Hôm nay,  

Có Con Thỏ Ngọc…

17/09/202100:00:00(Xem: 4351)

Những suy nghĩ vặt vãnh nhân ngày Tết Nhi Đồng.

Ngày cuối tuần tôi theo đám trẻ đi rước đèn tháng Tám. Đàn em bé ca hát rộn ràng những bài hát Trung Thu của Sài Gòn ngày trước. Những cái đèn giấy đủ mọi hình dạng. Có thật nhiều đèn cá chép. Những con cá chép mập ú, tròn quay, có ngọn nến lung linh mờ ảo bên trong. Đám rước chỉ thiếu những chiếc đèn làm bằng giấy bóng kính trong suốt. Những chiếc đèn đủ sắc màu. Lũ trẻ một tay níu tay mẹ, tay bà, tay bố, tay anh, tay chị; một tay cầm khúc que ngắn với chiếc đèn treo ở đầu. Ríu rít theo chân nhau đi dọc theo đoạn đường ngắn ngủn bọc quanh ngôi chùa, dưới ánh đèn đường nhạt nhòa. Những chiếc đèn trung thu, bầy trẻ nhỏ, những câu hát quen, giọng trẻ thơ ê a đưa tôi về những ngày thơ ấu.

Chỉ thiếu một vầng trăng.

Ở Bắc Mỹ ngay cả lễ hội Tết Nguyên Đán cũng không thể tổ chức đúng vào mồng một tháng Giêng Âm Lịch. Tết Nhi Đồng cũng thế. Các em đón Tết Trung Thu vào ngày cuối tuần nên buổi rước đèn tháng Tám diễn ra dưới ánh đèn đường, bên dưới những tàng cây rậm lá. Tôi nhập bọn với bầy trẻ thơ, miệng thì thầm câu hát. Tới ngã tư, nơi những khóm lá không đan nhau, bất chợt tôi bắt gặp một mảnh trăng lưỡi liềm.

Trung Thu thời trước ở quê nhà bao giờ cũng có một khuôn trăng tròn vạnh. Và ánh trăng biếc xanh cái sắc màu huyền hoặc, làm đặm nét những hình ảnh tưởng tượng về cây đa, về chú Cuội, về Hằng Nga. Buổi rước đèn năm nay quanh sân ngôi chùa của thành phố cũng có Hằng Nga. Một cô gái mặc áo trắng thanh thoát như một nàng tiên. Nhưng thiếu chú Cuội. Không năm nào có chú Cuội. Chắc chú Cuội “cuội” quá mức nên ít người muốn mời chú chăng. Hằng Nga là một thiếu nữ xinh đẹp trong thành phố. Dường như vai đóng Hằng Nga luôn luôn lọt vào tay một người, bởi tôi thấy nét quen quen trên khuôn mặt trái soan của Hằng Nga đêm rước đèn tháng Tám với đàn em bé của cộng đồng Việt Nam bé nhỏ trong thành phố.

Có bầy em nhỏ. Có bánh Trung Thu. Có đèn nến lung linh. Có chị Hằng. Chỉ thiếu một vầng trăng.

Và thiếu con thỏ ngọc.

Những câu chuyện về Tết Trung Thu tôi thường được nghe thuở còn trẻ thơ về Hằng Nga luôn có kèm theo con Thỏ Ngọc. Thuở ấy tôi là đứa bé hay thắc mắc. Trung Thu nào tôi cũng hỏi những người lớn quanh tôi rằng tại sao chị Hằng luôn đem theo con Thỏ Ngọc mà không là con vật nào khác. Như chú chó Đốm, chú mèo mướp, chú gà trống có cái mào đỏ rực trong sân nhà; hoặc con chuột bạch, con sóc đuôi xù hay bất kỳ con vật nào khác ngoài con Thỏ Ngọc. Nhưng không người lớn nào cho tôi câu giải thích.

Những câu chuyện từ thời Chiến Quốc của nước Tàu - kể về loài Thỏ Ngọc - bảo rằng Thỏ Ngọc (của Tàu) là bạn đồng hành của Hằng Nga, thường giã thuốc trường sinh bằng chày và có bổn phận trông coi Cung Trăng. Thỏ Ngọc của Nhật và Triều Tiên thì chỉ biết giã gạo làm bánh chứ không giã thuốc trường sinh.

