Hôm nay,  

Nhân ngày 20 tháng 7, kể chuyện những ngày chia đôi đất nước 1954

20/07/202408:33:00(Xem: 3159)
Tạp bút

uan

Năm Giáp Ngọ 1954 có thể gọi là năm đại diện cho tuổi thơ tôi. Chỉ trong một năm 1954 đã có quá nhiều biến cố xảy ra dồn dập trước mắt chú bé mười hai tuổi mà suốt trong đời chưa có thời điểm nào đặc biệt như vậy. Trong ý nghĩa lịch sử, đó là năm cuối cùng áp dụng chương trình giáo dục Hoàng Xuân Hãn có điều chỉnh. Là năm có Hiệp Định Genève chia đôi đất nước, lấy con sông Bến Hải làm ranh giới, với làn sóng một triệu người di cư từ Miền Bắc vào Nam cùng với nhiều người tập kết ra Bắc. Cũng là năm ông Ngô Đình Diệm về nước chuẩn bị thành lập nước Việt Nam Cộng Hòa. Trong hạn hẹp bản thân, 1954 là năm học cuối cùng của tôi ở bậc tiểu học – lớp Nhất trường An Hòa, rồi thi đỗ tiểu học, sau đó thi đỗ vào lớp đệ thất trường Ngô Đình Diệm, sau đổi là Quốc Học. Đây là lớp đệ thất đầu tiên và cũng là cuối cùng của trường Quốc Học trước 1975. Thầy Nguyễn Bá Nhiệm, phụ huynh thường gọi là thầy Trợ Nhiệm, vừa là hiệu trưởng vừa dạy chúng tôi lớp Nhất đã để lại quá nhiều kỷ niệm cho học trò trường An Hòa vào năm 1954 và tại lớp chúng tôi. Bóng dáng thầy luôn luôn, trực tiếp hoặc gián tiếp, đứng đằng sau các sự kiện sôi động của năm 1954 tại trường.
    Làn sóng người di cư từ Bắc vào Nam sau hiệp định Genève để lại trong tôi kỷ niệm đáng nhớ tại một làng quê Thừa Thiên. Bọn nhỏ chúng tôi đã có dịp gặp từng nhóm nhỏ những người dân di cư từ Miền Bắc đi vào thôn xóm. Những bà mặc váy  nâu. Đàn ông quần áo luộm thuộm. Dưới mắt dân quê sống trong các lũy tre làng suốt đời không giao lưu với ai, những người di cư không khác người từ một đất nước xa xôi nào đó đến với họ. Họ đâu biết đây là những người tình nguyện vào Nam xây dựng chế độ Cộng Hòa. Trong lớp, chúng tôi tập hát quốc ca “Này Công Dân ơi…”. Thầy giáo nói chuyện với học trò về tiểu sử chí sĩ Ngô Đình Diệm. Một đại đội lính từ miền Bắc vào đóng quân tạm gần trường học, thường xếp đội hình tập luyện chuẩn bị duyệt binh. Tôi còn nhớ câu chuyện xảy ra với cậu bé Vinh, anh họ tôi, bị ông hiệu trưởng tát một cú trời giáng vào má.
    Buổi sáng chào cờ trong sân trường, hiệu trưởng giới thiệu lá quốc kỳ, và đặt câu hỏi về ý nghĩa của lá cờ vàng ba sọc đỏ. Có lẽ bị cán bộ Việt Minh tuyên truyền trước đó, cậu bé Vinh đã dại dột vọt miệng: Cờ ba que. Hiệu trưởng nghe được, đã tát Vinh một tát với thái độ giận dữ, nhưng một lúc sau, khi vào lớp ngồi im lặng suy tư, thầy gọi bé Vinh vào đứng trước mặt và dạy cho cậu bài học không nằm trong chương trình. Như một người cha nhân từ trước một đứa con bé bỏng, thầy dặn nó, con còn nhỏ không được nghe lời ai nói chuyện chính trị như vậy. Bé Vinh vòng tay cúi đầu hứa với thầy không phát ngôn bừa bãi nữa. Thầy giảng cho nó biết, lúc này là buổi giao thời, xã hội còn nhiều chuyện phức tạp xảy ra không lường trước được, phải thận trọng lời ăn tiếng nói.
