Hôm nay,  

Đại Bàng Gãy Cánh

31/08/202510:51:00(Xem: 3505)
blank 

ĐẠI BÀNG GÃY CÁNH
 
Truyện của Kim Vũ
 

Lộc đã chết!
  

Tích ngỡ ngàng khi nghe tin đó. Chàng không tin vào tai mình. Làm sao Lộc có thể chết được? Mình mới gặp anh ấy có tuần trước thôi mà! Trông anh còn khỏe mạnh, tự tin, tràn đầy sức sống. Vậy mà bây giờ anh đã không còn nữa. Cái chết của anh có cái gì đó không thật. Và có lẽ đó là lần đầu tiên Tích đứng trước nhận thức trực tiếp và thâm sâu về tính chất phi lý của một sự kiện quá bình thường trên đất nước chiến tranh này.
 

Lộc là thiếu tá phi công trực thăng. Tích đã quen anh rất tình cờ, qua một người bạn, và cũng chưa biết gì nhiều về anh. Chỉ biết rằng ngay từ lần đầu tiên, chàng đã có thiện cảm đặc biệt đối với anh. Lộc cùng tuổi với Tích, cao lớn, đẹp trai, đúng là một mẫu sĩ quan không quân lý tưởng. Và anh cũng rất hiền, sống một cuộc đời rất nguyên tắc. Anh lập gia đình mới khoảng ba năm nay, mới có đứa con trai đầu lòng chưa đầy một tuổi, và đang chờ đứa thứ hai. Anh không ham vui như những sĩ quan khác trong cái binh chủng nổi tiếng là hào hoa này. Anh rất biết lo cho gia đình, không nhảy đầm, không rượu chè cờ bạc. Không ai có thể nghĩ một con người có cái bề ngoài rất bảnh bao, bay bướm đó lại hiền hòa như vậy. Khi Tích gặp anh tại nhà người bạn, anh vừa thoát khỏi cái chết trong đường tơ kẽ tóc. Trong một phi vụ, kính trực thăng trước mặt anh đã trúng đạn vỡ toang, mảnh vỡ bắn vào mặt anh, gây ra một vết thương ngang trán. Cũng may mà nó không trúng vào mắt, và tuy vết sẹo vẫn còn chưa lành hẳn, trông anh hoàn toàn đầy đủ phong độ. Dường như tai nạn chỉ là một vết xước trên da. Tích đã nghĩ một con người như thế không dễ dàng gặp thêm tai nạn lần thứ hai. Vậy mà bây giờ anh đã ra đi vĩnh viễn. Tích thấy như có một khoảng trống trong tâm trí chàng, khoảng trống của sự sửng sốt, vô cảm xúc, tê dại trước một sự kiện quá đột ngột, khiến chàng chưa kịp phản ứng ra sao.
 

Dù không quen thân lắm vì chỉ mới biết Lộc gần đây, Tích vẫn đi dự đám tang anh. Trực thăng của anh đã rớt trong một vùng không an ninh, và phải ba bốn ngày sau khi anh mất tích, người ta mới đem được xác anh về để khâm liệm. Tích được biết lúc đó thi thể anh không còn nguyên vẹn như cũ mà đã bị trương lên rồi. Con người khi mất đi sự sống thì chỉ trong vài ngày là đã không thể nhận dạng được nữa. Và những tình cảm yêu thương của những người thân lúc đó có lẽ phải mất đi khi chứng kiến sự phân hóa của cơ thể, và thay vào đó là cái cảm xúc rùng rợn, ghê sợ thấy một cái gì thân thiết đã biến dạng hoàn toàn, đã mục nát băng hoại, đã mất hẳn chất người.
 