Còn có truyền thuyết rằng một vị “trưởng lão” ở Cung Trăng xuống thăm trần gian, cải trang thành gã ăn mày và nhờ Cáo, Khỉ và Thỏ đi tìm thức ăn cho cụ. Khỉ biết leo cây nên hái được trái cây đem về, Cáo thì biết rình bên bờ suối để bắt cá cho vị “trưởng lão”, chỉ riêng Thỏ - vì là loài ăn cỏ nên chỉ - hái được ít lá cây đem về. Lương tâm cắn rứt khiến Thỏ nhảy vào lửa tự làm món BBQ cho vị “trưởng lão”. Vị “trưởng lão” cảm động, kéo Thỏ ra khỏi đống lửa và thưởng công cho Thỏ về Cung Trăng sống với ông.

Vốn là đứa bé tò mò, hay thắc mắc, hỏi này hỏi nọ, những chuyện kể về “lý lịch” Thỏ Ngọc chỉ làm tôi tạm hài lòng trong lúc ấy. Nhưng cái thắc mắc vẫn dán lên óc như mảnh giấy nợ.

Cho đến khi lớn hơn một chút, trong đầu bớt tin chuyện chú Cuội, Hằng Nga và con Thỏ Ngọc; đêm trăng tròn nhất trong năm, tôi không còn nhìn đăm đăm lên khung trăng tròn vành vạnh để nhận diện hình dáng con Thỏ Ngọc (dầu cây Đa của chú Cuội vẫn còn trên ấy), thì tôi phát hiện ra một điều khiến tôi tin rằng mình đã tìm ra lời giải đáp cho câu hỏi vì sao chị Hằng cứ phải đem theo con Thỏ Ngọc.

Vì sao Hằng Nga cứ phải dẫn theo con Thỏ Ngọc? Bạn có câu trả lời không?

Ngày tôi mới lớn (thế kỷ trước lận) thường nghe người lớn thì thầm với nhau hai chữ “thử thỏ”. Và khi nghe nói trong xóm có ai mới “thử thỏ” xong, thì sớm muộn gì trong khu xóm ấy cũng được nghe tiếng khóc oe oe của một em bé sơ sinh.

Lục lại lịch sử y khoa thời kỳ ấy, người ta sẽ đọc được rằng trong nước tiểu của phụ nữ mang thai có nội tiết tố (hormone) hCG mà nguyên tên là Human Chorionic Gonadotropin, đại khái chất này được tiết ra từ lá nhau (placenta) người phụ nữ có thai, có tác dụng tạo nên sự phát triển của buồng trứng. Vì vậy khi nghi ngờ có thai, người ta lấy nước tiểu người phụ nữ ấy chích vào con thỏ cái, khoảng năm ngày sau, nàng thỏ tội nghiệp ấy bị giết để lấy buồng trứng đặt lên kính hiển vi quan sát. Nếu buồng trứng nàng thỏ phát triển mạnh nghĩa là trong nước tiểu người phụ nữ ấy có hCG, nghĩa là nàng ấy có thai.

Với cô gái và những người thân của cô thì đó có thể là tin vui hay tin buồn tùy trường hợp, nhưng với họ hàng nhà thỏ thì đó là tin buồn. Thời kỳ ấy không có biết bao nhiêu nàng thỏ bị hy sinh. Và một trong những mục đích mà người ta nuôi thỏ chắc là như thế.

Từ đó tôi hiểu vì sao Hằng Nga luôn luôn phải mang theo con Thỏ Ngọc.

Bây giờ tôi không còn và cũng không có cơ hội ngắm trăng rằm tháng Tám. Trăng ở Bắc Mỹ bị ánh đèn đô thị xóa nhòa. Và giờ giấc công việc làm ăn cũng không cho phép thảnh thơi chờ trăng lên đúng đêm Trung Thu để nghe từ ký ức vẳng ra câu hát: “Muốn lên cung trăng, cứ hỏi ông Trời cho mượn cái thang.”