    Đúng như lời thầy, ban đêm cán bộ Việt Minh họp dân làng giải thích đất nước chỉ chia cắt tạm thời theo hiệp định Genève, họ chỉ tập kết ra Bắc bên kia sông Bến Hải, hai năm sau sẽ có tổng tuyển cử thống nhất đất nước và sẽ trở về đoàn tụ… Ban ngày, loa phóng thanh từ các góc ngã tư, chợ, bến xe rầm rộ tố cáo miền Bắc độc tài, đói khổ, chủ nghĩa tam vô…, ca tụng tài đức Ngô chí sĩ… Còn nhớ vào mấy đêm trăng thu, bọn nhỏ chúng tôi từng đến một ngôi làng lân cận  xem đội văn nghệ sáu thiếu nhi trai gái của mấy ông cán bộ nằm vùng Việt Minh nhảy điệu Re Fa Sol.
    Buổi giao thời chia đôi đất nước ảnh hưởng rõ rệt lên một cậu bé từ làng chài ven biển học cùng lớp với tôi. Ngôi làng chịu nhiều ảnh hưởng của kháng chiến. Sau Genève, cậu bé lặng lẽ bỏ làng chài đến ăn ở tại một ngôi chùa để tiếp tục việc học. Tại đây, hắn kể nhiều câu chuyện xảy ra ở làng chài ven biển. Làng hắn có nhiều người tập kết ra Bắc. Một vài gia đình vội vã khăn gói ra đi giữa đêm khuya như chạy trốn. Tôi nói, làng tôi cũng có người tập kết, như gia đình cậu tôi có chú Trâu con nuôi của cậu. Trước khi tập kết, chú Trâu vẫn đến từ giã mẹ tôi, ra đi bình thường, đâu cần phải lén lút chạy trốn. Hắn bảo, mi không biết gì cả. Gia đình nào khăn gói kéo nhau đi sạch trơn, đó là gia đình có cha anh là cán bộ quan trọng hoạt động kháng chiến đã bị dân làng biết rõ, tức là đã bị lộ. Nếu không tập kết toàn bộ, người ở lại khó sống với chính quyền mới. Hắn nói, bên họ (kháng chiến) đã có lệnh bắt buộc những gia đình loại này phải tập kết. Ra thế. Hắn còn kể nhiều chuyện kín khác nữa tôi không nhớ hết. Ban ngày bọn nhỏ chúng tôi lại vui thích kéo nhau đi tập hát… Trăng trung thu Miền Nam. Ngời tươi sáng, sáng trong lòng ta. Ca vang lên ước nguyện chung xây nền Cộng Hòa Tự Do…
    Trở lại chuyện bé Vinh bị tát tai. Hiệu trưởng đã cắt cử nó vào đội tuyên truyền cổ động ngày trở về của cụ Ngô. Sau chuyến di hành cổ động, nó đã tường thuật cho các bạn cùng lớp nghe… Đội gồm mười nam nữ thiếu nhi đại diện các lớp trong trường tiểu học. Tất cả tập trung tại một ngã ba trạm dừng xe buýt. Một xe dodge nhà binh có gắn loa phóng thanh, chở theo máy phát điện. Hai băng biểu ngữ chào mừng Ngô chí sĩ treo sát hai bên thành xe phía ngoài. Trưởng đoàn, một thiếu uý trẻ tuổi, với bộ quân phục chỉnh tề ngồi ghế trước cạnh tài xế. Mười thiếu nhi nam nữ lên ngồi trên hai hàng ghế đối diện phía sau. Mỗi em ngoe nguẩy trên tay một lá cờ vàng ba sọc đỏ và được phát cho một ổ bánh mì thịt…
    Xe khởi hành đúng bảy giờ rưỡi sáng, chạy về hướng Bao Vinh. Loa phóng thanh vang lên bản hùng ca suy tôn Ngô chí sĩ. Ông thiếu úy cho rải truyền đơn dọc đường. Qua khỏi Bao Vinh, đến Địa Linh, xe dừng lại. Loa phóng thanh vang lên giọng người sĩ quan đọc tiểu sử cụ Ngô. Sau mỗi lần đọc xong tiểu sử, ông ta chuyền micro xuống hai hàng ghế phía sau cho nhóm thiếu nhi hát đồng ca những bài hát ca ngợi tài đức…, những bài hát bọn nhỏ đã tập luyện thuần thục ở Trường. Người dân tươi cười đứng nhìn bọn nhỏ phất cờ ca hát. Xe dừng một chốc. Lại đọc tiểu sử, ca bài suy tôn.
