Hôm nay,  

Nam Sơn Trần Văn Chi và sách: Haven of Love and Truth

22/12/202416:34:00(Xem: 8384)

blankHình từ phải: Nhà văn Nam Sơn Trần Văn Chi cầm ấn bản tiềng Anh, và nhà thơ Lê Giang Trần, người dàn trang cho sách này.(Photo: PTH)


Nam Sơn Trần Văn Chi và sách:
Haven of Love and Truth
 
Cuốn "Tình Nghĩa Giáo Khoa Thư" được một Sư cô dịch sang tiếng Anh
 

Phan Tấn Hải
 

Các bạn cao niên hẳn còn nhớ tới cuốn sách học từ thời thơ ấu, "Quốc Văn Giáo Khoa Thư" mà nhiều thế hệ cao niên từng học thời tiểu học ở Việt Nam?
 

Nhà văn Nam Sơn Trần Văn Chi trong bài viết năm 2004 nhan đề "Sau 50 Năm Đọc Lại Quốc Văn Giáo Khoa Thư" ghi nhận rằng:
 

"Những ai, trong chúng ta, ở độ tuổi 60 trở về trước, hẳn còn nhớ bộ sách Quốc Văn Giáo Khoa Thư ( QVGKT) ; Có thể đã từng đọc qua hoặc đã nghe đâu đó kể, hoặc đọc qua một vài đoạn, vài bài trong đó. Đã nửa thế kỷ qua đủ để chúng ta quên nó. Và đủ để chúng ta nhớ nó; nhưng dù thế nào nay đọc lại cũng gây cho chúng ta ít nhiều hoài niệm về thời thơ ấu. Thời mà ngày hai buổi cấp sách đến trường, thời ăn chưa no, lo chưa tới của tuổi học trò.
Trong buổi sơ khai của chữ quốc ngữ (không phải chữ Hán, chữ Tây), bộ QVGKT là bộ sách giáo khoa, do nhà nước Pháp, mà trực tiếp là Nha Học Chánh Đông Pháp, giao cho quí ông Trần Trọng Kim, Nguyễn Văn Ngọc, Đặng Đình Phúc và Đỗ Thận cùng biên soạn. Bộ QVGKT gồm có 3 quyển:
- Quyển dành cho lớp Đồâng Ấu ( Cours Enfantin) là quyển dạy về luân lý (Morale) qua các bài tập đọc và tập viết.
- Quyển dành cho lớp Dự Bị ( Cours Préparatoire)
- Và quyển dành cho lớp Sơ Đẳng ( Cours Elementaire).
Hai quyển Dự Bị và Sơ Đẳng gồm các bài tập đọc (lecture), chứa đựng nội dung bao gồm : Sử ký, Địa Dư, Cách trí, Vạn vật, Vệ Sinh, Đạo Đức, Gia Đình...
Chưa có dịp tìm một cách chính xác xem coi bộ QVGKT xuất bản đầu tiên năm nào, nhưng theo bản mà chúng tôi đọc, xuất bản năm 1939 thì đã in lần thứ mười ba. Như vậy án chừng sách xuất bản đầu tiên vào những năm đầu thế kỷ 20.
QVGKT là bộ sách giáo khoa đầu tiên của Việt Nam, dành cho học trò cấp Sơ Đẳng ( Cấp I, Tiểu học ngày nay) từ Bắc vào Nam. Tuy là sách do thực dân Pháp chủ trương nhưng thực tình mà nói nó có giá trị giáo dục, Sư Phạm rất cao, mà tới nay chưa có bộ giáo khoa Việt Nam nào bì kịp ; dù trong đó có dấu ấn chính trị thực dân ! Mỗi bài trong sách đều có hình vẽ, theo lối tranh khắc trên gỗ, nét vẽ chân phương phản ảnh nội dung chứa đựng trong bài gây ấn tượng mạnh đối với đọc giả tí hon và người lớn nữa.
Các tác giả viết rất dễ hiểu, đơn giản câu văn ngắn, dùng chữ gợi hình, gần gũi với tuổi thơ Việt Nam.
Cuối bài, tác giả tóm lại ý nghĩa bằng một câu "toát yếu", mang tánh giáo dục về đạo đức, luân lý, như là mặc nhiên, không cần giải thích." (ngưng trích)
   

Và rồi học giả Trần Văn Chi viết một loạt bài ghi nhận, phân tích về sách QVGKT. Các bài đó đã được dịch sang tiếng Anh để những thế hệ sau khi nghiên cứu về cội nguồn sẽ biết rằng thế hệ cha mẹ của họ đã học trong bầu không khí nhân văn như thế nào.
 

Bản tiếng Anh nhan đề là "Haven of Love and Truth" chuyển ngữ bởi Sư cô Liên Nha, bút hiệu là Huyền Trí. Sách này đã lưu hành trên mạng Amazon, và có thể mua tại


 
Nhà sách Tự Lực
14318 Brookhurst St, Garden Grove, CA 92843 -
Phone: 888- 204-7749

 
Sách dày 346 trang. Nhiều hình ảnh hiếm quý của một thời rất xa xưa. Độc giả có những câu hỏi quan tâm có thể liên lạc trực tiếp với tác giả: [email protected] .
 

Cũng nên nhắc rằng, ấn bản tiếng Việt nhan đề đã được nhà văn Nam Sơn Trần Văn Chi lưu hành và ra mắt hồi tháng 8/2014.

