Hôm nay,  

Cái Duyên Gặp Gỡ Với Bạn Đọc Người Nước Ngoài

12/01/201600:00:00(Xem: 6138)

Tôi qua định cư bên nước Mỹ từ năm 1996, đến năm 2016 này thì đã được 20 năm rồi. Sau thời gian trị bệnh, tình trạng sức khỏe của tôi đã hồi phục khả quan và từ trên 10 năm nay tôi đã tham gia sinh họat về văn hóa xã hội với nhiều bạn bè cùng chí hướng - cũng như viết báo để trao đổi thảo luận với bà con độc giả qua báo giấy cũng như trên báo điện tử. Các bài tôi viết thì hầu hết là bằng tiếng Việt nhằm phục vụ đa số bà con người Việt mình và tôi cũng đã nhận được nhiều đáp ứng của bạn đọc với sự khích lệ thật đáng quý. Tôi sẽ có dịp viết chi tiết về những sự trao đổi này của bạn đọc khắp nơi ở trong cũng như ở ngoài nước.

Nhưng tôi cũng viết một số bài bằng tiếng Anh để dành riêng cho lớp cháu sinh trưởng ở Mỹ và nhân tiện cũng gửi cho các bạn ngọai quốc đọc nữa. Và trong số các độc giả người nước ngòai này lại có một ít người còn thông thạo cả tiếng Việt nữa. Nhân dịp đầu Xuân Bính Thân 2016, tôi xin ghi lại những câu chuyện trao đổi ngộ nghĩnh lý thú giữa tôi và các bạn đọc người nước ngòai ấy. Xin lần lượt trình bày một số danh tính các bạn đọc đó như sau đây.

1 – Anh chị Earl và Pat Martin ở tiểu bang Virginia.

Hai anh chị Martin đã từng làm việc tại Quảng Ngãi hồi trước năm 1975 trong công tác nhân đạo từ thiện của Giáo hội Tin lành Mennonite được gọi là tổ chức Mennonite Central Committee (MCC). Bà con ở Quảng Ngãi thường biết đến anh chị qua tên tiếng Việt là chú Kiến, cô Mai. Sau năm 1975, anh chị còn làm việc tại nhiều nước Á châu khác nữa. Từ năm 1998, Pat giữ chức vụ Giám đốc viện Xây dựng Hòa bình Mùa hè (Summer Peacebuilding Institute SPI) thuộc Đại học Eastern Mennonite University (EMU) tại thành phố Harrisonburg, Virginia. Trong các bài báo trước đây, tôi đã có nhiều dịp viết về anh chị bạn rất thân thiết này rồi. Nay tôi chỉ ghi tóm tắt lại câu chuyện trao đổi của anh chị về các bài viết của tôi cả bằng tiếng Việt, cả bằng tiếng Anh.

Nói chung, anh chị đều chú ý đến các bài tôi gửi qua email và luôn phản hồi mau lẹ, đại khái như “bài này hấp dẫn đấy” (interesting), “người Mỹ chúng tôi cần được biết đến những thông tin chính xác như trong các bài do anh viết” v.v... Có lần Earl gọi tôi là “an wandering philosopher” (một triết gia đi lang thang). Mới đây, sau khi đọc bài “My Two Passions in Life” (Hai niềm say mê trong đời của tôi) Earl trả lời ngay rằng đó là “Beautiful Reflections”

Người anh cả của Earl tên là Luke Martin, ông làm việc lâu năm ở Việt nam như là một vị Mục sư thuộc Giáo hội Tin Lành Mennonite. Ông cũng như bà vợ là Mary Martin đều khá thông thạo tiếng Việt. Khi đọc bài tôi viết về Giáo hội Mennonite tại Mỹ, mục sư Luke nói ngay chắc là Earl đã cung cấp các tài liệu cho tôi tham khảo để viết bài đó. Vào cuối năm 2012, tôi đã đến ngụ tại nhà ông bà tại thành phố Allentown tiểu bang Pennsylvania. Chúng tôi vẫn thường liên lạc với nhau qua email.

2- Giáo sư Sophie Quinn-Judge tại Đại học Temple ở thành phố Philadelphia.