    Lúc xe ra khỏi Địa Linh,trời chuyển mưa lớn. Xe chạy ngược chiều gió bắc. Tấm bạt che không ngăn được nước tạt vào. Bọn nhỏ ngồi co cụm tránh mưa. Xe lăn bánh trên con đường rải đá lởm chởm. Ông thiếu úy tắt máy phát điện. Xe lắc lư vượt qua làn mưa ngược chiều. Bên ngoài, con đường băng ngang cánh đồng lúa non. Xa xa vài thửa ruộng hoang bao phủ bằng một màn nước đục vàng. Phía biển, lẩn khuất sau lũy tre làng là những mái ngói đỏ au, những mái tranh đen xám. Phía bắc, làn mưa mù phủ kín đến tận chân trời…
    Sau hai giờ ngồi trên xe cổ động, bọn nhỏ dùng bữa trưa với thức ăn nước uống mang theo. Mười giờ sáng, mưa bớt nặng hạt. Xe đến Sịa, một địa danh bọn nhỏ chưa lần nào đặt chân đến. Chúng có dịp trông rõ chiếc thuyền cá giăng câu với năm ba người kéo lưới lên bờ. Người dân với nón lá, chân đất, áo quần lem luốc…
    Ông thiếu úy trưởng đoàn ngồi ăn nghỉ bên bờ phá Tam Giang, gần bến đò Sịa – Thế Chí… Phá Tam Giang chỉ rải rác một vài thuyền câu giăng lưới. Chừng nửa giờ sau, xe quay lại đậu ngay tại chợ Sịa – giữa buổi trưa vẫn có đông người mua bán… Bỗng dưng trời nắng sáng, cơn mưa dứt hẳn. Máy phát điện khởi động. Loa phóng thanh lại mở hết công suất. Giọng ông thiếu úy vang lên, làm khuấy động một vùng yên tĩnh, đánh thức người dân khu chợ ra khỏi nhà, tụ họp bên đường đứng nghe tin tức. Bọn nhỏ vỗ tay hát theo nhip những bài hát cổ động. Lúc xuống xe đi bộ, mỗi em đều cầm sẵn ảnh cụ Ngô và truyền đơn đi vào các nhà dọc đường phố phát cho dân…
    Ông thiếu úy đến trụ sở xã bàn chuyện gì đó trước khi trở lại bật máy phóng thanh cho đợt cổ động cuối cùng. Khi ông thiếu úy tắt máy phóng thanh, chuyến di hành kết thúc. Bọn nhỏ lên xe. Xe vòng lên quốc lộ Nam Bắc hướng về thành phố Huế và  trở về nơi xuất phát lúc 4 giờ chiều cùng ngày, chấm dứt cuộc di hành. Mười tên thiếu nhi trường tiểu học An Hòa đã có mặt vào thời điểm chuyển mình của lịch sử ngày chia đôi đất nước…
    Cũng chính cậu bé Vinh đã mang thơ của Thế Viên về làng. Một hôm bé Vinh từ trường học về, cho tôi tập thơ tuyên truyền của Ty Thông tin Thừa Thiên Huế, cổ vũ phong trào di cư. Đó là tập thơ của nhà thơ  Thế Viên, Phạm Đình Bách… Ở Sài Gòn lúc đó, Mai Thảo với Đêm Giã Từ Hà Nội cũng được nhà nước Đệ nhất cộng hòa in cả trăm ngàn bản, giúp nhà văn Mai Thảo trở thành nhà giàu Nguyễn Đăng Quý ăn chơi phè phỡn. Văn  thơ tuyên truyền của Mai Thảo, Thế Viên lạ thay, không phải là loại rẻ tiền. Những câu thơ của Thế Viên không ngờ lại gây mầm thơ cho tôi lúc học lớp Nhất trường tiểu học An Hòa. Tôi vẫn còn nhớ những câu thơ Thế Viên:
 