Dĩ nhiên là Tích không nhìn thấy Lộc trong cái hình thể xấu xí, ghê rợn đó. Vì vậy, trong tâm tưởng chàng, Lộc vẫn còn nguyên những nét đẹp cũ. Chàng chỉ thấy linh cữu anh với những ngọn nến cháy lung linh, và tấm di ảnh của một sĩ quan trong bộ quân phục đại lễ, nom oai nghiêm, hùng dũng, với cặp mắt tinh anh và gương mặt cương nghị.
 

Lộc được chôn tại nghĩa trang Mạc Đĩnh Chi. Đám tang tiến hành giản dị, chỉ có họ hàng thân thích và vài ba người bạn cố tri. Tích đến nơi khi linh cữu sắp được hạ huyệt. Đó là một buổi sáng âm u. Nghĩa trang hoang vắng, đìu hiu. Không một tiếng chim hót. Những tán cây ủ rũ, co ro trong cái rét của một ngày trở gió. Những tiếng cuốc đào huyệt vang lên đanh lạnh. Người vợ trẻ mang bầu đang ngồi bên bờ huyệt, khăn sô trắng che kín mặt, nhưng vẫn có thể nhìn thấy mắt nàng sưng húp. Có lẽ nàng đã kiệt sức vì lo buồn trong cả mấy ngày qua, những ngày chắc hẳn phải kinh khủng trong đời nàng. Đứa con trai đứng cạnh nàng, còn nhỏ chút xíu, hình như không hiểu gì cả. Nó mới chập chững biết đi, trông gầy gò, tội nghiệp chứ không đẹp trai như bố.
 

Khi huyệt được đào xong và linh cữu bắt đầu được hạ xuống, thì người góa phụ không còn ở trạng thái rũ liệt nữa. Hình như nàng cảm thấy rõ sự chia ly đang đến hồi chung quyết. Nàng vụt đứng dậy, khóc nức lên, rồi toan lao xuống huyệt. Mấy người thân phải cố gắng lắm mới giữ được nàng lại trên bờ hố sâu, và nàng đã lại xụm xuống như một khối thịt trong tay người chị gái. Cả người nàng chỉ còn là một chấn động thổn thức đớn đau. Đứa con vẫn đứng cạnh, nắm lấy tay mẹ, đôi mắt ngây thơ, ngơ ngác, tội nghiệp.
 

Và ngay vào giây phút đó, Tích cũng thấy hai tròng mắt mình mọng nước, sống mũi nồng cay. Chàng thương Lộc, thương người góa phụ trẻ, thương đứa con ngây thơ bây giờ đã trở nên côi cút mà vẫn chưa hiểu được chút gì về nỗi chia lìa, thương cái bào thai trong bụng mẹ chưa kịp nhìn thấy cha trước lúc chào đời. Cuộc chiến tranh này mỗi ngày đã lấy đi bao nhiêu người như thế? Đã có biết bao nhiêu cảnh vĩnh quyết như Tích đang chứng kiến hôm nay mà trước kia chàng chưa bao giờ chứng kiến và nhận thức đầy đủ? Tại sao đất nước này mà chàng vô cùng yêu mến lại phải khốn khó lâu dài đến thế? Người ta giết nhau vì cái gì? Vì tranh nhau hơn thua về một đường lối đưa con người đến hạnh phúc? Chua xót làm sao!


 

Linh cữu đã nằm yên dưới hố sâu, và bây giờ những nhát cuốc lại vang lên, những xẻng đất được quẳng xuống lấp mặt quan tài. Tích cầm một nắm đất quẳng xuống hố đang được lấp đầy, như gửi một lời chào từ biệt tiễn người ra đi. Rồi mặt đất bằng trở lại. Không còn nhìn thấy bóng hình anh đâu nữa. Anh đã nằm sâu trong lòng đất bao dung. Mọi người cúi đầu nghe vị cao tăng đọc bài chú. Tích cũng cúi đầu, và trong tiếng mõ vang lên đều đều và tiếng tụng kinh chậm rãi của vị hòa thượng, chàng thấy tâm trí xao động lên lời độc thoại của mình với người vừa nằm xuống.
 