Sophie từng làm việc tại Việt nam trước năm 1975 trong tổ chức nhân đạo của giáo phái Quaker. Chị thông thạo tiếng Pháp, Nga và cả tiếng Việt nữa. Từ nhiều năm nay, chị làm giáo sự dạy môn sử học, đồng thời cũng làm phó giám đốc trung tâm văn hóa, triết học và xã hội Việt nam tại Đại học Temple. Một vài lần chị còn mời tôi đến trú ngụ tại nhà của chị ở khu ngọai ô của Philadelphia. Đôi khi chị còn mời tôi đến nói chuyện với sinh viên trong lớp do chị hướng dẫn nữa.

Sophie Quinn-Judge còn là tác giả cuốn sách “Ho Chi Minh – The Missing Years” xuất bản năm 2002 mà được nhiều thức giả đánh giá cao. Sophie tính tình hồn nhiên đôn hậu dịu hiền, chị xưng mình là một Buddhist Quaker (người Quaker mà có tinh thần Phật giáo). Mới đây, chị cho biết sắp sửa đến tuổi nghỉ hưu rồi, nhưng cho biết là chỉ nghỉ việc giảng day, còn vẫn phụ trách chuyện nghiên cứu cho trường Temple.

Chị thường góp ý kiến cho các bài viết của tôi. Đặc biệt là về bài tôi viết về “Kỷ niệm vui buồn với anh chị em thuộc Trường Thanh niên Phụng sự Xã hội” ở Việt nam trước năm 1975, thì Sophie nói là những bài như thế rất là cần thiết để cho các thế hệ sau này hiểu biết rõ ràng hơn về những cố gắng xây dựng xã hội ở Việt nam ngay trong thời kỳ chiến tranh trước đây nữa.

(Tôi còn có một người bạn cũng có tên là Sophie nữa, đó là chị Sophie Richardson như sẽ ghi ở mục số 8 dưới đây).

3 – Luật sư Dinah Pokempner Cố vấn trưởng của tổ chức Theo dõi Nhân quyền Human Rights Watch (HRW) ở New York.

Từ năm 1990 – 91, tổ chức HRW đã phân công cho Dinah Pokempner là người phụ trách về hồ sơ của tôi bị giam giữ ở Việt nam từ năm 1990. Vì thế, nên Dinah và tôi rất gắn bó thân thiết với nhau và mỗi khi tôi đến New York thì thường tới gặp gỡ thăm viếng chị tại văn phòng của HRW. Dinah lại còn tham gia giảng dậy tại Đại học Columbia và mới đây vào tháng 3/2015 lúc tôi tham dự Đại hội thường niên của tổ chức Amnesty tại Brooklyn, New York, thì Dinah cũng mời tôi đến nói chuyện với sinh viên trong lớp do chị phụ trách giảng dạy nữa.

Dinah cũng chuyển các bài của tôi viết cho các sinh viên của chị tham khảo vài bữa trước khi lớp học bắt đầu, nên trong lớp học chị còn đặt những câu hỏi và nhờ tôi giải thích chi tiết rõ ràng hơn cho các sinh viên hiểu biết về bối cảnh chính trị văn hóa ở Việt nam. Dinah nhấn mạnh đến quan điểm vững chắc của tôi trong cố gắng góp phần xây dựng luật pháp ở Việt nam – mà cũng vì thế mà tôi bị cộng sản bắt giữ và tuyên án xử phạt tôi 12 năm tù vì tội “tuyên truyền chống chủ nghĩa xã hội” trong phiên xử vào năm 1992 tại Tòa án Sài gòn.

Chị còn nói rõ hơn với sinh viên: Các em cần chú ý ýđến lập trường của luật sư Liêm khi ông viết trong tài liệu từ đầu năm 1990 rằng “Truyền thống nhân bản và nhân ái của Việt nam đã có từ lâu – đó là cơ sở vững chắc cho công cuộc phát huy nhân quyền tại quốc gia này. Chứ quan niệm về nhân quyền không phải chỉ là sản phẩm riêng của phương Tây đề xuất ra…”

Sau buổi thuyết trình, Dinah mời tôi ra quán uống cà phê và nói chuyện thêm. Tôi hỏi Dinah: Sinh viên của chị họ phê phán về tôi ra sao? Dinah vừa nói vừa cười thật tươi rằng: Các em đó gọi anh là một “Rockstar”đấy. Khi về nhà bạn Dick Hughes ở Manhattan, tôi thuật lại chuyện sinh viên ở Columbia của Dinah, họ gọi tôi là rockstar đó, Dick cười ngất, anh nói: Mister Liêm quả thật là nổi danh với chuyện được sinh viên tặng cho cái danh hiệu Rockstar như vậy đó!