Em vào đây
Chim ca vạn lối
Sông núi cười vang dội sóng trùng dương
Hà Nội xưa ba mươi sáu phố phường
Rũ áo lên đường
Em nhớ gì không
 
Đây xuân thắm tóc bồng
Còn xuân ngoài ấy bên sông rũ buồn
Núi Nùng trắng đục mù sương
Cửa ô hoa khép mưa tuôn lệ người
Miền Bắc khổ lắm em ơi
Xuân về ai chép những lời thơ xuân
Quê Nam hoa sáng tưng bừng
Xuân về ta chép muôn vần thơ yêu
Dù cho gió sớm mưa chiều
Hoa xuân vẫn nở diễm kiều khắp nơi
 
Em vào đây
Nắng đẹp núi đồi
Trăng soi bến nước
Lúa Đồng Nai xanh mướt cuối trời sâu
Cheo leo tre uốn nhịp cầu
Xứ Dinh vẫn đẹp miếng trầu đưa duyên
 
Em vào đây
Xuân thắm tóc huyền
Bài ca viễn xứ không nghiêng mắt sầu
Em vào đây hết thương đau
Thuyền thương mở rộng con tàu ra khơi…
 
Quê tôi ngày ấy tìm đâu ra những câu thơ như vậy. Phải chăng vì bài thơ tuyên truyền nói trên mà Thế Viên, sau 1975, phải đi học tập cải tạo để chết rục trong tù ? Cũng may, Mai Thảo đã trốn thoát trong đường tơ kẽ tóc để vượt biên qua Mỹ, làm sống lại tạp chí Văn nổi tiếng trước 1975…
 

– Phan Tấn Uẩn

 

