Hôm nay,  

Một Tượng Đài Cho Nạn Nhân CSVN?

11/06/201500:00:00(Xem: 6520)

Thứ Sáu này, 12/6/2015, ở Tượng-đài Nạn-nhân Cộng-sản ("Victims of Communism Memorial") lại có lễ kỷ-niệm trên 100 triệu nạn-nhân CS trên toàn-thế-giới. Đây là lần thứ 9 tượng-đài này được dùng như là chỗ quy tụ đại diện của rất nhiều quốc gia có mặt ở Hoa-kỳ mà đã từng kinh qua cái thảm-họa kinh khiếp là phong trào Cộng-sản ở trên thế-giới bắt nguồn từ Cách mạng tháng Mười ở Nga.

(Để có một khái-niệm về sự tàn-hại của CS, ta có thể lấy số người, cả lính lẫn dân-sự, chết trong Thế-chiến II -- 72 triệu người -- và so với con số nạn-nhân của CS, ta sẽ thấy là các đảng CS cộng lại đã tàn-hại gấp rưỡi lần một cuộc chiến-tranh nóng trên toàn-cầu, trong đó có cả hai trái bom nguyên-tử.)

Cũng như mọi năm, cộng-đồng Việt-nam sẽ có một số đại diện đến để tưởng-niệm các nạn-nhân của CSVN cùng chung với những đại diện Đông-Âu, Đông-Á (như Trung-quốc, Đại-Hàn, Tây-tạng, Duy-ngô-nhĩ--tức người Uighur ở Tân-cương, v.v.), Phi-châu, Nam-Mỹ. Đại diện cho Cộng-đồng VN vùng DC-MD-VA chắc hẳn sẽ là ông Đoàn Hữu Định, chủ-tịch Cộng-đồng, nhưng đáng chú ý nhất sẽ là phái-đoàn của các đồng-bào Huế năm nào cũng có vòng hoa đặt dưới chân tượng-đài làm theo mẫu của Nữ-thần Tự Do ở Thiên-an-môn (Bắc-kinh, Trung-hoa) vào năm 1986.

blank
Tượng-đài Nạn-nhân Cộng-sản. (Photo Wikimedia)

Khi được tin tôi và Dược-sĩ Nguyễn Mậu Trinh thế nào cũng có mặt hôm thứ Sáu tới đây, nhà báo Ngô Đình Vận, người chủ-trương mấy website Văn-hóa Nhân-bản Lạc Việt ở Cali, đã nổi hứng hỏi: "Anh nghĩ mình có thể làm một tượng-đài dành cho các nạn-nhân CSVN được không nhỉ?"

Tôi hỏi lại: "Tại sao không?"
"Captive Nations Week" (1949)

Sở dĩ vậy là vì, như tôi đã kể lại với anh Vận, dưới thời Tổng-thống Eisenhower ở Mỹ, vào năm 1949, các người Mỹ gốc Đông-Âu (mà một số nước đã rơi vào trong quỹ-đạo của Cộng-sản Liên-Xô như Ba-lan, Tiệp-khắc, Hung-gia-lợi, Ru-ma-ni, Albany, ba nước Baltic v.v.) đã tìm cách vận-động cho việc thành-lập Đài Âu-châu Tự Do (Radio Free Europe) và việc công-nhận một ngày gọi là "Captive Nations Week" ("Tuần lễ của các Quốc-gia bị cầm tù"). Việc vận-động cho "Captive Nations Week" lúc đầu đã gặp sự chống đối mãnh-liệt của ông George Kennan, lúc bấy giờ là đại-sứ của Mỹ ở Mạc-tư-khoa; ông cho rằng làm thế sẽ cản trở công việc làm của ông bên cạnh Điện Cẩm-linh (Kremli), đẩy Stalin vào thế thù nghịch và làm khó khăn những thương-thuyết đôi khi phải rất tế-nhị với đối-phương.

