Hôm nay,  

Trang Sử Việt: Nguyễn An Ninh

09/05/201700:01:00(Xem: 8876)
(Lời tâm tình: Bài viết về “Sử Việt” chỉ khái quát, không đi sâu từng chi tiết của mỗi nhân vật. Cuối mỗi bài viết, phần “Thiết nghĩ” nếu có chỉ là góp ý của tác giả, không ngoài mục đích làm sáng tỏ thêm về nội dung đã biên soạn. Trang Sử Việt luôn mong mỏi nhúm nhen tình tự dân tộc, niềm yêu thương quê hương và giữ gìn Việt ngữ cùng văn hóa Việt. Trang Sử Việt đăng trên Vietbao Online vào thứ Ba và thứ Sáu hàng tuần).
________________ 
 
NGUYỄN AN NINH           
(1900 - 1943)
 
Nguyễn An Ninh quê huyện Hóc Môn (nay thuộc Sài Gòn). Thân phụ là ông Nguyễn An Khương là một nhà văn có tinh thần yêu nước, thông thạo nho và chữ Quốc ngữ. 
      Nguyễn An Ninh học ở trường Taberd, rồi Trường Chasseloup Laubat. Năm 1915 (15 tuổi), ông được nhận làm biên tập cho tờ Courrier saigonnais. Năm sau, tốt nghiệp trung học với bằng ưu, ông ra Hà Nội học Cao đẳng Y Dược. Học được nửa năm, ông lại quyết định chuyển sang học luật và chính trị với hy vọng biết để đấu tranh sau này. Năm 1918, ông sang Paris, học đại học ngành luật tại Đại học Sorbonne. Hai năm sau, ông được cấp bằng Cử nhân Luật hạng ưu.
 
Tại Pháp, ông liên lạc với các nhà yêu nước Phan Chu Trinh, Phan Văn Trường... tìm cách giúp quê hương. Ngày 5-10-1922, ông về nước, ngày 25-1-1923, ông diễn thuyết bằng tiếng Pháp với đề tài: "Une culture pour les Annamites" (Chung đúc một nền học thức cho dân An Nam); kêu gọi mọi người dân Việt hãy mau mở mang dân trí, mau thoát ách nô lệ. 
     Ngày 22-2-1923, ông sang Pháp lần thứ hai, mục đích hoàn tất bằng Tiến sĩ Luật, rồi trở về nước, dịch 5 chương đầu cuốn “Khế ước xã hội” (Contrat social) của Jean-Jacques Rousseau nhằm truyền bá tư tưởng tự do: "Người ta sinh ra tự do, chính quyền là một tổ chức cai trị theo khế ước xã hội, vì thế chính quyền phải phục tùng ý chí của toàn dân".
 
     Ngày 15-10-1923, ông diễn thuyết đề tài: "L’ideál de la Jeunesse Annamite" (Cao vọng của thanh niên), tại Hội Khuyến Học Nam Kỳ ở Sài Gòn. Ông nói: "Cứ suy tôn Khổng Tử chúng ta khó tiến bộ. Tự do không phải là một món vật mà ta có thể chuyền tay, có thể cho hay bán. Ai cũng có thể được tự do. Hỡi thanh niên hôm nay, không ai cấm chúng ta phác họa ước mơ và cao vọng!”. Và ông nhấn mạnh: "Vì sao để thực dân Pháp khai thác và bóc lột đến tận xương tủy cả Đông Dương!" Đã được nhiều người nhiệt liệt tán thưởng. Bài diễn thuyết như tiếng chuông cảnh tỉnh thân phận người dân mất nước. 
      Thống đốc Pháp là Cognacq mấy lần gọi ông đến hăm dọa và cấm ông không được diễn thuyết cho dân chúng nghe. 
 
      Ngày 10-12-1923, ông lập tờ báo Pháp văn La cloche fêlée (Tiếng chuông rè) ở Sài Gòn, chỉ trích thực dân pháp, đề cao các nhà yêu nước và truyền bá tư tưởng tự do, ông làm chủ bút, biên tập, xếp chữ, còn tự ôm báo đi rao bán dạo. Thực dân Pháp thấy vậy, cấm các nhà in không nhận in; người bán báo, đọc báo đều bị theo dõi. Vì vậy, đến ngày 14-7-1924, báo Tiếng chuông rè đình bản. 
      Ngày 10-1-1925, ông sang Pháp lần thứ ba, tại Pháp ông viết: “Nước Pháp ở Đông Dương”, nội dung chống thực dân quyết liệt, đòi hỏi các quyền tự do dân chủ căn bản. Ngoài ra, ông còn diễn thuyết tại Khách sạn Hội Bác học (Hôtel des Sociétés Savantes), Paris, đề tài “Tinh thần dân chủ của nước Việt Nam”.
 