Mới đây, chị còn cho tôi biết là đã chuyển bài “My Two Passions” của tôi mà chị rất thích cho các con của chị cùng đọc nữa.

4 – Giáo sư Olga Dror tại Đại học Texas A & M (TAMU)

Olga Dror là người gốc Do Thái sinh trưởng ở Nga. Chị học chuyên về ngôn ngữ và văn hóa Việt nam và đã có thời làm cho đài phát thanh Moscow phần tiếng Việt. Hiện chị làm giáo sư giảng dạy về lịch sử tại Đại học TAMU. Chị là người dịch cuốn sách Giải Khăn Sô Cho Huế của Nhã Ca sang tiếng Anh - cuốn sách này đã được Nhà xuất bản Đại học Indiana cho ấn hành vào năm 2014 và tôi cũng đã có dịp giới thiệu với bà con độc giả người Việt vào đầu năm 2015 vừa rồi.


Chị cũng là tác giả một cuốn sách nghiên cứu về Công chúa Liễu Hạnh mà được nhà xuất bản Đại học Hawaii ấn hành vào năm 2007. Từ ít lâu nay, Olga chuyên nghiên cứu đối chiếu về giáo dục tại 2 miền Bắc và Nam Việt nam trong thời kỳ chiến tranh 1965 – 1975.

Từ đầu năm 2015 đến nay, tôi thường hay trao đổi thư từ và bài viết với Olga. Cụ thể như khi tôi gửi cho chị loạt bài “Thanh thiếu niên và Công tác xã hội tại miền Nam hồi trước năm 1975”, thì Olga trả lời rằng loạt bài này rất sinh động và góp phần vào việc tìm hiểu tình hình xã hội ở Việt nam trong thời kỳ chiến tranh trước đây.

Phu quân của chị là Keith Taylor, thì cũng là một giáo sư chuyên nghiên cứu và giảng dạy về lịch sử và văn hóa Việt nam tại đại học danh tiếng Cornell nữa.

5 – Doug Hostetter, Giám đốc văn phòng “MCC Liaison Office with the United Nations” (Văn phòng Liên lạc của MCC với Liên Hiệp Quốc).

Doug từng làm việc thiện nguyện tại Tam Kỳ trong tổ chức MCC hồi trước năm 1968. Sau anh về Mỹ và tham gia tích cực trong phong trào sinh viên chống chiến tranh hồi đầu thập niên 1970. Anh nổi tiếng vì họat động trong nhiều tổ chức tranh đấu xây dựng hòa bình như Fellowship of Reconciliation (FOR). Từ trên 10 năm nay anh là Giám đốc văn phòng của MCC liên lạc với Liên Hiệp Quốc, vì thế lần nào đến New York tôi cũng đến gặp gỡ trao đổi với anh tại văn phòng kế cận với khuôn viên của trụ sở LHQ.

Chúng tôi vẫn thường trao đổi thư từ với nhau qua email. Đặc biệt dịp 30/4 năm 2015, tôi có gửi cho Doug bài viết bằng Anh ngữ về những vụ tàn sát của phe cộng sản Việt nam đối với người thuộc phe quốc gia trong các năm 1945 – 47 lúc họ vừa mới nắm được quyền hành trong tay của mình. Đọc xong, Doug trả lời ngay cho tôi; “Các vụ thảm sát này không hề được phong trào hòa bình (the peace movement) nhắc đến trước đây vào hồi đầu thập niên 1970!”

6 – Trao đổi với anh bạn Danut Manastireanu từ xứ Rumania.

Đây là người bạn mà tôi chưa hề trực tiếp gặp mặt, nhưng từ vài ba năm nay chúng tôi vẫn liên lạc thư từ với nhau qua email. Lý do là anh bạn Danut này hiện vẫn sinh sống tại quê nhà ở nước Rumania bên Đông Âu. Anh thường cho đăng bài của tôi viết bằng tiếng Anh lên Google để nhiều người khắp nơi có thể đọc được nữa. Tôi hy vọng khi qua thăm bà con bên Âu châu, thì sẽ có dịp gặp mặt với anh để hàn huyên tâm sự nhiều.

Anh Danut làm việc cho tổ chức World Vision tại Rumania, nên khá bận rộn với công việc đòi hỏi anh phải di chuyển đi nhiều nơi.

