Hôm nay,  

Bông cỏ May, ai nở chối từ

26/12/202500:00:00(Xem: 557)

bong co may
 
Nhạc sến và nhạc vàng đều hay. Mỗi bên có chất hay riêng, có vẻ đẹp khác nhau, như những thiếu nữ hoa hậu của các trường trên tỉnh so với những cô thôn nữ dưới quê trong hội trăng rằm. Một điểm thường thấy nhất là gái quê thành thật hơn gái tỉnh. Nhạc sến gây xúc động hơn nhạc vàng.

Tháng Sáu ấy, ở trong trại Fort Chaffee chờ người bảo trợ, đêm đêm nằm trong căn phòng san sát nhau, cách một vách mỏng. Nghe đủ thứ chuyện trên đời. Nghe cả đủ thứ loại nhạc bởi những giọng ca cảm hứng. Nhạc vàng thường làm tôi lâng lâng lắng nghe rồi băn khoăn buồn buồn, dù người hát thường không đủ tiêu chuẩn. Rồi một lần, giữa đêm hè nóng nực, một anh lính Biệt Động Quân, người trấn đồn biên giới, cất giọng ca sai cả nốt cao lẫn nốt thấp. Anh hát, “Con biết bây giờ mẹ chờ tin con / khi thấy mai đào nở vàng bên nương…”(1) tự nhiên nước mắt tôi ứa ra, rồi chảy thành dòng, không thể nào ngưng được. Đó là chất sôi nổi của nhạc sến.

Nhạc sến, lịch sử bên lề.

Tôi yêu nhạc sến như yêu thôn nữ đang gặt lúa ở Lục tỉnh. Tôi yêu nhạc vàng như như yêu hoa hậu trường Bồ Đề, Nhân Thảo, Lê Quí Đôn, Bùi thị Xuân, Trưng Vương, Gia Long và yêu nhạc Pháp như yêu Louise ở Couvent des Oiseaux, Solèn ở Marie Curie. Bây giờ, đang yêu nhạc Mỹ, nhạc Âu châu, nhất là nhạc đảo.

Dù là loại nhạc gì, mỗi ca khúc đều có một câu truyện, kể rõ ràng hay kể mơ hồ. Nhạc vàng thường có lối kể mông lung, lảng đảng. Nhạc sến thường kể một cách thành thật và cảm động. Một bên gây cho người nghe cảm giác lãng mạng. Một bên làm cho người nghe chạnh lòng.

Nhạc sến chiếm một vị trí quan trọng trong nền âm nhạc Việt. Dòng nhạc này theo sát biến chuyển của xã hội, cuộc đời và tâm tình của những người sống trong giai đoạn thời sự đó. Dòng nhạc ghi lại những bối cảnh, sinh hoạt, tâm sự qua những mảnh rời của ca khúc, ráp lại như một lại lịch sử bên lề lịch sử chính thống. Có lịch sử chính thống không? Không. Lịch sử luôn bị bóp méo và điều chỉnh theo phe chiến thắng. Nhưng lịch sử bên lề thì còn nguyên. Hát sao, còn vậy
.
Người ta nói rằng, các nhà văn muốn kể một câu chuyện, cần phải viết mươi trang sách hoặc hơn nữa. Nhạc sĩ kể một câu chuyện, chỉ trong vòng ba phút hoặc năm phút. Như vậy mới biết, nhạc chuyên chở trí tuệ, tình cảm đến lòng người nhanh hơn văn, chỉ thua thơ.

Nhạc sến. Chữ ‘sến”, nghĩa trong tự điển là "lãng mạn quá độ, ủy mị, sướt mướt. (Wiktionary.) Nhạc sến phải có ca từ ướt át, bình dân, thì mới sến. Nội dung thành thật và nhiều cảm xúc thì mới gần gũi với sến.

Nhạc sến thường thể hiện trong điệu Bolero hoặc Tango Habanera với nhịp chậm và nhạc khí thường tấu lên với giọng rền rĩ.

