹ, và khắc sâu tâm hồn của nước Mỹ. Qua đôi mắt họ, chúng ta nhìn thấy một nước Mỹ tinh tế hơn, nhân ái hơn, và sau cùng, chân thật hơn.

Xin được nhắn gửi đến các tác giả góp mặt từ bao thế hệ để chia sẻ tấm chân tình trên các bài viết, chúng tôi trân trọng cảm ơn sự can đảm của quý vị. Can đảm không chỉ là vượt qua biến cố của lịch sử; can đảm còn là việc ngồi trước trang giấy trắng, đối diện với chính mình, lục lọi ký ức đau thương sâu đậm, và gửi tặng trải nghiệm đó đến tha nhân. Quý vị là những người gìn giữ ký ức tập thể và là những người dẫn đường cho tương lai văn hóa Việt tại Hoa Kỳ.

Với Việt Báo: Xin trân trọng cảm ơn tầm nhìn, tâm huyết, và sự duy trì bền bỉ giải thưởng này suốt một phần tư thế kỷ.
Khi hướng đến 25 năm tới, chúng ta hãy tiếp tục khích lệ thế hệ kế tiếp—những blogger, thi sĩ, tiểu thuyết gia, nhà phê bình, nhà văn trẻ—để họ tìm thấy tiếng nói của chính mình và kể lại sự thật của họ, dù đó là thử thách hay niềm vui. Bởi văn chương không phải là một thứ xa xỉ; đó là sự cần thiết. Đó là cách chúng ta chữa lành, cách chúng ta ghi nhớ, và là cách chúng ta tìm thấy nơi chốn của mình một cách trọn vẹn.

Xin cảm ơn quý vị.

NHẬN TIN QUA EMAIL
Vui lòng nhập địa chỉ email muốn nhận.