7 - Trao đổi với chị Annette làm việc tại chi nhánh Bưu điện Bolsa, thành phố Westminster, California.

Chị Annette làm việc lâu năm tại Bưu điện Bolsa là nơi mà phần đông bà con người Việt tại khu vực Little Saigon đều biết đến. Mấy năm gần đây, tôi hay gửi cho chị những bài tôi viết bằng tiếng Anh. Có lần sau khi đọc bài viết về chiến tranh Việt Nam, thì Annette đã nói với tôi, đại khái như thế này: “Trước khi được đọc bài viết của anh, thì tôi thật không hề biết là người cộng sản ở Việt nam lại có thể tàn ác đến như thế...” (I didn't know that the communists in Vietnam are so atrocious).

8 – Trao đổi với chị Sophie Richardson tại văn phòng HRW ở thủ đô Washington DC.

Từ cuối thập niên 1980, hồi còn rất trẻ Sophie Richardson đã khởi sự tham gia họat động tại Cambodia với các tổ chức phi chính phủ (NGO – Non-Governmental Organisations). Và sau ít lâu thì chị gia nhập với tổ chức HRW và từ 20 năm nay làm việc tại văn phòng của tổ chức này ở Washington DC. Sophie được nhiều bà con người Việt chúng ta biết đến và mến chuộng vì chị thường ra điều trần tại Quốc Hội Mỹ để tố cáo những vi phạm nhân quyền của chính quyền cộng sản Hà nội.

Và mỗi khi tôi đến thành phố này, thì chúng tôi thường gặp gỡ chuyện trò trao đổi thông tin với nhau. Sophie thông thạo tiếng Hoa, luận án thi văn bằng tiến sĩ của chị là về tình hình chính trị ở Trung quốc. Gần đây, Sophie được HRW bố trí phụ trách riêng về tình hình ở Trung quốc.

Có lần, Sophie giải thích cho tôi: “Anh biết không, cái tên Sophie của tôi là từ tiếng Hy lạp có nghĩa là wisdom (minh triết). Tôi rất thích cái tên này do cha mẹ chọn cho tôi đấy...” Tôi bèn trả lời: “Chị cũng biết đấy, tên của tôi là Thanh Liêm có nghĩa là Honesty. Nhưng các bạn quen biết lại còn gọi tôi là một philosopher nữa. Như vậy, thì giữa Sophie và tôi có sự liên hệ mật thiết đấy nhỉ...” Sophie hiểu ngay ý nghĩa khôi hài của tôi và cười thật tươi.

Gần đây, sau khi đọc bài “My Two Passions” của tôi, Sophie trả lời ngay qua email: “Rất cảm ơn anh đã chia sẻ bài viết này với tôi. Ví chính tôi cũng có 2 niềm say mê giống như anh vậy – đó là sách báo và bạn hữu”.

9 – Trao đổi với các bạn trong nhiều cuộc gặp gỡ khác.

Tôi tham gia sinh họat với tổ chức Amnesty International tại Mỹ từ nhiều năm nay, ở cả 3 cấp bậc: - Họp thường xuyên hàng tháng tại địa phương gọi là local group số 178 ở thành phố Irvine - cấp miền gồm các tiểu bang khu vực miền Tây nước Mỹ gọi là Western Regional họp mỗi năm vào tháng 11 - và cấp tòan quốc trong các Đại hội Thường niên họp vào tháng 3 gọi là Annual General Meeting (AGM). Vì thế mà tôi có cơ hội gặp gỡ trao đổi thân mật với rất nhiều bạn hữu từ nhiều quốc gia khác nhau mà lại có cùng một chí hướng theo đuổi lý tưởng bảo vệ nhân quyền.

Số bạn này quá đông, tôi không thể nào kể ra hết danh tính của từng người trong số cả ngàn các bạn đó được. Thường tôi chuyển một số bài mình viết cho các bạn ấy đọc và rất nhiều bạn đã gửi phản hồi tích cực lại cho tôi. Đó là cái duyên quen biết gắn bó lâu dài của tôi với các bạn trong khuôn khổ đại gia đình của tổ chức Ân Xá Quốc Tế đó vậy.