Gửi ý kiến của bạn
Vui lòng nhập tiếng Việt có dấu. Cách gõ tiếng Việt có dấu ==> https://youtu.be/ngEjjyOByH4
Tên của bạn
Email của bạn
)
Buổi sáng, bầu trời trong xanh, khi mặt trời bắt đầu trải những tia nắng màu mật ong lấp lánh trên những phiến đá cẩm thạch còn ướt sương đêm; ngôi đền Parthenon, khu di tích cổ Acropolis, thành phố Athens, Hy Lạp, với mấy hàng cột đá đứng im lìm mang một vẻ trầm tư u mặc. Dường như thời gian chỉ tạm dừng để người lữ khách thơ thẩn bước chân ngắm nhìn, đắm chìm, và lắng nghe câu chuyện thần thoại của phế tích vang vọng về từ hằng ngàn năm trước.
Nhóm cựu nhân viên Phòng Thương Vụ Úc người Việt đang sống ở Sài Gòn, Hà Nội, Úc, Mỹ, Canada email cho nhau về sự ra đi của cựu tổng giám đốc Austrade vùng Đông Bắc Á, cùng hồi tưởng về một “ông xếp lớn” người Úc dễ thương, gần gũi, với tình yêu đặc biệt dành cho đất nước và con người Việt Nam.
Theo số liệu của Cục Thống kê Dân số Hoa Kỳ, năm 1990 có 1.000 người Việt ở St. Petersburg và 600 ở Tampa. Đến nay con số lên đến 21.000 cho toàn vùng Vịnh Tampa, gồm các thành phố Pinellas Park, St. Petersburg, Tampa, Largo, Clearwater. Một số làm việc cho các hãng xưởng, nhiều người làm móng tay. Có người đi câu, lưới cá về bán hay buôn bán rau trái.
Dù chưa đến tuổi nghỉ hưu, nhưng con cái đã lớn, tài chánh gia đình không còn là nỗi lo, Nàng quyết định đi làm volunteer tại một Nhà Già (Retirement Home). Lúc đầu, nàng muốn làm chỗ Nhà Già dành cho người Việt để Nàng được trò chuyện lắng nghe tâm tình của những “cư dân”, nhưng nơi đó khá xa, ông xã khuyên nàng chọn làm chỗ gần nhà, chỉ có 3 blocks đường đi bộ, người Tây họ cũng có những nỗi lòng, những câu chuyện đời để cần người chia sẻ.
“Ngày nào em cũng nhắc mà anh cứ quên hoài. Rán uống thuốc cho mau hết bịnh,” cô chưa kịp dứt lời thì một tiếng sủa bung ra cùng lúc với cái gạt tay hung hãn, “Hết cái con mẹ cô ấy!” Ly nước tay này, lọ thuốc tay kia cùng lúc bật khỏi tay cô, văng xuống nền xi măng, ném ra một mảng âm thanh chát chúa. Cái ly vỡ tan. Nước văng tung tóe, những mảnh thủy tinh văng khắp chung quanh, vạch những tia màu lấp lánh. Không dám nhìn vào hai con mắt đỏ lửa, cô cúi đầu dán mắt vào vũng nước loang loáng, vào những viên thuốc vung vãi trên nền nhà. Những viên thuốc đủ màu làm cô hoa mắt (viên màu vàng trị đau, viên màu đỏ an thần, viên màu nâu dỗ giấc ngủ, cô nhớ rõ như thế...) Một viên màu đỏ lăn tới chân cô.
Tôi định cư tại San Diego đã ngoài bốn mươi năm qua. Vùng đất hiếm hoi khó có nơi nào sánh được: bởi chỉ nội trong một ngày lái xe quanh quẩn, người ta có thể đi từ biển lên núi, từ rừng xanh đến sa mạc, thưởng ngoạn đủ đầy hương sắc của đất trời. Sáng sớm thong dong bên vịnh Mission, mặt nước yên như tờ, hàng cọ in bóng trên nền sương mỏng. Trưa ghé Julian, nhâm nhi ly cà phê hay lát bánh táo giữa tiết trời lành lạnh và màu xanh thăm thẳm của rừng thông. Chiều về, con đường tới Borrego mở ra vùng sa mạc hoang vu, xương rồng rải rác trên nền đá đỏ. Suốt dọc hành trình đâu đó hiện ra vườn cam, vườn bơ, đồng nho trĩu quả giữa thung lũng nắng chan hòa. Cảnh vật thay đổi không ngừng, khi mộc mạc, lúc rực rỡ, nhưng vẫn hài hòa như một bản nhạc êm dịu của đất trời. Mỗi lần lái xe ngang qua, tôi cảm thấy mình như được nối lại với nhịp sống của đất, và lòng bỗng nhẹ nhàng lạ thường.
Nhà kho Walmart ở ngoại ô Dallas chiều 24 tháng 12 lạnh như cái tủ đông bị quên đóng cửa. Đèn neon trên trần sáng trắng, lâu lâu chớp một cái như mệt mỏi. Mùi nhựa mới, mùi carton ẩm và tí mùi dầu máy trộn lại với nhau, cảm thấy nghèn nghẹn như cổ họng khi nuốt tin xấu. Tôi đứng giữa hai dãy kệ cao ngất, tay cầm clipboard, tay kia nhét sâu trong túi áo khoác xanh có logo Walmart. Đồng hồ trên tay: 5:17 PM. Giáng Sinh, Walmart đóng cửa sớm lúc 6 giờ. Nếu rời đúng giờ, chạy bốn tiếng, trừ chút kẹt xe, tôi sẽ về đến Houston khoảng mười, mười rưỡi. Trễ, nhưng vẫn còn kịp thấy tụi nhỏ mở quà.