“Anh Lộc, chắc anh không thể hiểu được rằng tôi quý mến anh và xúc động về cái chết của anh đến như thế nào. Chúng ta cùng chung một thế hệ, thế hệ sinh ra trong chiến tranh, lớn lên trong chiến tranh. Thực tế chiến tranh đã là một phần của cuộc đời chúng ta, như cơm ăn áo mặc. Khi chúng ta đến tuổi ý thức, thì chiến tranh đã ngày càng mở rộng. Những người cùng chung một dòng máu đã lao vào cuộc chiến đấu mà không có thời giờ để suy nghĩ, nhận định. Tôi được may mắn hơn anh, vẫn còn ít nhiều đứng ngoài lề bom đạn. Còn anh thì sống với bom đạn hằng ngày, sống với những tàn bạo của lửa thù từng giây từng phút. Tôi chắc chắn một con người như anh không bao giờ có cái thú độc ác nhìn người khác khổ đau, chứ đừng nói đến tiêu diệt sự sống của họ. Vậy mà anh cũng chẳng làm gì khác được. Anh vẫn phải khoác vào người bộ quân phục, xông pha trong chốn lửa đạn, ở đó tàn sát đơn thuần là một bản năng tự vệ. Chắc chắn anh cũng đã có những giờ phút băn khoăn, thắc mắc về một thực tế tàn độc như thế. Chúng ta không hiểu tại sao cuộc chinh chiến này đã phải diễn ra trong cái tàn khốc như ở mức độ hiện nay. Chúng ta như người vào giữa bộ phim mà phần đầu không được coi nên không thể hiểu nguyên ủy câu chuyện. Điều độc địa là chúng ta không chỉ xem phim. Chúng ta đồng thời phải là những diễn viên bất đắc dĩ, nhưng vẫn phải gắng hết sức mình mà làm tròn nhiệm vụ để được tồn tại.
 

Hình như những người ở phía đối diện chúng ta không nghĩ như chúng ta. Họ suy nghĩ giản dị hơn nhiều, và có thể thấy họ tin tưởng tuyệt đối, gần như mù quáng, vào lý tưởng của họ. Họ đã có thể tiến hành và duy trì một cuộc chiến đấu dai dẳng và đầy gian khổ trong cả mấy chục năm trời, và tôi không nghi ngờ là họ còn có thể kéo dài thêm hai ba chục năm nữa, cho đến khi chúng ta phải chịu đầu hàng mới thôi. Với những con người như thế, và với những con người phía bên này như chúng ta, liệu chúng ta có thể kéo dài được trong bao lâu? Tôi có cảm tưởng chúng ta đang ở trong một cuộc đọ sức không cân xứng. Trong khi họ say sưa lý tưởng, thì chúng ta hoàn toàn bị động. Có lẽ chúng ta chiến đấu vì một ý thức mơ hồ nào đó về quyền tự do căn bản mà mỗi con người phải được hưởng để hoàn thành cuộc sống của mình cho có ý nghĩa. Nhưng đồng thời cái ý thức tự do đó của chúng ta đã bị trăm ngàn vạn triệu người lạm dụng, đã bị bao nhiêu nhà chính trị hoạt đầu mặc tình khuynh loát cho những mục tiêu vị kỷ của họ. Và rồi mặc ai nấy sống, con người cứ bị cuốn trôi theo dòng thác lũ, và hình như chúng ta mất đi phần nào tin tưởng vào cái mục đích cuối cùng mà chúng ta trân trọng. Chúng ta đành phó mặc cho những sự kiện của dòng đời mà chúng ta cảm thấy bất lực không kiểm soát nổi. Và chúng ta tạm quên đi những khắc khoải buồn phiền trong hạnh phúc nhỏ bé nơi tổ ấm gia đình. Rồi một ngày, cái chết ập đến với anh, và anh không hề được sửa soạn cho một sự thể như thế. Anh chết đi trong lúc lòng còn đầy ham muốn sống, trong khi người vợ trẻ với cái bào thai trong bụng và đứa con thơ còn cần anh như cần ánh sáng mặt trời.   
Như con đại bàng một sớm mai gãy cánh trên vùng trời mịt mù khói súng và ngùn ngụt hận thù của quê hương chúng ta, anh đã ngã xuống cho côn trùng rỉa rúc, và cái còn lại của anh là hình con đại bàng trên chóp mũ đại lễ và hai bên cầu vai của bức di ảnh. Và cái còn lại của anh trước mắt tôi ngay lúc này là dòng lệ chảy dài trên đôi má người góa phụ mang thai, là cái nhìn thất thần của đứa bé mới chập chững biết đi. Và cái còn lại vang vang bên tai tôi là khúc hát buồn não nuột mà tôi đã được nghe hoài hồi gần đây:
 