Cũng tương tự như thế, qua nhiều cuộc hội thảo nơi các đại học tại những tiểu bang thuôc khu vực miền Đông nước Mỹ, tôi cũng có thêm sự quen biết gần gũi với khá nhiều các bạn khác nữa. Và chúng tôi đều có những trao đổi thân tình thuận thảo với nhau trong tinh thần nhân bản tiến bộ và tương kính. Đối với tôi, thì rõ ràng những cuộc gặp gỡ trao đổi gắn bó thân thiết với các bạn người Mỹ cũng như với những bạn hữu quốc tế như thế - đó là một phương cách thuận lợi để mình hội nhập êm thắm nhịp nhàng vào với dòng chính của xã hội nước Mỹ - là nơi mà một số khá đông lên đến gần 2 triệu người Việt chúng ta đã chọn lựa đi đến sinh sống lập nghiệp lâu dài kể từ sau năm 1975 vậy.

Nói chung, thì với chiều hướng tòan cầu hóa về các mặt chính trị, kinh tế, xã hội cũng như văn hóa tinh thần - con người ngày nay có sự tôn trọng, thông cảm và liên đới gắn bó mật thiết với nhau mỗi ngày càng thêm bền chặt hơn. Và đó là điều giúp chúng ta có được sự tin tưởng và niềm phấn khởi cho tương lai sắp tới của nhân lọai trong thế kỷ XXI này vậy./