Tuy nhiên tôi vẫn vẩn vơ nghĩ ngợi chuyện chị Hằng và những con Thỏ Ngọc.

Và tôi lan man nghĩ về giải đất quê hương bỏ lại sau lưng. Ở đó trăng chắc cũng chẳng còn sáng như trăng mấy mươi năm về trước. Những cô Hằng Nga Việt Nam bây giờ không cần ôm theo con Thỏ Ngọc. Thỏ Ngọc mất việc làm. Thỏ Ngọc không còn phải hy sinh tính mạng cho cái lý tưởng không mấy cao quý của con người. Và những cô Hằng Nga ở đất nước Việt Nam bây giờ trở thành những nạn nhân của lối sống có (gần như) đủ thứ nhưng thiếu đi cái phần đạo đức. Các cô Hằng Nga xứ Việt trở thành nạn nhân trong bản tin tôi đọc được trong Ngày Dân Số Thế Giới (11 tháng Bảy 2018), rằng “Việt Nam đứng đầu Đông Nam Á và là một trong 5 quốc gia có tình trạng phá thai nhiều nhất thế giới, chỉ sau Trung Cộng và Nga!”

Và điều nổi bật là phần lớn các thiếu nữ đến các cơ sở hợp pháp giúp phá thai là những người dưới 20 tuổi. Còn biết bao nhiêu vụ phá thai vụng trộm, mà những sinh linh xấu số - ngoài cái bào thai vô tội kia - nhiều khi còn là chính cô gái chẳng may làm mẹ, chứ không còn là những con thỏ (Ngọc) của một thời xa xưa.

Bây giờ khoa học tiến bộ, những que thử thai bán đầy trong các nhà thuốc tây, nên tôi không phải ngậm ngùi tội nghiệp những nàng thỏ (Ngọc) phải đổi mạng mình để con người tìm ra lời giải đáp cho việc làm của họ, tuy nhiên tôi lại thấy tội nghiệp những cô Hằng Nga đất Việt biết chừng nào.

Hôm nay đã gần cuối tháng Chín, nghĩa là Tết Trung Thu đã gần kề. Còn vài đêm nữa, trăng sẽ tròn. Đêm trăng tròn nhất trong năm (từ nhỏ tôi đã được người ta bảo như thế), xin chúc Bạn một cái Tết Trung Thu có con trăng rất tròn, có những chiếc bánh rất ngon (bánh dẻo, bánh thập cẩm), có lồng đèn đủ sắc màu… rộn ràng trong trí nhớ.