Ngày mai đi nhận xác chồng
Say đi để thấy mình không là mình
Ngày mai đi nhận xác anh
Cuồng si thuở ấy hiển linh bây giờ… (*)
 

Xin chào anh, một người chiến sĩ. Và xin bày tỏ lòng ngưỡng mộ. Có lẽ đối với những người thân của anh, sự ra đi của anh là một sự mất mát phi lý và đau thương. Nhưng riêng đối với tôi, cái chết của anh mang đầy đủ ý nghĩa của một sự hy sinh cao đẹp cho những gì mà chúng ta hằng ấp ủ, nâng niu. Anh đã nằm xuống để những người còn sống sót như tôi có dịp suy ngẫm và chiêm nghiệm về cuộc sống, và nhắn nhủ chúng tôi về một sự tồn tại xứng đáng hơn trên cõi thế, về những nhiệm vụ phải cố gắng hoàn thành đối với những thế hệ đi sau chúng ta.”
 

(*) thơ Lê Thị Ý, nhạc Phạm Duy




Gửi ý kiến của bạn
Vui lòng nhập tiếng Việt có dấu. Cách gõ tiếng Việt có dấu ==> https://youtu.be/ngEjjyOByH4
Tên của bạn
Email của bạn
)
Biết bao nhiêu bài viết về Mẹ, công ơn sinh thành, hy sinh của người Mẹ vào ngày lễ Mẹ, nhưng hôm nay là ngày Father’s Day, ngày của CHA, tôi tìm mãi chỉ được một vài bài đếm trên đầu ngón tay thôi. Tại sao vậy?
Hôm nay giống như một ngày tựu trường. Đơn giản, vắng một thời gian không ngồi ở lớp học, nay trở lại, thế là tựu trường. Ngày còn bé, mỗi lần nghỉ hè xong, lên lớp mới, trong lòng vừa hồi hộp vừa vui sướng. Có bao nhiêu chuyện để dành chờ gặp bạn là kể tíu tít. Nhưng bên cạnh đó là nỗi lo khi sắp gặp các thầy cô mới… Mỗi năm đều có ngày tựu trường như vậy, nói chung là khá giống nhau, trong đời học sinh. Nhưng cái ngày tựu trường này thật quá khác. Người ta nhìn nhau không dám cười, không dám chào hỏi. Sự e dè này, dường như mỗi người đã được tập luyện qua một năm. Một năm “học chính trị” trong cái gọi là hội trường mà tiền thân là cái rạp hát.
Cái tên Michelin không xa lạ gì với chúng ta. Vỏ lốp chiếc xe tôi đang dùng cũng mang tên Michelin. Sao hai thứ chẳng có liên quan chi lại trùng tên. Nếu tôi nói chúng tuy hai mà một chắc mọi người sẽ ngây người tưởng tôi… phiếm.
Phi là một người bạn đạt được những điều trong đời mà biết bao người không có. Là một tấm gương sống sao cho ra sống để chết đi không có gì hối tiếc. Là một niềm hy vọng cho sự tử tế vốn ngày càng trở nên xa xỉ ở nước Mỹ mà tôi đang tiếp tục sống.