Westminster California, cuối năm Ất Mùi 2015

Đoàn Thanh Liêm

Gửi ý kiến của bạn
Vui lòng nhập tiếng Việt có dấu. Cách gõ tiếng Việt có dấu ==> https://youtu.be/ngEjjyOByH4
Tên của bạn
Email của bạn
)
Tác phẩm Metamorphosis, tạm dịch Biến Dạng của Franz Kafka mở đầu bằng một trong những câu văn gây ám ảnh nhất trong văn học thế giới: khi Gregor Samsa thức dậy và phát hiện mình đã biến thành một con côn trùng khổng lồ. Không có lời cảnh báo, không có lời giải thích, không có sự chuẩn bị kịch tính nào. Cú sốc đến ngay lập tức – và đó là thiên tài của Kafka. Ông không dẫn dắt người đọc bước nhẹ nhàng vào cơn ác mộng của Gregor Samsa. Ông ném độc giả của ông thẳng vào đó, buộc chúng ta phải đối mặt với sự phi lý của sự tồn tại mà không có sự an ủi của logic hay lý trí.
Sự thật là nạn nhân không “bám theo ICE suốt cả ngày” như Kristi Noem đã nói. Cô bị bắn khoảng 9 giờ 30 phút sáng, trên đường quay về sau khi chở con trai cô đến trường học cách đó vài ngã tư đường. Hôm nay, tờ New York Times và Washington Post đã có video và bài phân tích chi tiết những gì xảy ra thông qua tất cả video nhân chứng ở hiện trường. Hai tờ báo lớn chỉ ra mỗi phát súng của đặc vụ ICE bắn ra ở góc độ nào, có thật sự vì gặp nguy hiểm tính mạng hay không.
LTS: Biến cố Venezuela sau vụ bắt giữ Nicolás Maduro đang làm rúng động toàn vùng Nam Mỹ. Trong bối cảnh ấy, bà Delcy Rodríguez, 56 tuổi, vốn là phó tổng thống dưới thời Maduro, đã được Tòa án Tối cao và quân đội Venezuela đưa lên nắm quyền lâm thời. Bà cũng là một nhân vật từng được Washington ngỏ ý đối thoại trước đây. Sự kiện này đặt ra câu hỏi: Phải chăng đó là bước đầu của sự "chuyển quyền trong nội bộ," hay chỉ là hồi kế tiếp của cùng một vở tuồng?
Cuộc tấn công và bắt sống vợ chồng Tổng thống Nicolás Maduro ngay trên lãnh thổ Venezuela trong ngày cuối tuần đã trở thành một sự kiện chính trị thế giới hàng đầu khi bước vào năm mới 2026 này. Trong khi những đồng minh của Donald Trump ca ngợi và ủng hộ chiến dịch quân sự này thì ngược lại, một số câu hỏi cũng đã được đặt ra là, liệu một cuộc tấn công quân sự vào Venezuela, một quốc gia không mang tính đe dọa trực tiếp và hiển hiện đến an ninh quốc gia Hoa Kỳ, có được thông báo và sự chuẩn thuận của Quốc Hội Hoa Kỳ theo hiến pháp? Cũng như một chiến dịch quân sự và bắt sống một nguyên thủ quốc gia khác trên lãnh thổ một quốc gia có chủ quyền như Venezuela có đúng với nguyên tắc ngoại giao và công pháp quốc tế hay không?
Người đàn ông lê những bước chân nặng nề giữa hai triền núi mù sương. Gió và bụi cát làm mái tóc dài của ông ta rối bời. Chiếc khăn choàng và áo măng-tô có vẻ không đủ ấm, nên gương mặt hốc hác, mệt mỏi, lấm lem những vết đen như vừa chui ra từ mỏ than. Rồi ngay sau đó, ông ta xuất hiện trong một quán nước, ngồi bên chiếc bàn có ly trà nóng bốc khói nghi ngút trên tay, mắt nhìn xa xăm ra cửa. Một tiếng hát khàn, đục, nặng như những vách núi hai bên đường ông ấy đang đi, vang lên.
Sau khi bài “Chúng Ta Sống Sót” đăng tuần qua, Việt Báo nhận được nhiều hồi âm hơn thường lệ: tin nhắn, điện thoại, thư điện tử. Có người quen, có độc giả chưa từng gặp. Nội dung không khác nhau mấy. Phần lớn là sự đồng cảm. Có người nói đọc xong thấy nhẹ lòng, vì biết mình không phải là kẻ đơn độc nghĩ như thế. Có người gửi lời cảm kích khi có người nói hộ tiếng nói lòng mình. Nhưng điều đáng chú ý không nằm ở nội dung, mà ở cách người ta nhắn gửi hồi âm. Tất cả đều chọn nói riêng. Không bình luận công khai. Không chia sẻ kèm ý kiến. Họ đi bằng “cửa hậu”. Lý do dễ hiểu: không muốn bàn chuyện chính trị nơi công cộng, nhất là trên mạng xã hội — nơi một câu nói có thể bị chụp mũ nhanh hơn tốc độ người ta kịp giải thích mình muốn nói gì.
Năm 2025 đi qua trong chiếc bóng của Donald Trump. Vị tổng thống ồn ào này, với cách hành xử phá bỏ mọi khuôn thước, đã làm xoay chuyển trật tự thế giới: khiến các nền kinh tế lên cơn sốt, nhưng cũng đẩy đồng minh Âu châu phải chi nhiều hơn cho quốc phòng. Bước sang 2026, khi “cơn lốc Trump” vẫn còn cuộn, đây là mười điều đáng dõi theo.
Năm 2025 đang khép lại. Không tổng kết. Không lời ca tụng. Chỉ lặng lẽ như một người vừa đi qua nhiều mất mát — chẳng còn hơi sức nói thêm điều gì. Nhìn lại — năm 2025 không dạy ta cách thắng, mà dạy ta cách không ngã gục. Chúng ta sống sót — vì thói quen nhiều hơn hy vọng. Quen giá cả leo nhanh hơn đồng lương. Quen nhìn nhau bằng ngờ vực hơn cảm thông. Quen tin dữ đến sớm hơn cà phê sáng. Quen mỗi ngày đều phải chọn một nỗi lo để mang theo, bởi không ai ôm nỗi chừng ấy đổ vỡ vào lòng cùng lúc.
Con người ở bất cứ nơi nào trên thế giới cũng có quyền được hạnh phúc và tạo ra hạnh phúc. Nó giống như dưới bầu trời có thể xảy ra trận không kích bất cứ lúc nào, dù ngày hay đêm, nhưng người Ukraine vẫn có thể khảy lên tiếng đàn Bandura. Một năm qua, ai trong chúng ta không mệt mỏi với những dòng chảy đầy bụi bặm, thoát ra từ một gánh xiếc nghiệp dư, mang theo những chất dơ của hận thù, ích kỷ, tham vọng, độc tài. Những ngày cuối cùng của năm 2025, hãy nói về Lửa Và Tro (Avatar: Fire and Ash), thưởng thức siêu phẩm giả tưởng của James Cameron, để cùng khép lại một năm ngộp thở của nước Mỹ, và cùng chiêm nghiệm một điều mà nước Mỹ đang cố tình lãng quên.
Mùa Giáng Sinh này, khi chúng ta chúc nhau an lành, hòa bình và thiện chí, có lẽ ta biết rõ hơn bao giờ hết, mình sẽ là người mở cửa quán trọ hay là Herod của thời đại mới? Khi đó, chúng ta sẽ hiểu — Chúa ở bên ai trong mùa Giáng Sinh này.