Nhưng rồi Quốc-hội Mỹ vẫn nghĩ là nước Mỹ cần đề cao lý-tưởng tự do của nước này và chấp nhận qua một nghị-quyết để cho các công-dân Mỹ gốc Đông-Âu có tuần lễ "Captive Nations Week" của họ. Về sau, vì có nhiều quốc gia khác nữa trên thế-giới rơi vào tay CS nên "Captive Nations Week" được đánh dấu, không phải chỉ bởi những người Mỹ gốc Đông-Âu mà còn cả những người tỵ nạn đến từ các quốc gia CS khác nữa. Chính cá-nhân tôi đã dự một số những buổi lễ của "Captive Nations Week" và cũng đã có lần nói chuyện tại đó.

Liên-đoàn Tự do ("Freedom Federation," 1980)

Miền Nam mất vào tay CS tháng Tư năm 1975. Sang Mỹ, tôi tham-gia ngay vào trong những cuộc vận-động cho tự do, độc-lập (của các nước họ) của "Captive Nations." Đến cuối năm 1980, Phong trào Đoàn Kết Ba-lan ("Solidarnośc") bị đàn áp, Tổng-liên-đoàn Lao-công Mỹ AFL-CIO muốn tỏ tình đoàn-kết liên-đới với Solidarnośc nên kêu gọi người đi biểu-tình ủng-hộ Công-đoàn Đoàn Kết Ba-lan. Hưởng-ứng thì phần lớn là người Đông-Âu; vào phút chót AFL-CIO mới nhìn ra là nếu chỉ có Đông-Âu ủng-hộ cho Ba-lan thì không đủ ý-nghĩa. Vào phút chót, anh Chris Gersten của AFL-CIO mới nghĩ ra là nên mời các nạn-nhân CS thuộc các quốc gia khác nữa. Anh hỏi quanh và có người giới-thiệu anh với tôi. Khi anh liên-lạc được với tôi, tôi liền hỏi lại: "Anh muốn chúng tôi tham-gia hả? Chúng tôi có bao nhiêu thời giờ để chuẩn-bị?" Anh bảo: "48 tiếng!" Tôi la ầm lên và quát lại: "Anh điên à? 48 tiếng là hai ngày. Anh nghĩ liệu chúng tôi có thể vận-động được bao nhiêu người trong hai ngày?" Chris xin lỗi: "Tôi biết là hấp tấp quá nhưng thôi, anh cứ cố gắng giùm, được bao nhiêu hay bấy nhiêu."

Tôi liền quay ra gọi những người bạn thân với tôi trong cộng-đồng VN ngày đó như Ngô Vương Toại, Phạm Dương Hiển v.v. Tôi cũng kêu cả những bạn Miên Lào của chúng ta ở trong vùng và khuyến khích họ mang thật nhiều cờ của quốc gia mình. Đến hôm biểu tình, người mình không đông (đã đành rồi) nhưng vì có mang theo nhiều cờ nên trông rất khí-thế. Các nhà báo, nhà quay phim thấy cờ lạ cũng chụp và cho đi trên truyền hình, trên mặt báo. Thế là người ta xôn xao hỏi nhau: "Nước nào vậy? Nhóm nào vậy?" Đến khi phim của USIS đưa ra về vụ biểu tình cũng xoáy một phần vào các cờ Việt-Miên-Lào, nhất là những lá cờ vàng ba sọc đỏ tung bay phấp phới.

Thấy sự thành công của lần động-viên đó, Chris Gersten liền quay ra mời một buổi họp để thành-lập "Freedom Federation" ("Liên-đoàn Tự do"). Khác với nhóm "Captive Nations" trong đó sự hiện diện áp-đảo là của các nước Đông-Âu, ngay từ đầu Freedom Federation đã có sự hiện diện của một số nước Á-đông, chủ-yếu là Việt-Miên-Lào. Trong buổi họp thành-lập Liên-đoàn, anh Phạm Dương Hiển đã có mặt cùng với tôi.

Phải nói, buổi đầu tôi cũng khá thất vọng. Nhìn quanh chỉ thấy có chúng tôi, nhóm Việt-Miên-Lào, là còn trẻ. Hầu hết những thành-viên kia đều đã ở tuổi 70-80, đầu tóc trắng xóa. Tôi, lúc bấy giờ mới hơn 30 một chút, tự nghĩ: "Nếu phải đợi tới tuổi của mấy ông già này thì coi bộ cuộc chiến đấu còn dài lắm." Mà lúc bấy giờ cũng chưa ai nghĩ tới sẽ có ngày CS Đông-Âu, rồi Liên-Xô, sẽ sụp đổ.