Gửi ý kiến của bạn
Vui lòng nhập tiếng Việt có dấu. Cách gõ tiếng Việt có dấu ==> https://youtu.be/ngEjjyOByH4
Tên của bạn
Email của bạn
)
Vào những năm của thập niên 1960s và 70s, truyện võ hiệp kỳ tình là một phong trào ăn khách nhất của các tờ nhật báo thời bấy giờ. Có khá nhiều tác giả viết võ hiệp lúc đó, nhưng cái tên Kim Dung là sáng chói nhất. Ông là một hiện tượng nổi bật làm say mê hàng triệu độc giả và khán giả từ những trang tiểu thuyết của thế kỷ 20 kéo tiếp đến thế giới phim bộ Hồng Kông thế kỷ 21, không phải chỉ tạiViệt Nam, mà còn nhiếu nước khác ở Á châu.
Con đã nghe rất nhiều lần ở chùa, các thầy đọc: Quán tự tại Bồ Tát, hành thâm bát nhã ba la mật đa thời, chiếu kiến ngũ uẩn giai không, độ nhứt thiết khổ ách…Con đã nhìn thấy ở các chánh điện các chùa, các tượng Quan Thế Âm, phật A Di Đà và Đại Thế Chí Bồ Tát, được đặt cạnh nhau, hợp thành bộ Tây Phương Tam Thánh để dẫn dắt chúng sinh vào thế giới cực lạc tịch tĩnh. Con cũng thấy tượng phật Quan Âm được đặt thờ ở cổng chính các chùa, ở các nơi trang nghiêm để chúng sanh chiêm bái và ngưỡng vọng lòng từ bi cứu khổ cứu nạn…
Tới đây, tôi lại nhớ cái ngày ấy, khi tôi ngồi bàn phỏng vấn đi Canada. Thực ra, chỉ là cuộc nói chuyện ngắn gọn, vui vẻ, vì tôi làm việc trong văn phòng Cao Ủy trại tỵ nạn, thường xuyên giúp đỡ phái đoàn Canada chuyện điền forms cho các gia đình đi Canada, nên ông trưởng phái đoàn quen mặt, thấy tôi bị phái đoàn Mỹ từ chối, ổng sẵn sàng nhận tôi đi Canada bất chấp trong hồ sơ lý lịch của tôi có đầy đủ anh chị em đang ở Mỹ
Trong thời đại nhân danh mọi thứ trừ sự thật, chữ “trung thực” vừa đắt giá vừa khả nghi – người ta nhân danh đạo lý che đậy quyền lợi, nhân danh hòa bình chuẩn bị chiến tranh, nhân danh “dám nói thẳng” biện minh cho mất nhân cách. “Người Trung Thực Nhất Thế Giới” mượn hai vị sứ giả hành tinh soi ranh giới giữa trung thực và bình phong mưu đồ: không trào lộng, dù tiếng cười khó thảnh thơi; không buộc tội ai, dù bóng ai đó thấp thoáng. Xin giới thiệu đến độc giả Việt Báo khúc văn suy tưởng này, bình thản giọng kể mà day dứt nỗi băn khoăn trước cái giá thế giới phải trả cho việc “dám” nói thực.
Sau 4 năm trong trại tù Cải Tạo, tôi trở về Vũng Tàu, tìm lại gia đình mình. Gia đình tôi đã thành cổ tích. Cha Mẹ tôi qua đời, anh em tôi thất lạc, ngôi nhà của chúng tôi đã thành nhà của một cán bộ cao cấp ngoài Bắc dọn vào. Tôi thành người tứ cố vô thân, tôi cố đi tìm gia đình anh tôi, nhưng tăm cá bóng chim. Người nói anh tôi bị bắt lại sau khi vượt biển không thành, người nói cả gia đình hình như đã sang tới Úc, có người lại nói chuyến tầu có gia đình anh tôi mất tích trên biển.Vì nếu bị bắt lại thì ở tù mấy tháng cũng ra. Sang đến Úc thì phải có tin về. Có người nói hình như anh tôi bỏ xót lại một đứa con nhỏ mới 7, 8 tuổi. Hôm cả nhà có người đến đón ra khơi thì thằng bé chơi ngủ lại ở nhà bạn, chủ thuyền không đợị được. Hứa là sẽ cho nó đi ngay chuyền sau. Nhưng chuyến sau không bao giờ có.
Buổi sáng, bầu trời trong xanh, khi mặt trời bắt đầu trải những tia nắng màu mật ong lấp lánh trên những phiến đá cẩm thạch còn ướt sương đêm; ngôi đền Parthenon, khu di tích cổ Acropolis, thành phố Athens, Hy Lạp, với mấy hàng cột đá đứng im lìm mang một vẻ trầm tư u mặc. Dường như thời gian chỉ tạm dừng để người lữ khách thơ thẩn bước chân ngắm nhìn, đắm chìm, và lắng nghe câu chuyện thần thoại của phế tích vang vọng về từ hằng ngàn năm trước.