     Sau đấy, ông cùng Phan Chu Trinh về nước. Cuối năm 1925, ông cộng tác với Luật sư Phan Văn Trường (1875-1933), mở lại tờ báo Tiếng chuông rè. Ngày 21-3-1926, ông diễn thuyết trước 3000 người nghe, kêu gọi chống chủ nghĩa thực dân, ba hôm sau, ông bị nhà cầm quyền Pháp bắt kết án 18 tháng tù nhưng giam 10 tháng thì được thả.
     Ông qua Pháp lần thứ tư, đến ngày 6-1-1928, ông về nước, vào cuối năm 1928, ông bị Pháp bắt lần thứ hai về vụ “Hội kín Nguyễn An Ninh” và bắt một số người ủng hộ ông. Ông bị kết án 3 năm tù, ra tù ngày 3-10-1931. ông tiếp tục viết báo chỉ trích thực dân, nên đến tháng 4-1936, lại bị bắt về tội “phá rối trị an”, đến tháng 11 năm 1936 thì được thả.
 
     Đến tháng 7-1937, Pháp lại bắt giam ông lần thứ tư. Đến tháng 1-1939, ông ra tù và tiếp tục đấu tranh. Tháng 9-1939, Thế chiến thứ hai bùng nổ ở châu Âu; tại Đông Dương, thực dân Pháp thiết quân luật và truy lùng bắt các nhà yêu nước để ngăn ngừa dân bị trị vùng lên tự giải phóng mình. Ngày 5-10-1939, ông bị bắt lần thứ năm bị kết án 5 năm tù, lưu đày Côn Đảo. Trên đảo, ông bị hành hạ, bị đói khát nên kiệt sức qua đời vào ngày 14-8-1943, hưởng dương 43 tuổi.
 
Ông chẳng những là nhà chính trị kiên cường, còn là nhà văn thơ sâu sắc, ông để lại: Nước Pháp ở Đông Dương (La France en Indochine, 1925); Hai Bà Trưng (tuồng hát, 1928); Tôn giáo (1932); Dân ước (dịch những đoạn chính trong quyển Contrat social của Rousseau, 1923). 
 
      Bài thơ “Sống và Chết” của ông, nhiệt huyết yêu nước nồng nàn (trích 2 đoạn):
 
Sống mà vô dụng sống làm chi?!
Sống chẳng lương tâm sống ích gì?
Sống trái đạo người, người thêm tủi
Sống quên ơn nước, nước càng khi!
  
        Chết sao cho tiếng vẫn còn hoài
        Chết đáng là người đủ mắt tai
        Chết được dựng hình tên chẳng mục
        Chết đưa vào sử chữ không phai!
  
 *- Thiết nghĩ: Nguyễn An Ninh là người học thức uyên bác, được Pháp mến mộ và ưu ái ngay buổi ban đầu, nhưng ông không thể hưởng “vinh hoa phú quí” chỉ riêng cho bản thân và gia đình nên không hợp tác với Pháp, dứt khoát từ chối để dấn thân vì quốc gia dân tộc. Ông là một chính khách hoạt động chính trị kiên cường, đã nhiều phen bị thực dân Pháp bắt và giam cầm, nhưng lòng son sắt của ông không thể quên quê hương và dân tộc. Ông là người am hiểu đạo Phật, đạo Lão, đạo Khổng. Riêng Khổng giáo, ông đã thẳng thắn: "Cứ suy tôn Khổng Tử, chúng ta khó tiến bộ?!”.
 