Khi những ngày tháng cuối của một năm đang dần hết, chúng ta thường có lúc bồi hồi nhớ về cố hương, về mảnh đất chôn nhau cắt rốn, hoặc nơi đã in dấu nhiều kỷ niệm đã qua trong đời. Và tôi cũng vậy, xin được nhớ về Gò Vấp, nơi có địa danh Xóm Mới, vùng ngoại ô không xa Sài Gòn, được nhiều người biết đến như vùng đất với nhiều dân Bắc kỳ di cư, nổi tiếng là khu Xóm Đạo, đã từng là nơi sản xuất pháo cùng với món thịt cầy (mộc tồn) lừng danh.
Ông từ người Papua New Guinea đón cha xứ mới người Việt Nam trước cổng nhà xứ. Dáng người ông từ khoảng chừng 30, khuôn mặt PNG nâu nâu đậm nét đăm chiêu, ánh mắt ẩn hiện nét hồi tưởng. Khi nhìn thấy cha xứ mới đang kiên nhẫn đứng đợi dưới mái hiên nhà xứ, nụ cười xuất hiện trên môi ông từ để lộ hàm răng trắng đều thường thấy nơi người bản xứ. Nhưng nụ cười ấy vụt tắt khi ông mở cửa, mời cha xứ lên xe. Ông từ nhanh chóng quay về lại trạng thái khô khốc khi chiếc xe cũ lăn bánh nhọc nhằn trên con đường đá sỏi gập ghềnh. Sau vài câu trao đổi xã giao ngắn gọn, ông từ lại chìm vào trạng thái im lặng. Thời gian trôi qua, năm phút rồi mà vẫn không ai nói thêm một lời nào. Cuối cùng cha xứ lên tiếng,
Giáo Sư Dương Ngọc Sum, với tôi, là hình ảnh tiêu biểu, đáng kính từ nhân cách, hiếu học, luôn luôn cởi mở, tính tình hòa nhã, thân thiện với mọi người. Ông định cư tại Hoa Kỳ theo diện H.O 3 vào tháng 7 năm 1990 (trước tôi một tháng, H.O 4) và cũng trải qua những giai đoạn thăng trầm trong tháng ngày tị nạn. Nhân dịp kỷ niệm Lễ Thượng Thọ 90 tuổi của GS Dương Ngọc Sum, nhà giáo và nhà văn, nhà thơ Dương Tử, viết những dòng về ông
Mấy chị em tôi chia nhau mua nhiều loại báo: Làng Văn, Thế Kỷ 21, Văn, Văn Học… chuyền tay nhau đọc. Tôi “quen” Thế Kỷ 21 đã lâu, nhưng chỉ là quan hệ... đơn phương. Vào những năm 90 của thế kỷ trước, tôi gởi bài đến tờ báo Măng Non, sau này đổi thành Văn Nghệ Trẻ của nhà văn Ngô Nguyên Dũng ở Tây Đức. Mãi năm 2003, tôi mon men vượt đại dương, tìm đến Làng Văn Canada. Được thời gian ngắn, anh Ngô Nguyên Dũng cho biết, báo Làng Văn phải đình bản, vì những khó khăn về tài chánh. Duyên văn nghệ của tôi với Làng Văn chưa kịp “bén” đã chấm dứt. Nghe chị Hoàng Nga “mách nhỏ”, tôi gởi bài đến Văn Học. Có lẽ địa chỉ hotmail của tôi bị nhầm là thư rác, junkmail, điện thư bị trả lại với lý do không giao thư được. Tôi vẫn tiếp tục viết, xếp trong “tủ”, lâu lâu đem ra đọc. Mỗi lần đọc, dặm thêm chút “mắm muối”.
Tôi học được cụm động từ “đi lăng quăng” của bố Sỹ vào những ngày còn học tiểu học. Sau giờ tan trường hay vào cuối tuần, thỉnh thoảng bố lại hỏi mấy thằng con trai: “Có đi lăng quăng không?” Dĩ nhiên là có rồi! Ngồi ở thùng xe phía sau chiếc Daihatsu, chúng tôi theo bố đi giao sách ở những tiệm sách, sạp báo ở trung tâm Sài Gòn. Cũng có khi chỉ là ra một công viên, chúng tôi được chạy nhảy, trong khi bố ngồi trên xe viết lách. Không rõ có bao nhiêu tác phẩm của Doãn Quốc Sỹ được viết trong hoàn cảnh này. Rồi cụm từ “đi lăng quăng” trở lại sau gần một nửa thế kỷ. Ở căn nhà Lampson thành phố Garden Grove, mỗi chiều tôi đi làm về ghé qua, bố đã ngồi đợi trước cửa. Thấy tôi đến, bố hỏi ngay: “Có đi lăng quăng không?” Thế là hai bố con bắt đầu hành trình “lăng quăng” đúng nghĩa, qua những khu dân cư ở gần nhà. Đi không có phải là để đến một nơi chốn nào đó. Đi chỉ để mà đi, để hai bố con có thì giờ ngồi bên nhau trò chuyện. 50 năm trước, bố chở con đi; 50 năm sau đổi ngược lại.