Thành-lập Đài Á-châu Tự do (RFA, Radio Free Asia)

Sau hơn hai năm tham-gia Liên-đoàn Tự do, một hôm tôi than với Chris Gersten: "Này Chris, tao chỉ thấy Liên-đoàn bàn chuyện Đông-Âu với Liên-Xô, chẳng có cuộc bàn bạc nào nói đến chuyện của chúng tao cả." Chris hỏi lại: "Thế các anh muốn gì?" Tôi bảo: "Thì tỷ dụ, chúng tao muốn có đài phát thanh về VN, như đài Âu-châu Tự do vậy." Chris nói: "Thế anh viết cho Liên-đoàn một bản dự-án về chuyện đó được không?"

Thế là tháng 11-1983, vào cuối tuần Lễ Tạ Ơn, tôi ngồi viết xuống giấy một tài-liệu sơ khởi về "Đài Á-châu Tự do" ("Radio Free Asia"). Tôi chỉ biết đủ để nói về nhu-cầu có một đài như vậy nhưng tôi không có khái-niệm gì về kỹ-thuật hay tài-chánh cần thiết cho một dự-án như Đài ACTD. Rất may, trong Liên-đoàn Tự do có Istvan Gereban (một chuyên-viên người Hung-gia-lợi) và Linas Kojelis (một chuyên-viên người Lithuania), hai người làm việc lâu năm ở Đài Tiếng Nói Hoa Kỳ (VOA, Voice of America), họ biết rất rõ những chi-tiết kỹ-thuật và tài-chánh cho một dự-án như tôi đề-nghị. Sau khi nghiên cứu tài-liệu của tôi, họ cung-cấp cho tất cả những chi-tiết tài-chánh và kỹ-thuật tôi cần để có được một cái dự-án đứng đắn và khả thi.

Câu chuyện trong chi-tiết thì rất dài nhưng chỉ cần nhắc là đến tháng 4 năm 1991, cuộc vận-động cho Đài ACTD đã đạt tới mức Nghị-hội cùng với tổ-chức Mỹ Council for the Defense of Freedom (của ông Jim Tysons) đã tổ-chức được một hội-nghị trên Quốc-hội Hoa-kỳ trong đó chúng tôi đã mời được bà Dân-biểu Helen D. Bentley (CH-Maryland) và ông Dân-biểu John Porter (CH-Illinois), hai người ủng-hộ việc thành-lập Đài ACTD. Thế là có khoảng 1/10 Dân-biểu QH ủng-hộ chuyện đó.

Từ đó, phía Việt-nam có thêm Tổng-liên-hội Người Việt Tự do (gồm mấy tổ-chức lớn của người Việt tự do ở Úc, Canada, Âu-châu và Mỹ) ra quyết-nghị ủng-hộ, rồi đến lượt Tổ-chức Phục Hưng và Ủy-ban Đông-dương vận-động cho Đài ACTD (do G.S. Nguyễn Thanh Trang lập ra và cầm đầu) vừa gây quỹ, vừa tổ-chức mấy chuyến lên vận-động trên Quốc-hội ở Washington.

Thấy sự ủng-hộ mạnh của cộng-đồng người Việt khắp nơi, một mặt Quốc-hội lập ra ủy-hội nghiên cứu (Congressional Commission) và mặt khác, Tổng-thống Reagan cũng lập ra ủy-hội của TT (Presidential Commission) nghiên cứu vấn-đề. Riêng tôi đã điều trần ở cả hai ủy-hội để khẳng-định sự ủng-hộ rất rộng rãi của người Việt khắp năm châu.

Và thế là đến đời Tổng-thống Bill Clinton, năm 1995 ông cho viết vào ngân-sách cho năm sau đúng một dòng (tiếng Anh gọi là "line item"): "$10 triệu để thành-lập Đài ACTD." Năm sau đài được thành-lập, tháng 9-1996 Đài bắt đầu phát thanh tiếng Quan-thoại vào Trung-hoa lục-địa và đến tháng 2-1997, Đài bắt đầu phát thanh vào VN. "And the rest is history," như người ta nói trong tiếng Mỹ.