Một trong số những nhạc sến kể những câu chuyện thú vị, đầy đủ cốt truyện, nhiều chi tiết bắt mắt, có khả năng ở lại trong trí nhớ để thỉnh thoảng hồi tưởng hoặc bất chợt nghe được bài ca quen thuộc từ đâu đó, chúng ta không thể không mỉm cười.

Đó là ca khúc “Bông Cỏ May” của Trúc Phương, sáng tác năm 1969. Giữa lúc chiến tranh ở miền Nam Việt Nam leo thang khói lửa và hàng ngàn chàng trai lên đường bảo vệ quê hương.

bong co may 2bong co may 3
Bông cỏ May và người lính trẻ.

Nhân vật chính là một chàng thanh niên trong quá trình nhập ngũ, “Rồi đây mai ngày ai hỏi đến tên tôi / Bạn ơi ! hãy nói khoác chiến y rồi.“ Cùng những chàng trai đồng trang lứa, họ đi vào chiến trận, “có về là khi nước non vui bình yên.” (2) Và ước mơ đó không xảy ra.   

Ca từ chia làm ba đoạn, đúng theo cấu trúc truyền thống của bản nhạc. Đoạn mở, đoạn giữa tức là điệp khúc và đoạn kết.

Không khí câu chuyện có chút khôi hài pha lẫn chút mỉa mai. Bắt đầu với những chi tiết và hình ảnh hưng phấn rồi tan vào buồn bã nhớ nhung. Nhân vật nữ là nhân vật phụ. Cô ấy chỉ ở trong cỏ May, làm cho cỏ trở thành nệm gối, làm cho chuyện tình thực tế bùi ngùi thêm.

Câu chuyện bắt đầu với nhân vật chính nhớ lại, thời gian thân ái trước khi dạn dày binh lửa: “Những ngày chưa nhập ngũ, / Anh hay dắt em về vùng ngoại ô có cỏ bông may. / Ở đây êm vắng thưa người, còn ta với trời, / Thời gian vào đêm, rừng sao là nến, khói sương giăng lối cỏ quen.

Tóc mây thơm mùi cỏ, / Đưa anh thoát xa dần vùng trần gian, / với những ưu tư, / Cỏ may đan dấu chân tròn, / Đường đi bước mòn, /Sợ khi người đi để thương, để nhớ /Tiếng yêu đương ai nỡ chối từ.”

Ở Việt Nam thời đó, trong nhà thì đông người, ngoài sân thì hàng xóm theo dõi, khách sạn thì đắt tiền, còn có chỗ nào hẹn hò riêng tư thoải mái hơn một bãi cỏ may ở vùng ngoại ô vắng vẻ, ít người qua lại?

Đêm đến đưa nhau vào khách sạn ngàn sao tình tự. Cỏ thành nệm lót, cỏ thành màn che. Cả hai đều hiểu rằng “Cổ lai chinh chiến kỷ nhân hồi”, xưa nay ra trận thương vong bất chợt, mấy ai hẹn trở về? Đam mê, nồng nàng, sợ rằng người đi sẽ tan vào thương nhớ, tiếng năn nỉ yêu đương ai nở chối từ. Tâm trạng hết sức thực tế. Tâm lý hết tận lòng yêu.

Câu: “Cỏ may đan dấu chân tròn, Đường đi bước mòn …” Phải chăng ngụ ý họ đã hẹn hò nơi đây nhiều lần? Bước chân tròn là đi vòng trở lại và nhiều lần khiến cho cỏ rạp xuống?