Kính chào quý vị,

Tôi là Derek Trần, dân biểu đại diện Địa Hạt 45, và thật là một vinh dự lớn lao khi được đứng nơi đây hôm nay, giữa những tiếng nói, những câu chuyện, và những tâm hồn đã góp phần tạo nên diện mạo văn học của cộng đồng người Mỹ gốc Việt trong suốt một phần tư thế kỷ qua.
Hai mươi lăm năm! Một cột mốc bạc! Một cột mốc không chỉ đánh dấu thời gian trôi qua, mà còn ghi nhận sức bền bỉ của một giấc mơ. Hôm nay, chúng ta kỷ niệm 25 năm Giải Viết Về Nước Mỹ của nhật báo Việt Báo.

Khi những người sáng lập giải thưởng này lần đầu tiên ngồi lại bàn thảo, họ đã hiểu một điều rất căn bản rằng: Kinh nghiệm tỵ nạn, hành trình nhập cư, những phức tạp, gian nan, và sự thành công mỹ mãn trong hành trình trở thành người Mỹ gốc Việt – tất cả cần được ghi lại. Một hành trình ý nghĩa không những cần nhân chứng, mà cần cả những người viết để ghi nhận và bảo tồn. Họ không chỉ tạo ra một cuộc thi; họ đã và đang xây dựng một kho lưu trữ. Họ thắp lên một ngọn hải đăng cho thế hệ sau để chuyển hóa tổn thương thành chứng tích, sự im lặng thành lời ca, và cuộc sống lưu vong thành sự hội nhập.

Trong những ngày đầu ấy, văn học Hoa Kỳ thường chưa phản ánh đầy đủ sự phong phú và đa dạng về kinh nghiệm của chúng ta. Giải thưởng Viết Về Nước Mỹ thực sự đã lấp đầy khoảng trống đó bằng sự ghi nhận và khích lệ vô số tác giả, những người đã cầm bút và cùng viết nên một thông điệp mạnh mẽ: “Chúng ta đang hiện diện nơi đây. Trải nghiệm của chúng ta là quan trọng. Và nước Mỹ của chúng ta là thế đó.”


Suốt 25 năm qua, giải thưởng này không chỉ vinh danh tài năng mà dựng nên một cộng đồng và tạo thành một truyền thống.
Những cây bút được tôn vinh hôm nay không chỉ mô tả nước Mỹ; họ định nghĩa nó. Họ mở rộng giới hạn của nước Mỹ, làm phong phú văn hóa của nước Mỹ, và khắc sâu tâm hồn của nước Mỹ. Qua đôi mắt họ, chúng ta nhìn thấy một nước Mỹ tinh tế hơn, nhân ái hơn, và sau cùng, chân thật hơn.

Xin được nhắn gửi đến các tác giả góp mặt từ bao thế hệ để chia sẻ tấm chân tình trên các bài viết, chúng tôi trân trọng cảm ơn sự can đảm của quý vị. Can đảm không chỉ là vượt qua biến cố của lịch sử; can đảm còn là việc ngồi trước trang giấy trắng, đối diện với chính mình, lục lọi ký ức đau thương sâu đậm, và gửi tặng trải nghiệm đó đến tha nhân. Quý vị là những người gìn giữ ký ức tập thể và là những người dẫn đường cho tương lai văn hóa Việt tại Hoa Kỳ.

Với Việt Báo: Xin trân trọng cảm ơn tầm nhìn, tâm huyết, và sự duy trì bền bỉ giải thưởng này suốt một phần tư thế kỷ.
Khi hướng đến 25 năm tới, chúng ta hãy tiếp tục khích lệ thế hệ kế tiếp—những blogger, thi sĩ, tiểu thuyết gia, nhà phê bình, nhà văn trẻ—để họ tìm thấy tiếng nói của chính mình và kể lại sự thật của họ, dù đó là thử thách hay niềm vui. Bởi văn chương không phải là một thứ xa xỉ; đó là sự cần thiết. Đó là cách chúng ta chữa lành, cách chúng ta ghi nhớ, và là cách chúng ta tìm thấy nơi chốn của mình một cách trọn vẹn.

Xin cảm ơn quý vị.

NHẬN TIN QUA EMAIL
Vui lòng nhập địa chỉ email muốn nhận.