Tượng-đài kỷ-niệm Nạn-nhân CS (2007)

Phải nói là ý-tưởng xây một tượng-đài kỷ-niệm Nạn-nhân Cộng-sản không có gì là mới mẻ cả. Các "Captive Nations" ở Đông-Âu đã chủ-trương việc này từ rất lâu, cũng đã xin được sự đồng-ý của Quốc-hội Mỹ nhưng rồi chẳng đi tới đâu vì không ai chịu bỏ tiền ra lập tượng-đài.

Phải đợi đến sau khi Đông-Âu và Liên-Xô sụp đổ (1989-1991), câu chuyện tượng-đài này mới được phục-hoạt. Theo một nguồn tin từ Hạ-viện Mỹ, việc chấp thuận cho tượng-đài đã xảy ra như sau: "Năm 1993, xác-nhận về 'cái chết của trên 100 triệu nạn-nhân trong một cuộc tàn-sát không tiền khoáng hậu của đế-quốc Cộng-sản,' Quốc-hội [Mỹ] đã cho phép xây dựng Kỷ-niệm-đài Nạn-nhân CS ở thủ-đô nước chúng ta, 'để cho không bao giờ nữa các quốc gia và dân-tộc trên thế-giới còn cho phép một bạo-quyền tệ-hại như vậy khủng-bố thế-gian." (In 1993, recognizing "the deaths of over 100,000,000 victims in an unprecedented imperial communist holocaust,'' Congress authorized the construction of the Victims of Communism Memorial in our Nation's capital, "so that never again will nations and peoples allow so evil a tyranny to terrorize the world.'') (Phát biểu của Dân-biểu Mark Souder, CH-Indiana, trước khoáng-đại Hạ-viện ngày 28/9/2004)

"Vào tháng 7 [năm 2003], tôi và 26 đại-biểu Quốc-hội khác đã viết cho ông chủ-tịch Ùy-hội Kỷ-niệm-đài ở Thủ-đô Quốc-gia (National Capital Memorial Commission), khuyến khích Ủy-hội hãy đồng-ý về việc chọn địa-điểm cho kỷ-niệm-đài [tức ở địa-điểm đầu đường New Jersey và Massachusetts, NW, Washington DC, như ta có ngày hôm nay]. Khi ít lâu sau, Ủy-hội họp để nghiên cứu đề nghị này, các công-dân đại diện cho nhóm người Mỹ gốc Baltic, người Mỹ gốc Việt và người Mỹ gốc Ba-lan đã lên tiếng ủng-hộ mạnh mẽ việc xây dựng kỷ-niệm-đài. Họ nhấn mạnh tầm quan-trọng của kỷ-niệm-đài không chỉ đối với cộng-đồng của họ để tưởng nhớ những người đã khổ đau dưới sự đàn áp của CS và còn đối với toàn-bộ nhân-dân Hoa-kỳ, nước đã chia xẻ cuộc chiến-đấu chống Cộng với họ."

Như vậy, tiếng nói của chúng ta rõ ràng là đã có trọng-lượng. Không những thế, đem hành-động gắn liền với lời nói, cộng-đồng VN vùng Hoa-thịnh-đốn với sự đốc thúc của cụ Giáp Ngọc Phúc, chủ-tịch Cộng-đồng hồi bấy giờ, và các anh chị em trẻ làm việc với chị Lữ Anh Thư của nhóm Hậu-duệ Đà-lạt, cộng-đồng chúng ta đã gây quỹ được 35 nghìn đô-la để cúng một món lớn đầu tiên vào quỹ xây dựng tượng-đài. Chính sau sự cúng dường này của cộng-đồng VN mà các nhóm dân-tộc khác mới giật mình và hối hận, họ mới bắt đầu lo tổ-chức liên-tiếp những buổi gây quỹ khác (như ở các tòa đại-sứ Ba-lan, Tiệp-khắc, Hung-gia-lợi v.v.) và các sứ-quán khác như Đại-Hàn, Đài-loan mới bắt đầu cúng những món tiền đáng kể để có thể khởi công xây cất tượng-đài. Rồi chính cộng-đồng VN lại có một buổi đại-hội nhạc gây quỹ khác ở Nam Cali để góp vào quỹ xây dựng tượng-đài. Kết-quả là mấy năm sau, vào ngày 12/6/2007, Tổng-thổng Bush cha đã có thể đến khai trương Tượng-đài Nạn-nhân Cộng-sản ở Washington, đặt một mốc mới cho cuộc đấu tranh chống Cộng của toàn-thế-giới, trong đó có người tỵ nạn VN chống Cộng là chúng ta!