Rồi chàng lao mình vào chiến trận. Chiến tranh càng khốc liệt, tình yêu càng mạnh mẽ, thôi thúc ngày về phép, ngày trở về không phải quay lại nơi bom đạn. Hay trở về trên đôi nạng gỗ. Hay trở về theo viên đạn đồng đen. Hay trở về trong hòm gỗ cài hoa. (3)

Người lính tâm sự: “Đường hành quân, nắng cháy da người, / Tuổi vui thiếu vui, vẫn thương mình thương đời. Nhiều khi trong giấc mộng một hồi kêu tên em, / kêu chỉ một tên…” Cụm từ “Tuổi vui thiếu vui” nghe ra ngậm ngùi, cay xót cho thân phận tuổi trẻ. Cụm từ “kêu chỉ một tên…”, theo như tôi biết xã hội loạn ly và những trái tim không biết khi nào ngừng đập, thì cụm từ này khó ai bảo đảm.

Người lính đó lo âu, kêu tên người yêu chưa hẳn là đê mê trong giấc mơ tình, mà có lẽ, buồn sợ nhiều hơn trong cơn ác mộng. Bất kỳ người lính chiến nào cũng không dám hứa hẹn một ngày về, cùng người yêu chung sống bạc đầu, thì rất ít thiếu nữ dám hứa hẹn chờ anh suốt kiếp.

Điểm thú vị nhất của ca khúc này là những ca từ trong đoạn kết. Nói lên nỗi lòng bộc bạch, thành thật, lo lắng, ghen tương và nhẹ nhàng một chút mỉa mai cho chuyện bội bạc thường tình của nhân gian. “Những ngày anh đi khỏi / Xin em chớ đi lại vùng tình yêu lắm bẫy nhân gian, / Để đêm khói thuốc tay vàng, tìm nhau thấy gần. / Ngủ trên cỏ may, thường khi vào tối, / nhớ hương may, nhớ cả người...”

Cỏ may tuy mượt mà nhưng có hoa nhỏ li ti và nhọn như mũi kim. “Ngủ trên cỏ may” có thể, dường như, là một thú đau thương?

Đánh giá Bông cỏ may.

Nhạc Bolero thường thường có phong cách viết nhạc giống nhau, luyến láy giống nhau, thường xuyên lập lại của nhau, giống như nhạc Country của Mỹ. Xét về phần ca từ, là một câu chuyện hay tạo ra niềm vui, nỗi buồn chỉ trong vòng ba phút.

Tổng thể bài văn tuy ngắn gọn nhưng nhất quán. Câu chuyện vừa đủ, xúc tích và cho phép người nghe, người đọc tưởng tượng dọc theo bối cảnh xảy ra. Có một kết cuộc vừa khôi hài vừa cay đắng, đáng nhớ.

Nếu bạn đọc không phải là người lính hồi hộp vì người yêu, anh e sợ nàng sẽ mắc bẫy nhân gian, có lẽ bạn sẽ cười, thích thú câu chuyện khôi hài, thậm chí cổ võ khen hay.

Nhưng nếu bạn là người lính đó, được trở về chung sống với người yêu, dù đời sống thăng trầm, gian khổ ra sao về sau, bạn đã là người nhận lãnh một hồng ân lớn lao, xứng đáng một đời người.

Nếu bạn là người lính không may mắn, khi trở về thường hiu hắt bên ca khúc “Tôi đưa em sang sông” thì xin bạn đọc bốn câu thơ này:

‘Yêu nhau cởi áo cho nhau.’
Bây giờ áo cũ đã vào tay ai?
Xót xa yêu ngắn tình dài
Bao năm rồi vẫn cỏ may đau lòng.”
 
Ghi:
(1)  Xuân này con không về, ca khúc của Trịnh Lâm Ngân.
(2)  Biệt kinh kỳ của Minh Kỳ
(3)  Ý của ca khúc Kỷ Vật Cho Em, Phạm Duy.
(4)  ‘…’ Mượn ca dao.