Có một lần đó thầy kể lại chuyện rằng, thầy có một phật tử chăm chỉ tu học, đã hơn 10 năm, theo thầy đi khắp nơi, qua nhiều đạo tràng, chuyên tu chuyên nghe rất thành kính. Nhưng có một lần đó phật tử đứng gần thầy, nghe thầy giảng về phát bồ đề tâm, sau thầy có đặt một vài câu hỏi kiểm tra coi thính chúng hiểu bài tới đâu? Cô vội xua xua tay, “bạch thầy, những điều thầy giảng, con hiểu hết, con hiểu hết mà. Con nhớ nhập tâm. Nhưng đừng, thầy đừng có hỏi, bị là con không biết trả lời làm sao đâu.” Có lẽ là cô hiểu ý mà cô chưa sẵn sàng hệ thống sắp xếp thứ tự lại các ý tưởng.
Ở xứ ấy, người ta ngủ đến trưa mới dậy. Chàng nhớ thế khi nghĩ về mùa xuân, mùa hạ, mùa thu khi còn bé, mỗi lần nghĩ thế, đều lấy làm ngạc nhiên, và lấy làm ngạc nhiên về sự ngạc nhiên ấy. Thế mà giữa một thành phố châu Âu, chàng lại gặp chúng. Trên nền tường trắng và mặt biển xanh, giữa những màu xanh và trắng, chỉ hai màu ấy, đôi khi xanh và đỏ, chàng gặp lại chúng, hồ hởi, tưng bừng, nó và chàng như hai thằng bạn thời mặc quần xà lỏn nay gặp nhau
Lơ đảng nhìn mây trời và đèn đường, tôi từ tốn chuyển xe sang tuyến trái để cua. Cha tôi thường nói, “Con phải tập bỏ tính lơ đểnh, nếu không, sẽ có ngày gặp phiền phức.” Nhưng lơ đểnh là nơi nghệ sĩ lang thang, ngẫu hứng tìm thấy những sáng tạo không ngờ. Chợt thoáng trong hộp kính nhìn lui, thấy chiếc xe đen nhỏ bắn lên với tốc độ nguy hiểm, tôi chuyển xe về lại bên phải, sau gáy dựng lên theo tiếng rít bánh xe thắng gấp chà xát mặt đường, trong kính chiếu hậu, một chiếc xe hạng trung màu xám đang chao đảo, trơn trợt, trờ tới, chết rồi, một áp lực kinh khiếp đập vào tâm trí trống rỗng, chỉ còn phản xạ tự động hiện diện. Chợt tiếng cha tôi vang lên: “đạp ga đi luôn.” Chân nhấn xuống, chiếc xe lồng lên, chồm tới như con cọp phóng chụp mồi. Giữa mơ hồ mất kiểm soát, tử sinh tích tắc, tôi thoáng nhận ra trước mặt là thành cây cầu bắt qua sông.
Danh đi làm lúc 5 giờ sáng, ra về lúc 2 giờ trưa, từ sở làm đến đây khoảng 10 phút đường phi thuyền bay. Giờ này vắng khách. Những lúc khác, buôn bán khá bận rộn. Áo quần lót ở đây khắn khít thời trang, từ đồ ngủ may bằng vải lụa trong suốt, nhìn xuyên qua, cho đến hàng bằng kim loại nhẹ, mặc lên giống chiến sĩ thời xưa mang áo giáp nhưng chỉ lên giường. Hầu hết khách hàng đến đây vì Emily và Christopher. Người bàn hàng độc đáo. Họ đẹp, lịch sự, làm việc nhanh nhẹn, không lầm lỗi. Cả hai có trí nhớ phi thường. Không bao giờ quên tên khách. Nhớ tất cả món hàng của mỗi người đã mua. Nhớ luôn ngày sinh nhật và sở thích riêng. Ngoài ra, họ có thể trò chuyện với khách về mọi lãnh vực từ triết lý đến khoa học, từ chính trị đến luật pháp, từ du lịch đến nấu ăn… Khách hàng vô cùng hài lòng