     Nguyễn An Ninh là người luôn bôn ba lo nước nhà, trong những bài báo chống Tây của ông, nếu độc giả chỉ đọc hời hợt thì chỉ thấy lời lẽ nhẹ nhàng, nếu ngẫm nghĩ kỹ càng thì mới thấy ý tứ chặt chẽ, nội dung chống Tây sắc bén. Người đời còn lưu truyền: “Nhìn ông thể chất yếu ớt, nhưng khi nghe ông diễn thuyết qua các đề tài: ‘Cao vọng của thanh niên. Tinh thần dân chủ của nước Việt Nam...’ Giọng ông vang vang khắp hội trường. Lời lẽ hào hùng và tuyền cảm đã gây cho khán giả nhiệt liệt tán thưởng. Khi đấy mới hiểu tâm tư ông đã chứa chan tình non nước tự bao giờ?!”
     Nguyễn An Ninh trong 2 thập niên (1923 đến 1943) là nhân vật của thời đại và ngày nay là nhân vật của lịch sử.  
 
Cảm phục: Nguyễn An Ninh
  
Nguyễn An Ninh, chí khí hăng say!
Tranh đấu sắt son, dẫu đọa đày!
Du học Ba Lê, còn chống Pháp?!
Hồi hương đất Việt, vẫn trừ Tây! 
 