Gửi ý kiến của bạn
Vui lòng nhập tiếng Việt có dấu. Cách gõ tiếng Việt có dấu ==> https://youtu.be/ngEjjyOByH4
Tên của bạn
Email của bạn
)
Nhân kỷ niệm 50 năm kết thúc cuộc chiến ở Việt Nam, cũng là 50 năm xây dựng cộng đồng người Việt hải ngoại, Khoa Lịch sử trường Đại học California, Irvine tổ chức một chuỗi sự kiện trong 3-ngày: từ ngày 7 tới ngày 9 tháng Năm năm 2025.
Thương nhớ. Cảm động. Ngậm Ngùi. Và ước mơ một ngày quê nhà sẽ có dân chủ, khi đó Sài Gòn sẽ được hồi phục tên cũ. Đêm nhạc Trần Chí Phúc với chủ đề Sài Gòn Một Thoáng 50 Năm vào chiều Thứ Bảy 19/4/2025 đã chạm rất ngọt ngào và cay đắng vào trái tim của những người con Sài Gòn.
“Năm nay mang một ý nghĩa đặc biệt sâu sắc, là cột mốc 50 năm kể từ ngày những người tị nạn Việt Nam đầu tiên đặt chân đến Hoa Kỳ. Nửa thế kỷ kiên cường, dựng xây và tái định nghĩa thế nào là người Mỹ gốc Việt. Trong suốt hành trình đó, nghệ thuật kể chuyện đã đóng một vai trò thiết yếu—lưu giữ lịch sử, mở rộng tương lai, và thắt chặt cộng đồng. Chính vì thế, chúng tôi vô cùng tự hào được mang đến cho quý vị VietBook Fest năm nay—không chỉ một lễ hội sách, mà một không gian để kết nối, đối thoại và tôn vinh Bản Sắc Người Việt 50 Năm.”
Ngày Thứ Bảy 29 tháng 3 năm 2025 tại Citadel Art Gallery, một buổi Ra Mắt Thơ kèm thêm Triển Lãm đã được tổ chức rầm rộ và được sự hưởng ứng nồng nhiệt của khách thưởng ngoạn. Buổi hội ngộ văn học, nghệ thuật hy hữu này có sự góp mặt của nhiều tác giả với nhiều hình thái nghệ thuật như hội hoạ, điêu khắc, nhiếp ảnh, văn, thơ, sách, và âm nhạc. Gần 200 quan khách hiện diện đã làm bầu không khí nghệ thuật bừng sáng.
Sự ra đi lặng lẽ của họa sĩ Nguyễn Đồng là một một dư vang trầm mặc trong ký ức nghệ thuật Miền Nam – một miền nghệ thuật từng sống động, tự do, nơi mà hội họa được đặt ngang hàng với văn học, triết học, và cả chính trị. Ông không những là một trong những họa sĩ tiêu biểu của thời Đệ Nhị Cộng Hòa, mà còn là nhân chứng của một nền văn hóa từng rực rỡ trước khi bị chôn vùi dưới lớp bụi chiến tranh và chính trị hóa nghệ thuật.
Buổi ra mắt tuyển tập "Nguyễn Thị Khánh Minh, Bằng hữu & Văn chương – Tạp chí Ngôn Ngữ ấn bản đặc biệt" cho thấy sự đóng góp, quý trọng của nhiều nhà văn, nhà thơ đối với nhà thơ nữ này. Độ dày sách này là 544 trang, dày gấp nhiều lần các thi tập trước kia của nhà thơ nữ này. Nơi đây cũng lưu giữ những ký họa, tranh bìa, thủ bút, thơ tặng, bình luận từ hơn 40 văn nghệ sĩ cho Nguyễn Thị Khánh Minh, trong đó có các tên tuổi lớn như Thầy Tuệ Sỹ, Bùi Giáng, Đinh Cường, Đinh Trường Chinh, Trịnh Cung, Trương Đình Uyên, Lê Thánh Thư, Đỗ Hồng Ngọc, và nhiều người khác.