Gửi ý kiến của bạn
Vui lòng nhập tiếng Việt có dấu. Cách gõ tiếng Việt có dấu ==> https://youtu.be/ngEjjyOByH4
Tên của bạn
Email của bạn
)
Tác phẩm Metamorphosis, tạm dịch Biến Dạng của Franz Kafka mở đầu bằng một trong những câu văn gây ám ảnh nhất trong văn học thế giới: khi Gregor Samsa thức dậy và phát hiện mình đã biến thành một con côn trùng khổng lồ. Không có lời cảnh báo, không có lời giải thích, không có sự chuẩn bị kịch tính nào. Cú sốc đến ngay lập tức – và đó là thiên tài của Kafka. Ông không dẫn dắt người đọc bước nhẹ nhàng vào cơn ác mộng của Gregor Samsa. Ông ném độc giả của ông thẳng vào đó, buộc chúng ta phải đối mặt với sự phi lý của sự tồn tại mà không có sự an ủi của logic hay lý trí.
Sự thật là nạn nhân không “bám theo ICE suốt cả ngày” như Kristi Noem đã nói. Cô bị bắn khoảng 9 giờ 30 phút sáng, trên đường quay về sau khi chở con trai cô đến trường học cách đó vài ngã tư đường. Hôm nay, tờ New York Times và Washington Post đã có video và bài phân tích chi tiết những gì xảy ra thông qua tất cả video nhân chứng ở hiện trường. Hai tờ báo lớn chỉ ra mỗi phát súng của đặc vụ ICE bắn ra ở góc độ nào, có thật sự vì gặp nguy hiểm tính mạng hay không.
LTS: Biến cố Venezuela sau vụ bắt giữ Nicolás Maduro đang làm rúng động toàn vùng Nam Mỹ. Trong bối cảnh ấy, bà Delcy Rodríguez, 56 tuổi, vốn là phó tổng thống dưới thời Maduro, đã được Tòa án Tối cao và quân đội Venezuela đưa lên nắm quyền lâm thời. Bà cũng là một nhân vật từng được Washington ngỏ ý đối thoại trước đây. Sự kiện này đặt ra câu hỏi: Phải chăng đó là bước đầu của sự "chuyển quyền trong nội bộ," hay chỉ là hồi kế tiếp của cùng một vở tuồng?
Cuộc tấn công và bắt sống vợ chồng Tổng thống Nicolás Maduro ngay trên lãnh thổ Venezuela trong ngày cuối tuần đã trở thành một sự kiện chính trị thế giới hàng đầu khi bước vào năm mới 2026 này. Trong khi những đồng minh của Donald Trump ca ngợi và ủng hộ chiến dịch quân sự này thì ngược lại, một số câu hỏi cũng đã được đặt ra là, liệu một cuộc tấn công quân sự vào Venezuela, một quốc gia không mang tính đe dọa trực tiếp và hiển hiện đến an ninh quốc gia Hoa Kỳ, có được thông báo và sự chuẩn thuận của Quốc Hội Hoa Kỳ theo hiến pháp? Cũng như một chiến dịch quân sự và bắt sống một nguyên thủ quốc gia khác trên lãnh thổ một quốc gia có chủ quyền như Venezuela có đúng với nguyên tắc ngoại giao và công pháp quốc tế hay không?
Người đàn ông lê những bước chân nặng nề giữa hai triền núi mù sương. Gió và bụi cát làm mái tóc dài của ông ta rối bời. Chiếc khăn choàng và áo măng-tô có vẻ không đủ ấm, nên gương mặt hốc hác, mệt mỏi, lấm lem những vết đen như vừa chui ra từ mỏ than. Rồi ngay sau đó, ông ta xuất hiện trong một quán nước, ngồi bên chiếc bàn có ly trà nóng bốc khói nghi ngút trên tay, mắt nhìn xa xăm ra cửa. Một tiếng hát khàn, đục, nặng như những vách núi hai bên đường ông ấy đang đi, vang lên.