Nguyễn Lộc Yên  


Gửi ý kiến của bạn
Vui lòng nhập tiếng Việt có dấu. Cách gõ tiếng Việt có dấu ==> https://youtu.be/ngEjjyOByH4
Tên của bạn
Email của bạn
)
Tác phẩm Metamorphosis, tạm dịch Biến Dạng của Franz Kafka mở đầu bằng một trong những câu văn gây ám ảnh nhất trong văn học thế giới: khi Gregor Samsa thức dậy và phát hiện mình đã biến thành một con côn trùng khổng lồ. Không có lời cảnh báo, không có lời giải thích, không có sự chuẩn bị kịch tính nào. Cú sốc đến ngay lập tức – và đó là thiên tài của Kafka. Ông không dẫn dắt người đọc bước nhẹ nhàng vào cơn ác mộng của Gregor Samsa. Ông ném độc giả của ông thẳng vào đó, buộc chúng ta phải đối mặt với sự phi lý của sự tồn tại mà không có sự an ủi của logic hay lý trí.
Sự thật là nạn nhân không “bám theo ICE suốt cả ngày” như Kristi Noem đã nói. Cô bị bắn khoảng 9 giờ 30 phút sáng, trên đường quay về sau khi chở con trai cô đến trường học cách đó vài ngã tư đường. Hôm nay, tờ New York Times và Washington Post đã có video và bài phân tích chi tiết những gì xảy ra thông qua tất cả video nhân chứng ở hiện trường. Hai tờ báo lớn chỉ ra mỗi phát súng của đặc vụ ICE bắn ra ở góc độ nào, có thật sự vì gặp nguy hiểm tính mạng hay không.
LTS: Biến cố Venezuela sau vụ bắt giữ Nicolás Maduro đang làm rúng động toàn vùng Nam Mỹ. Trong bối cảnh ấy, bà Delcy Rodríguez, 56 tuổi, vốn là phó tổng thống dưới thời Maduro, đã được Tòa án Tối cao và quân đội Venezuela đưa lên nắm quyền lâm thời. Bà cũng là một nhân vật từng được Washington ngỏ ý đối thoại trước đây. Sự kiện này đặt ra câu hỏi: Phải chăng đó là bước đầu của sự "chuyển quyền trong nội bộ," hay chỉ là hồi kế tiếp của cùng một vở tuồng?
Cuộc tấn công và bắt sống vợ chồng Tổng thống Nicolás Maduro ngay trên lãnh thổ Venezuela trong ngày cuối tuần đã trở thành một sự kiện chính trị thế giới hàng đầu khi bước vào năm mới 2026 này. Trong khi những đồng minh của Donald Trump ca ngợi và ủng hộ chiến dịch quân sự này thì ngược lại, một số câu hỏi cũng đã được đặt ra là, liệu một cuộc tấn công quân sự vào Venezuela, một quốc gia không mang tính đe dọa trực tiếp và hiển hiện đến an ninh quốc gia Hoa Kỳ, có được thông báo và sự chuẩn thuận của Quốc Hội Hoa Kỳ theo hiến pháp? Cũng như một chiến dịch quân sự và bắt sống một nguyên thủ quốc gia khác trên lãnh thổ một quốc gia có chủ quyền như Venezuela có đúng với nguyên tắc ngoại giao và công pháp quốc tế hay không?
Người đàn ông lê những bước chân nặng nề giữa hai triền núi mù sương. Gió và bụi cát làm mái tóc dài của ông ta rối bời. Chiếc khăn choàng và áo măng-tô có vẻ không đủ ấm, nên gương mặt hốc hác, mệt mỏi, lấm lem những vết đen như vừa chui ra từ mỏ than. Rồi ngay sau đó, ông ta xuất hiện trong một quán nước, ngồi bên chiếc bàn có ly trà nóng bốc khói nghi ngút trên tay, mắt nhìn xa xăm ra cửa. Một tiếng hát khàn, đục, nặng như những vách núi hai bên đường ông ấy đang đi, vang lên.
Sau khi bài “Chúng Ta Sống Sót” đăng tuần qua, Việt Báo nhận được nhiều hồi âm hơn thường lệ: tin nhắn, điện thoại, thư điện tử. Có người quen, có độc giả chưa từng gặp. Nội dung không khác nhau mấy. Phần lớn là sự đồng cảm. Có người nói đọc xong thấy nhẹ lòng, vì biết mình không phải là kẻ đơn độc nghĩ như thế. Có người gửi lời cảm kích khi có người nói hộ tiếng nói lòng mình. Nhưng điều đáng chú ý không nằm ở nội dung, mà ở cách người ta nhắn gửi hồi âm. Tất cả đều chọn nói riêng. Không bình luận công khai. Không chia sẻ kèm ý kiến. Họ đi bằng “cửa hậu”. Lý do dễ hiểu: không muốn bàn chuyện chính trị nơi công cộng, nhất là trên mạng xã hội — nơi một câu nói có thể bị chụp mũ nhanh hơn tốc độ người ta kịp giải thích mình muốn nói gì.
Năm 2025 đi qua trong chiếc bóng của Donald Trump. Vị tổng thống ồn ào này, với cách hành xử phá bỏ mọi khuôn thước, đã làm xoay chuyển trật tự thế giới: khiến các nền kinh tế lên cơn sốt, nhưng cũng đẩy đồng minh Âu châu phải chi nhiều hơn cho quốc phòng. Bước sang 2026, khi “cơn lốc Trump” vẫn còn cuộn, đây là mười điều đáng dõi theo.
Năm 2025 đang khép lại. Không tổng kết. Không lời ca tụng. Chỉ lặng lẽ như một người vừa đi qua nhiều mất mát — chẳng còn hơi sức nói thêm điều gì. Nhìn lại — năm 2025 không dạy ta cách thắng, mà dạy ta cách không ngã gục. Chúng ta sống sót — vì thói quen nhiều hơn hy vọng. Quen giá cả leo nhanh hơn đồng lương. Quen nhìn nhau bằng ngờ vực hơn cảm thông. Quen tin dữ đến sớm hơn cà phê sáng. Quen mỗi ngày đều phải chọn một nỗi lo để mang theo, bởi không ai ôm nỗi chừng ấy đổ vỡ vào lòng cùng lúc.
Con người ở bất cứ nơi nào trên thế giới cũng có quyền được hạnh phúc và tạo ra hạnh phúc. Nó giống như dưới bầu trời có thể xảy ra trận không kích bất cứ lúc nào, dù ngày hay đêm, nhưng người Ukraine vẫn có thể khảy lên tiếng đàn Bandura. Một năm qua, ai trong chúng ta không mệt mỏi với những dòng chảy đầy bụi bặm, thoát ra từ một gánh xiếc nghiệp dư, mang theo những chất dơ của hận thù, ích kỷ, tham vọng, độc tài. Những ngày cuối cùng của năm 2025, hãy nói về Lửa Và Tro (Avatar: Fire and Ash), thưởng thức siêu phẩm giả tưởng của James Cameron, để cùng khép lại một năm ngộp thở của nước Mỹ, và cùng chiêm nghiệm một điều mà nước Mỹ đang cố tình lãng quên.
Mùa Giáng Sinh này, khi chúng ta chúc nhau an lành, hòa bình và thiện chí, có lẽ ta biết rõ hơn bao giờ hết, mình sẽ là người mở cửa quán trọ hay là Herod của thời đại mới? Khi đó, chúng ta sẽ hiểu — Chúa ở bên ai trong mùa Giáng Sinh này.