Họa sĩ Hồ Thành Đức sinh năm 1940 tại Đà Nẵng, Quảng Nam. Ông tốt nghiệp Cao Đẳng Quốc Gia Mỹ Thuật Sài Gòn, sáng lập viên của Hội Họa sĩ Trẻ Việt Nam (1968-1975), Giáo sư hội họa Viện Đại Học Vạn Hạnh (1969-1975), Khoa trưởng ngành Họa Thực Tiễn tại Đại Học Phương Nam (1974-1975). Ông đã có rất nhiều cuộc triển lãm trong và ngoài nước. Tranh của ông cũng có mặt tại nhiều viện bảo tàng danh tiếng trên thế giới trong đó phải kể đến Viện Bảo Tàng Nghệ Thuật Smithsonian tại thủ đô Washington. Tranh của ông được đánh giá cao bởi nhiều cây bút phê bình hội họa trong và ngoài nước..
“Để có thể nối kết đồng cảm ý nghĩa và tình tự của một ca khúc với người nghe, người hát cần hiểu ca từ sâu sắc và rung động với tâm tình trong lời và nhạc.”
Một lần tôi bất chợt nghe Khánh Ly hát: Ta không thấy em từ bấy lâu nay, mùa mưa làm rừng đước dâng đầy/trên cao gió hát mây như tóc/tràm đứng như em một dáng gầy. Mỗi con lạch là mỗi xót xa, mỗi giòng sông là mỗi tuổi già, thành phố đâu đây khuất hình khuất dạng, cuộc chiến già nua theo mỗi tiếng ca…. (Thơ U Minh- Nguyễn Tiến Cung, Phạm Duy phổ nhạc.) Tiếnh hát của chị rời rạc, kể lể. Bài hát không có tiếng súng tiếng bom nào cả, nhưng qua cái giọng nhừa nhựa chẫm rãi của chị ta thấy như những trang sách viết về chiến tranh đang lật từng tờ và người lính đó đang bì bõm trong rừng đước U Minh. Anh không bao giờ còn gặp lại người yêu nữa. Anh tử trận hay người yêu đã bỏ đi xa? Kết thúc nào cũng buồn cả. Tôi nghe đi nghe lại nhiều lần đoạn hát giản dị này và lúc nào nghe cũng ứa nước mắt.
Lần đầu tiên tôi có cơ hội được một mình ngồi trò chuyện với cô Khánh Ly là một ngày của Tháng 3 cách đây tròn 15 năm – khi được sếp phân công phỏng vấn viết bài về sự có mặt của cô trong một đêm nhạc mang tên “Du Mục” của nhóm The Friends. Tôi vẫn nhớ như in lần đầu gặp gỡ đó – giữa Khánh Ly – người được xem như một trong những huyền thoại của làng âm nhạc Việt Nam, và tôi – một phóng viên mới bước vào nghiệp cầm bút chưa đầy 2 năm. Nơi cô hẹn tôi là quán phở Nguyễn Huệ của chú Cảnh ‘Vịt’ (chú Cảnh đã bỏ trần gian đi rong chơi ở chốn xa lắc xa lơ nào cũng đã vài năm). Hôm đó, chồng cô, nhà báo Nguyễn Hoàng Đoan, chở cô tới. Trong hơn một tiếng đồng hồ, tôi đã hỏi cô nhiều câu – phần lớn chả ăn nhập gì đến chương trình cô sắp tham gia – mà chỉ là những câu hỏi tôi tò mò muốn biết về Khánh Ly – một người được bao người ngưỡng mộ, bao người mơ ước được gặp mặt – lại đang ngồi đối diện tôi, cùng tôi uống cà phê trong quán phở, và làm tôi bị say thuốc lá