Sau khi bài “Chúng Ta Sống Sót” đăng tuần qua, Việt Báo nhận được nhiều hồi âm hơn thường lệ: tin nhắn, điện thoại, thư điện tử. Có người quen, có độc giả chưa từng gặp. Nội dung không khác nhau mấy. Phần lớn là sự đồng cảm. Có người nói đọc xong thấy nhẹ lòng, vì biết mình không phải là kẻ đơn độc nghĩ như thế. Có người gửi lời cảm kích khi có người nói hộ tiếng nói lòng mình. Nhưng điều đáng chú ý không nằm ở nội dung, mà ở cách người ta nhắn gửi hồi âm. Tất cả đều chọn nói riêng. Không bình luận công khai. Không chia sẻ kèm ý kiến. Họ đi bằng “cửa hậu”. Lý do dễ hiểu: không muốn bàn chuyện chính trị nơi công cộng, nhất là trên mạng xã hội — nơi một câu nói có thể bị chụp mũ nhanh hơn tốc độ người ta kịp giải thích mình muốn nói gì.
Năm 2025 đi qua trong chiếc bóng của Donald Trump. Vị tổng thống ồn ào này, với cách hành xử phá bỏ mọi khuôn thước, đã làm xoay chuyển trật tự thế giới: khiến các nền kinh tế lên cơn sốt, nhưng cũng đẩy đồng minh Âu châu phải chi nhiều hơn cho quốc phòng. Bước sang 2026, khi “cơn lốc Trump” vẫn còn cuộn, đây là mười điều đáng dõi theo.
Năm 2025 đang khép lại. Không tổng kết. Không lời ca tụng. Chỉ lặng lẽ như một người vừa đi qua nhiều mất mát — chẳng còn hơi sức nói thêm điều gì. Nhìn lại — năm 2025 không dạy ta cách thắng, mà dạy ta cách không ngã gục. Chúng ta sống sót — vì thói quen nhiều hơn hy vọng. Quen giá cả leo nhanh hơn đồng lương. Quen nhìn nhau bằng ngờ vực hơn cảm thông. Quen tin dữ đến sớm hơn cà phê sáng. Quen mỗi ngày đều phải chọn một nỗi lo để mang theo, bởi không ai ôm nỗi chừng ấy đổ vỡ vào lòng cùng lúc.
Con người ở bất cứ nơi nào trên thế giới cũng có quyền được hạnh phúc và tạo ra hạnh phúc. Nó giống như dưới bầu trời có thể xảy ra trận không kích bất cứ lúc nào, dù ngày hay đêm, nhưng người Ukraine vẫn có thể khảy lên tiếng đàn Bandura. Một năm qua, ai trong chúng ta không mệt mỏi với những dòng chảy đầy bụi bặm, thoát ra từ một gánh xiếc nghiệp dư, mang theo những chất dơ của hận thù, ích kỷ, tham vọng, độc tài. Những ngày cuối cùng của năm 2025, hãy nói về Lửa Và Tro (Avatar: Fire and Ash), thưởng thức siêu phẩm giả tưởng của James Cameron, để cùng khép lại một năm ngộp thở của nước Mỹ, và cùng chiêm nghiệm một điều mà nước Mỹ đang cố tình lãng quên.
Mùa Giáng Sinh này, khi chúng ta chúc nhau an lành, hòa bình và thiện chí, có lẽ ta biết rõ hơn bao giờ hết, mình sẽ là người mở cửa quán trọ hay là Herod của thời đại mới? Khi đó, chúng ta sẽ hiểu — Chúa ở bên ai trong mùa Giáng Sinh này.