Kính chào quý vị,

Tôi là Derek Trần, dân biểu đại diện Địa Hạt 45, và thật là một vinh dự lớn lao khi được đứng nơi đây hôm nay, giữa những tiếng nói, những câu chuyện, và những tâm hồn đã góp phần tạo nên diện mạo văn học của cộng đồng người Mỹ gốc Việt trong suốt một phần tư thế kỷ qua.
Hai mươi lăm năm! Một cột mốc bạc! Một cột mốc không chỉ đánh dấu thời gian trôi qua, mà còn ghi nhận sức bền bỉ của một giấc mơ. Hôm nay, chúng ta kỷ niệm 25 năm Giải Viết Về Nước Mỹ của nhật báo Việt Báo.

Khi những người sáng lập giải thưởng này lần đầu tiên ngồi lại bàn thảo, họ đã hiểu một điều rất căn bản rằng: Kinh nghiệm tỵ nạn, hành trình nhập cư, những phức tạp, gian nan, và sự thành công mỹ mãn trong hành trình trở thành người Mỹ gốc Việt – tất cả cần được ghi lại. Một hành trình ý nghĩa không những cần nhân chứng, mà cần cả những người viết để ghi nhận và bảo tồn. Họ không chỉ tạo ra một cuộc thi; họ đã và đang xây dựng một kho lưu trữ. Họ thắp lên một ngọn hải đăng cho thế hệ sau để chuyển hóa tổn thương thành chứng tích, sự im lặng thành lời ca, và cuộc sống lưu vong thành sự hội nhập.

Trong những ngày đầu ấy, văn học Hoa Kỳ thường chưa phản ánh đầy đủ sự phong phú và đa dạng về kinh nghiệm của chúng ta. Giải thưởng Viết Về Nước Mỹ thực sự đã lấp đầy khoảng trống đó bằng sự ghi nhận và khích lệ vô số tác giả, những người đã cầm bút và cùng viết nên một thông điệp mạnh mẽ: “Chúng ta đang hiện diện nơi đây. Trải nghiệm của chúng ta là quan trọng. Và nước Mỹ của chúng ta là thế đó.”


Suốt 25 năm qua, giải thưởng này không chỉ vinh danh tài năng mà dựng nên một cộng đồng và tạo thành một truyền thống.
Những cây bút được tôn vinh hôm nay không chỉ mô tả nước Mỹ; họ định nghĩa nó. Họ mở rộng giới hạn của nước Mỹ, làm phong phú văn hóa của nước Mỹ, và khắc sâu tâm hồn của nước Mỹ. Qua đôi mắt họ, chúng ta nhìn thấy một nước Mỹ tinh tế hơn, nhân ái hơn, và sau cùng, chân thật hơn.

Xin được nhắn gửi đến các tác giả góp mặt từ bao thế hệ để chia sẻ tấm chân tình trên các bài viết, chúng tôi trân trọng cảm ơn sự can đảm của quý vị. Can đảm không chỉ là vượt qua biến cố của lịch sử; can đảm còn là việc ngồi trước trang giấy trắng, đối diện với chính mình, lục lọi ký ức đau thương sâu đậm, và gửi tặng trải nghiệm đó đến tha nhân. Quý vị là những người gìn giữ ký ức tập thể và là những người dẫn đường cho tương lai văn hóa Việt tại Hoa Kỳ.

Với Việt Báo: Xin trân trọng cảm ơn tầm nhìn, tâm huyết, và sự duy trì bền bỉ giải thưởng này suốt một phần tư thế kỷ.
Khi hướng đến 25 năm tới, chúng ta hãy tiếp tục khích lệ thế hệ kế tiếp—những blogger, thi sĩ, tiểu thuyết gia, nhà phê bình, nhà văn trẻ—để họ tìm thấy tiếng nói của chính mình và kể lại sự thật của họ, dù đó là thử thách hay niềm vui. Bởi văn chương không phải là một thứ xa xỉ; đó là sự cần thiết. Đó là cách chúng ta chữa lành, cách chúng ta ghi nhớ, và là cách chúng ta tìm thấy nơi chốn của mình một cách trọn vẹn.

Xin cảm ơn quý vị.

NHẬN TIN QUA EMAIL
Vui lòng nhập địa chỉ email muốn nhận.