Nhóm cựu nhân viên Phòng Thương Vụ Úc người Việt đang sống ở Sài Gòn, Hà Nội, Úc, Mỹ, Canada email cho nhau về sự ra đi của cựu tổng giám đốc Austrade vùng Đông Bắc Á, cùng hồi tưởng về một “ông xếp lớn” người Úc dễ thương, gần gũi, với tình yêu đặc biệt dành cho đất nước và con người Việt Nam.
Theo số liệu của Cục Thống kê Dân số Hoa Kỳ, năm 1990 có 1.000 người Việt ở St. Petersburg và 600 ở Tampa. Đến nay con số lên đến 21.000 cho toàn vùng Vịnh Tampa, gồm các thành phố Pinellas Park, St. Petersburg, Tampa, Largo, Clearwater. Một số làm việc cho các hãng xưởng, nhiều người làm móng tay. Có người đi câu, lưới cá về bán hay buôn bán rau trái.
Dù chưa đến tuổi nghỉ hưu, nhưng con cái đã lớn, tài chánh gia đình không còn là nỗi lo, Nàng quyết định đi làm volunteer tại một Nhà Già (Retirement Home). Lúc đầu, nàng muốn làm chỗ Nhà Già dành cho người Việt để Nàng được trò chuyện lắng nghe tâm tình của những “cư dân”, nhưng nơi đó khá xa, ông xã khuyên nàng chọn làm chỗ gần nhà, chỉ có 3 blocks đường đi bộ, người Tây họ cũng có những nỗi lòng, những câu chuyện đời để cần người chia sẻ.
“Ngày nào em cũng nhắc mà anh cứ quên hoài. Rán uống thuốc cho mau hết bịnh,” cô chưa kịp dứt lời thì một tiếng sủa bung ra cùng lúc với cái gạt tay hung hãn, “Hết cái con mẹ cô ấy!” Ly nước tay này, lọ thuốc tay kia cùng lúc bật khỏi tay cô, văng xuống nền xi măng, ném ra một mảng âm thanh chát chúa. Cái ly vỡ tan. Nước văng tung tóe, những mảnh thủy tinh văng khắp chung quanh, vạch những tia màu lấp lánh. Không dám nhìn vào hai con mắt đỏ lửa, cô cúi đầu dán mắt vào vũng nước loang loáng, vào những viên thuốc vung vãi trên nền nhà. Những viên thuốc đủ màu làm cô hoa mắt (viên màu vàng trị đau, viên màu đỏ an thần, viên màu nâu dỗ giấc ngủ, cô nhớ rõ như thế...) Một viên màu đỏ lăn tới chân cô.
Tôi định cư tại San Diego đã ngoài bốn mươi năm qua. Vùng đất hiếm hoi khó có nơi nào sánh được: bởi chỉ nội trong một ngày lái xe quanh quẩn, người ta có thể đi từ biển lên núi, từ rừng xanh đến sa mạc, thưởng ngoạn đủ đầy hương sắc của đất trời. Sáng sớm thong dong bên vịnh Mission, mặt nước yên như tờ, hàng cọ in bóng trên nền sương mỏng. Trưa ghé Julian, nhâm nhi ly cà phê hay lát bánh táo giữa tiết trời lành lạnh và màu xanh thăm thẳm của rừng thông. Chiều về, con đường tới Borrego mở ra vùng sa mạc hoang vu, xương rồng rải rác trên nền đá đỏ. Suốt dọc hành trình đâu đó hiện ra vườn cam, vườn bơ, đồng nho trĩu quả giữa thung lũng nắng chan hòa. Cảnh vật thay đổi không ngừng, khi mộc mạc, lúc rực rỡ, nhưng vẫn hài hòa như một bản nhạc êm dịu của đất trời. Mỗi lần lái xe ngang qua, tôi cảm thấy mình như được nối lại với nhịp sống của đất, và lòng bỗng nhẹ nhàng lạ thường.
Nhà kho Walmart ở ngoại ô Dallas chiều 24 tháng 12 lạnh như cái tủ đông bị quên đóng cửa. Đèn neon trên trần sáng trắng, lâu lâu chớp một cái như mệt mỏi. Mùi nhựa mới, mùi carton ẩm và tí mùi dầu máy trộn lại với nhau, cảm thấy nghèn nghẹn như cổ họng khi nuốt tin xấu. Tôi đứng giữa hai dãy kệ cao ngất, tay cầm clipboard, tay kia nhét sâu trong túi áo khoác xanh có logo Walmart. Đồng hồ trên tay: 5:17 PM. Giáng Sinh, Walmart đóng cửa sớm lúc 6 giờ. Nếu rời đúng giờ, chạy bốn tiếng, trừ chút kẹt xe, tôi sẽ về đến Houston khoảng mười, mười rưỡi. Trễ, nhưng vẫn còn kịp thấy tụi nhỏ mở quà.
NHẬN TIN QUA EMAIL
Vui lòng nhập địa chỉ email muốn nhận.