Sau hơn ba mươi năm gắn bó với cuộc sống ở Mỹ, ông Hải và bà Lan quyết định về hưu và bắt đầu một chương mới của cuộc đời. Quyết định này, mặc dù bất ngờ với những người xung quanh, lại xuất phát từ một ước mơ giản dị-sống những ngày cuối đời an nhàn tại quê hương. Hai ông bà đã dành dụm được một khoản lương hưu kha khá, cộng thêm số tiền đầu tư từ kế hoạch lương hưu 401k, đủ để họ cảm thấy có thể an tâm sống thoải mái ở Việt Nam.
Mẹ chị vừa bước qua tuổi 90, cụ đã bắt đầu lẫn, không tự săn sóc mình và không dùng máy móc được nữa. Bố chị mới mất cách đây hai năm và Mẹ chị xuống tinh thần rất nhanh sau khi Bố mất. Bắt đầu là buồn bã, bỏ ăn, thiếu ngủ, sau đi tới trầm cảm. Chị đi làm bán thời gian, giờ còn lại cả ngày chạy xe ngoài đường đưa đón mấy đứa nhỏ, hết trường lớp thì sinh hoạt sau giờ học. Chị không thể luôn ở bên Mẹ. Chị tìm được nhà già cho Mẹ rất gần trường học của con, lại gần nhà nữa, nên ngày nào cũng ghé Mẹ được, Mẹ chị chỉ cần trông thấy chị là cụ yên lòng.
Má ơi! Thế giới vô thường, thay đổi và biến hoại trong từng phút giây nhưng lòng con thương má thì không biến hoại, không thay đổi, không suy hao. Nguyện cầu ngày đêm cho má, hướng phước lành đến cho má. Cầu chư Phật, chư Bồ Tát, chư hiền thánh tăng ba đời mười phương gia hộ má vượt qua đau bệnh để sống an lạc trong những ngày tháng tuổi già bóng xế.
Truyện đầu tiên kể nơi đây là kể về một tiền kiếp của Đức Phật Thích Ca. Khi đó, ngài được gọi là một vị Bồ Tát. Ngày xưa rất là xưa, có hai người thợ săn, là hai vị thủ lĩnh của hai ngôi làng gần nhau. Hai vị trưởng làng đã lập một giao ước rằng nếu con của họ tình cờ khác giới tính, họ sẽ sắp xếp cho hai đứa con này kết hôn với nhau. Đó là một thời phần lớn hôn nhân là do sắp xếp của ba mẹ. Một vị trưởng làng có một cậu con trai được đặt tên là Dukūlakumāra, vì cậu bé được sinh ra trong một tấm vải bọc đẹp; vị trưởng làng kia có một cô con gái tên là Pārikā, vì cô bé được sinh ra ở bên kia con sông. Khi chàng trai và cô gái lớn lên, cha mẹ hai bên đã kết hôn cho hai người con này. Tuy nhiên, chàng trai Dukūlakumāra và cô gái Pārikā đã có nhiều kiếp tu, cùng giữ hạnh trong sạch, cho nên cô dâu và chú rể cùng cam kết bí mật với nhau rằng hai người sẽ ở chung nhà như vợ chồng, sẽ yêu thương nhau như vợ chồng nhưng sẽ không làm mất hạnh trong sạch của nhau.