Kính chào quý vị,

Tôi là Derek Trần, dân biểu đại diện Địa Hạt 45, và thật là một vinh dự lớn lao khi được đứng nơi đây hôm nay, giữa những tiếng nói, những câu chuyện, và những tâm hồn đã góp phần tạo nên diện mạo văn học của cộng đồng người Mỹ gốc Việt trong suốt một phần tư thế kỷ qua.
Hai mươi lăm năm! Một cột mốc bạc! Một cột mốc không chỉ đánh dấu thời gian trôi qua, mà còn ghi nhận sức bền bỉ của một giấc mơ. Hôm nay, chúng ta kỷ niệm 25 năm Giải Viết Về Nước Mỹ của nhật báo Việt Báo.

Khi những người sáng lập giải thưởng này lần đầu tiên ngồi lại bàn thảo, họ đã hiểu một điều rất căn bản rằng: Kinh nghiệm tỵ nạn, hành trình nhập cư, những phức tạp, gian nan, và sự thành công mỹ mãn trong hành trình trở thành người Mỹ gốc Việt – tất cả cần được ghi lại. Một hành trình ý nghĩa không những cần nhân chứng, mà cần cả những người viết để ghi nhận và bảo tồn. Họ không chỉ tạo ra một cuộc thi; họ đã và đang xây dựng một kho lưu trữ. Họ thắp lên một ngọn hải đăng cho thế hệ sau để chuyển hóa tổn thương thành chứng tích, sự im lặng thành lời ca, và cuộc sống lưu vong thành sự hội nhập.

Trong những ngày đầu ấy, văn học Hoa Kỳ thường chưa phản ánh đầy đủ sự phong phú và đa dạng về kinh nghiệm của chúng ta. Giải thưởng Viết Về Nước Mỹ thực sự đã lấp đầy khoảng trống đó bằng sự ghi nhận và khích lệ vô số tác giả, những người đã cầm bút và cùng viết nên một thông điệp mạnh mẽ: “Chúng ta đang hiện diện nơi đây. Trải nghiệm của chúng ta là quan trọng. Và nước Mỹ của chúng ta là thế đó.”


Suốt 25 năm qua, giải thưởng này không chỉ vinh danh tài năng mà dựng nên một cộng đồng và tạo thành một truyền thống.
Những cây bút được tôn vinh hôm nay không chỉ mô tả nước Mỹ; họ định nghĩa nó. Họ mở rộng giới hạn của nước Mỹ, làm phong phú văn hóa của nước Mỹ, và khắc sâu tâm hồn của nước Mỹ. Qua đôi mắt họ, chúng ta nhìn thấy một nước Mỹ tinh tế hơn, nhân ái hơn, và sau cùng, chân thật hơn.

Xin được nhắn gửi đến các tác giả góp mặt từ bao thế hệ để chia sẻ tấm chân tình trên các bài viết, chúng tôi trân trọng cảm ơn sự can đảm của quý vị. Can đảm không chỉ là vượt qua biến cố của lịch sử; can đảm còn là việc ngồi trước trang giấy trắng, đối diện với chính mình, lục lọi ký ức đau thương sâu đậm, và gửi tặng trải nghiệm đó đến tha nhân. Quý vị là những người gìn giữ ký ức tập thể và là những người dẫn đường cho tương lai văn hóa Việt tại Hoa Kỳ.

Với Việt Báo: Xin trân trọng cảm ơn tầm nhìn, tâm huyết, và sự duy trì bền bỉ giải thưởng này suốt một phần tư thế kỷ.
Khi hướng đến 25 năm tới, chúng ta hãy tiếp tục khích lệ thế hệ kế tiếp—những blogger, thi sĩ, tiểu thuyết gia, nhà phê bình, nhà văn trẻ—để họ tìm thấy tiếng nói của chính mình và kể lại sự thật của họ, dù đó là thử thách hay niềm vui. Bởi văn chương không phải là một thứ xa xỉ; đó là sự cần thiết. Đó là cách chúng ta chữa lành, cách chúng ta ghi nhớ, và là cách chúng ta tìm thấy nơi chốn của mình một cách trọn vẹn.

Xin cảm ơn quý vị.

NHẬN TIN QUA EMAIL
Vui lòng nhập địa chỉ email muốn nhận.