Kính chào quý vị,

Tôi là Derek Trần, dân biểu đại diện Địa Hạt 45, và thật là một vinh dự lớn lao khi được đứng nơi đây hôm nay, giữa những tiếng nói, những câu chuyện, và những tâm hồn đã góp phần tạo nên diện mạo văn học của cộng đồng người Mỹ gốc Việt trong suốt một phần tư thế kỷ qua.
Hai mươi lăm năm! Một cột mốc bạc! Một cột mốc không chỉ đánh dấu thời gian trôi qua, mà còn ghi nhận sức bền bỉ của một giấc mơ. Hôm nay, chúng ta kỷ niệm 25 năm Giải Viết Về Nước Mỹ của nhật báo Việt Báo.

Khi những người sáng lập giải thưởng này lần đầu tiên ngồi lại bàn thảo, họ đã hiểu một điều rất căn bản rằng: Kinh nghiệm tỵ nạn, hành trình nhập cư, những phức tạp, gian nan, và sự thành công mỹ mãn trong hành trình trở thành người Mỹ gốc Việt – tất cả cần được ghi lại. Một hành trình ý nghĩa không những cần nhân chứng, mà cần cả những người viết để ghi nhận và bảo tồn. Họ không chỉ tạo ra một cuộc thi; họ đã và đang xây dựng một kho lưu trữ. Họ thắp lên một ngọn hải đăng cho thế hệ sau để chuyển hóa tổn thương thành chứng tích, sự im lặng thành lời ca, và cuộc sống lưu vong thành sự hội nhập.

Trong những ngày đầu ấy, văn học Hoa Kỳ thường chưa phản ánh đầy đủ sự phong phú và đa dạng về kinh nghiệm của chúng ta. Giải thưởng Viết Về Nước Mỹ thực sự đã lấp đầy khoảng trống đó bằng sự ghi nhận và khích lệ vô số tác giả, những người đã cầm bút và cùng viết nên một thông điệp mạnh mẽ: “Chúng ta đang hiện diện nơi đây. Trải nghiệm của chúng ta là quan trọng. Và nước Mỹ của chúng ta là thế đó.”


Suốt 25 năm qua, giải thưởng này không chỉ vinh danh tài năng mà dựng nên một cộng đồng và tạo thành một truyền thống.
Những cây bút được tôn vinh hôm nay không chỉ mô tả nước Mỹ; họ định nghĩa nó. Họ mở rộng giới hạn của nước Mỹ, làm phong phú văn hóa của nước Mỹ, và khắc sâu tâm hồn của nước Mỹ. Qua đôi mắt họ, chúng ta nhìn thấy một nước Mỹ tinh tế hơn, nhân ái hơn, và sau cùng, chân thật hơn.

Xin được nhắn gửi đến các tác giả góp mặt từ bao thế hệ để chia sẻ tấm chân tình trên các bài viết, chúng tôi trân trọng cảm ơn sự can đảm của quý vị. Can đảm không chỉ là vượt qua biến cố của lịch sử; can đảm còn là việc ngồi trước trang giấy trắng, đối diện với chính mình, lục lọi ký ức đau thương sâu đậm, và gửi tặng trải nghiệm đó đến tha nhân. Quý vị là những người gìn giữ ký ức tập thể và là những người dẫn đường cho tương lai văn hóa Việt tại Hoa Kỳ.

Với Việt Báo: Xin trân trọng cảm ơn tầm nhìn, tâm huyết, và sự duy trì bền bỉ giải thưởng này suốt một phần tư thế kỷ.
Khi hướng đến 25 năm tới, chúng ta hãy tiếp tục khích lệ thế hệ kế tiếp—những blogger, thi sĩ, tiểu thuyết gia, nhà phê bình, nhà văn trẻ—để họ tìm thấy tiếng nói của chính mình và kể lại sự thật của họ, dù đó là thử thách hay niềm vui. Bởi văn chương không phải là một thứ xa xỉ; đó là sự cần thiết. Đó là cách chúng ta chữa lành, cách chúng ta ghi nhớ, và là cách chúng ta tìm thấy nơi chốn của mình một cách trọn vẹn.

Xin cảm ơn quý vị.

NHẬN TIN QUA EMAIL
Vui lòng nhập địa chỉ email muốn nhận.