Kính chào quý vị,

Tôi là Derek Trần, dân biểu đại diện Địa Hạt 45, và thật là một vinh dự lớn lao khi được đứng nơi đây hôm nay, giữa những tiếng nói, những câu chuyện, và những tâm hồn đã góp phần tạo nên diện mạo văn học của cộng đồng người Mỹ gốc Việt trong suốt một phần tư thế kỷ qua.
Hai mươi lăm năm! Một cột mốc bạc! Một cột mốc không chỉ đánh dấu thời gian trôi qua, mà còn ghi nhận sức bền bỉ của một giấc mơ. Hôm nay, chúng ta kỷ niệm 25 năm Giải Viết Về Nước Mỹ của nhật báo Việt Báo.

Khi những người sáng lập giải thưởng này lần đầu tiên ngồi lại bàn thảo, họ đã hiểu một điều rất căn bản rằng: Kinh nghiệm tỵ nạn, hành trình nhập cư, những phức tạp, gian nan, và sự thành công mỹ mãn trong hành trình trở thành người Mỹ gốc Việt – tất cả cần được ghi lại. Một hành trình ý nghĩa không những cần nhân chứng, mà cần cả những người viết để ghi nhận và bảo tồn. Họ không chỉ tạo ra một cuộc thi; họ đã và đang xây dựng một kho lưu trữ. Họ thắp lên một ngọn hải đăng cho thế hệ sau để chuyển hóa tổn thương thành chứng tích, sự im lặng thành lời ca, và cuộc sống lưu vong thành sự hội nhập.

Trong những ngày đầu ấy, văn học Hoa Kỳ thường chưa phản ánh đầy đủ sự phong phú và đa dạng về kinh nghiệm của chúng ta. Giải thưởng Viết Về Nước Mỹ thực sự đã lấp đầy khoảng trống đó bằng sự ghi nhận và khích lệ vô số tác giả, những người đã cầm bút và cùng viết nên một thông điệp mạnh mẽ: “Chúng ta đang hiện diện nơi đây. Trải nghiệm của chúng ta là quan trọng. Và nước Mỹ của chúng ta là thế đó.”


Suốt 25 năm qua, giải thưởng này không chỉ vinh danh tài năng mà dựng nên một cộng đồng và tạo thành một truyền thống.
Những cây bút được tôn vinh hôm nay không chỉ mô tả nước Mỹ; họ định nghĩa nó. Họ mở rộng giới hạn của nước Mỹ, làm phong phú văn hóa của nước Mỹ, và khắc sâu tâm hồn của nước Mỹ. Qua đôi mắt họ, chúng ta nhìn thấy một nước Mỹ tinh tế hơn, nhân ái hơn, và sau cùng, chân thật hơn.

Xin được nhắn gửi đến các tác giả góp mặt từ bao thế hệ để chia sẻ tấm chân tình trên các bài viết, chúng tôi trân trọng cảm ơn sự can đảm của quý vị. Can đảm không chỉ là vượt qua biến cố của lịch sử; can đảm còn là việc ngồi trước trang giấy trắng, đối diện với chính mình, lục lọi ký ức đau thương sâu đậm, và gửi tặng trải nghiệm đó đến tha nhân. Quý vị là những người gìn giữ ký ức tập thể và là những người dẫn đường cho tương lai văn hóa Việt tại Hoa Kỳ.

Với Việt Báo: Xin trân trọng cảm ơn tầm nhìn, tâm huyết, và sự duy trì bền bỉ giải thưởng này suốt một phần tư thế kỷ.
Khi hướng đến 25 năm tới, chúng ta hãy tiếp tục khích lệ thế hệ kế tiếp—những blogger, thi sĩ, tiểu thuyết gia, nhà phê bình, nhà văn trẻ—để họ tìm thấy tiếng nói của chính mình và kể lại sự thật của họ, dù đó là thử thách hay niềm vui. Bởi văn chương không phải là một thứ xa xỉ; đó là sự cần thiết. Đó là cách chúng ta chữa lành, cách chúng ta ghi nhớ, và là cách chúng ta tìm thấy nơi chốn của mình một cách trọn vẹn.

Xin cảm ơn quý vị.

NHẬN TIN QUA EMAIL
Vui lòng nhập địa chỉ email muốn nhận.