Kính chào quý vị,

Tôi là Derek Trần, dân biểu đại diện Địa Hạt 45, và thật là một vinh dự lớn lao khi được đứng nơi đây hôm nay, giữa những tiếng nói, những câu chuyện, và những tâm hồn đã góp phần tạo nên diện mạo văn học của cộng đồng người Mỹ gốc Việt trong suốt một phần tư thế kỷ qua.
Hai mươi lăm năm! Một cột mốc bạc! Một cột mốc không chỉ đánh dấu thời gian trôi qua, mà còn ghi nhận sức bền bỉ của một giấc mơ. Hôm nay, chúng ta kỷ niệm 25 năm Giải Viết Về Nước Mỹ của nhật báo Việt Báo.

Khi những người sáng lập giải thưởng này lần đầu tiên ngồi lại bàn thảo, họ đã hiểu một điều rất căn bản rằng: Kinh nghiệm tỵ nạn, hành trình nhập cư, những phức tạp, gian nan, và sự thành công mỹ mãn trong hành trình trở thành người Mỹ gốc Việt – tất cả cần được ghi lại. Một hành trình ý nghĩa không những cần nhân chứng, mà cần cả những người viết để ghi nhận và bảo tồn. Họ không chỉ tạo ra một cuộc thi; họ đã và đang xây dựng một kho lưu trữ. Họ thắp lên một ngọn hải đăng cho thế hệ sau để chuyển hóa tổn thương thành chứng tích, sự im lặng thành lời ca, và cuộc sống lưu vong thành sự hội nhập.

Trong những ngày đầu ấy, văn học Hoa Kỳ thường chưa phản ánh đầy đủ sự phong phú và đa dạng về kinh nghiệm của chúng ta. Giải thưởng Viết Về Nước Mỹ thực sự đã lấp đầy khoảng trống đó bằng sự ghi nhận và khích lệ vô số tác giả, những người đã cầm bút và cùng viết nên một thông điệp mạnh mẽ: “Chúng ta đang hiện diện nơi đây. Trải nghiệm của chúng ta là quan trọng. Và nước Mỹ của chúng ta là thế đó.”


Suốt 25 năm qua, giải thưởng này không chỉ vinh danh tài năng mà dựng nên một cộng đồng và tạo thành một truyền thống.
Những cây bút được tôn vinh hôm nay không chỉ mô tả nước Mỹ; họ định nghĩa nó. Họ mở rộng giới hạn của nước Mỹ, làm phong phú văn hóa của nước Mỹ, và khắc sâu tâm hồn của nước Mỹ. Qua đôi mắt họ, chúng ta nhìn thấy một nước Mỹ tinh tế hơn, nhân ái hơn, và sau cùng, chân thật hơn.

Xin được nhắn gửi đến các tác giả góp mặt từ bao thế hệ để chia sẻ tấm chân tình trên các bài viết, chúng tôi trân trọng cảm ơn sự can đảm của quý vị. Can đảm không chỉ là vượt qua biến cố của lịch sử; can đảm còn là việc ngồi trước trang giấy trắng, đối diện với chính mình, lục lọi ký ức đau thương sâu đậm, và gửi tặng trải nghiệm đó đến tha nhân. Quý vị là những người gìn giữ ký ức tập thể và là những người dẫn đường cho tương lai văn hóa Việt tại Hoa Kỳ.

Với Việt Báo: Xin trân trọng cảm ơn tầm nhìn, tâm huyết, và sự duy trì bền bỉ giải thưởng này suốt một phần tư thế kỷ.
Khi hướng đến 25 năm tới, chúng ta hãy tiếp tục khích lệ thế hệ kế tiếp—những blogger, thi sĩ, tiểu thuyết gia, nhà phê bình, nhà văn trẻ—để họ tìm thấy tiếng nói của chính mình và kể lại sự thật của họ, dù đó là thử thách hay niềm vui. Bởi văn chương không phải là một thứ xa xỉ; đó là sự cần thiết. Đó là cách chúng ta chữa lành, cách chúng ta ghi nhớ, và là cách chúng ta tìm thấy nơi chốn của mình một cách trọn vẹn.

Xin cảm ơn quý vị.

NHẬN TIN QUA EMAIL
Vui lòng nhập địa chỉ email muốn nhận.