Lúc đó, nhà văn Nam Sơn Trần Văn Chi thực hiện buổi ra mắt 3 tác phẩm văn học miền Nam
1. Tình Nghĩa Giáo Khoa Thư
2. Triều Nguyễn và Công Cuộc Mở Đất Phương Nam
2. Hương Vị Ngày Xưa và Món Ngon Miền Nam
vào ngày 4 tháng 8/2024 tại Nhà Sách Tự Lực.

 
Nhà văn Trần Văn Chi tốt nghiệp Đại Học Sư Phạm Sài Gòn ban Sử-Địa khóa 1964-1968, là tổng thư ký Hội Liên Trường Petrus Ký, Nguyễn Đình Chiểu, và Phan Thanh Giản trước 1975. Ông là giảng viên, tổng thư ký Đại Học Hòa Hảo trước 1975. Hiện định cư tại Hoa Kỳ với bút hiệu Nam Sơn Trần Văn Chi, chuyên biên khảo về văn hóa xã hội, phong tục Việt Nam, văn phong tiêu biểu lối văn “bác học miền Nam,” với khoảng 10 đầu sách đã xuất bản.
 

Theo Giáo sư Nguyễn Trung Quân trong một bài viết năm 2017: "Nhà văn Trần Văn Chi là người lớn lên trong hoàn cảnh lịch sử Việt Nam có nhiều khó khăn nên tác giả đã hoạt động tích cực trong ngành văn hóa giáo dục. Tác giả từng là người vận động góp công xây dựng nền đại học quốc gia như Đại Học Cần Thơ, Đại Học Hòa Hảo. Trong phạm vi văn hóa giáo dục, ông thể hiện được sứ mạng của người cầm bút, luôn viết về văn hóa miền Nam, một nền văn hóa nhân bản, hòa ái, nêu cao những tính chất của con người miền Nam."
 

Nhà văn Nam Sơn Trần Văn Chi trong buổi ra mắt 3 tác phẩm hồi tháng 8/2024 đã tâm sự: "Bất cứ ai đọc vài bài trong cuốn ‘Tình Nghĩa Giáo Khoa Thư’ đều thấy có mình ở trong đó, cảm thấy tình cảm quê hương rất tự nhiên không cần tô vẽ gì thêm, như trong bài ‘Chỗ Quê Hương Đẹp Hơn Cả’ (trang 133), ai đọc cũng hiểu thế nào là quê hương. Nhất là khi qua xứ người mới thấy thú vị chứ nếu ở trong nước thì chắc tôi không viết được như vậy."
 

Tác giả Trần Văn Chi cũng giải thích về cơ duyên được Sư cô dịch sang tiếng Anh: “Thật ra cuốn ‘Tình Nghĩa Giáo Khoa Thư’ này tôi viết từng bài ở trang Văn Học Nghệ Thuật trên nhật báo Người Việt hàng tuần lúc trước. Hồi đó phải viết tay rồi nhờ người đánh máy, sau này tôi tự tập đánh máy rồi gởi bài qua tòa soạn. Đây là cuốn sách đắc ý nhất lần thứ ba được in lại ở Mỹ, có chỉnh sửa lỗi sai sót trong hai ấn bản 2005-2006 và có thêm hình ảnh minh họa theo bài. Điều tâm đắc ở đây là sau khi cuốn sách này, do nhà xuất bản Sống ấn hành 2024, ra đời, nó được một sư cô đọc qua và rất thích nên đã phát tâm dịch sang tiếng Anh. Sư cô đang làm thủ tục đưa qua Thư Viện Quốc Hội Hoa Kỳ để làm tài liệu tham khảo về văn hóa Việt Nam thời đó.”
 

Dịch giả đó là Sư cô Liên Nha, bút hiệu là Huyền Trí, và bản tiếng Anh bây giờ đã có bán ở Nhà sách Tự Lực, hay là trên mạng Amazon:
https://www.amzn.com/B0DKC5VQVF 






Gửi ý kiến của bạn
Vui lòng nhập tiếng Việt có dấu. Cách gõ tiếng Việt có dấu ==> https://youtu.be/ngEjjyOByH4
Tên của bạn
Email của bạn
)
Bài thơ như một tự truyện kể về mối tình của người con gái trong tuổi chớm yêu khi nàng tình cờ gặp chàng mà nàng nghĩ rằng nàng và chàng như đã có nhau từ trăm năm trước hay trong nhiều thế kỷ trước. Nàng như thấy rõ hình ảnh xa xưa trong tiềm thức của nàng là nàng đã từng nhận và cũng đã từng trả hết mối chân tình của chàng nơi đất xưa khi nàng còn là một cành hoa Nguyệt Quế.
Trong thời gian qua, các vụ tấn công người Mỹ gốc Á tại Hoa Kỳ vì sự thù ghét và kỳ thị chủng tộc đã gia tăng đến mức báo động.Làn sóng kỳ thị người Mỹ gốc Á bùng phát mạnh mẽ từ khi có đại dịch vi khuẩn corona vào đầu năm 2020 qua cách sử dụng từ ngữ của chính phủ Trump khi nói tới đại dịch vi khuẩn corona, chẳng hạn như gọi đó là “Chinese Virus” hay “Kung Flu,” đã kích động lòng thù hận đối với người Mỹ gốc Á.
Thiền sư Seigan Shōtetsu (1381-1459) là một trong vài người làm thơ nhiều nhất trong thi giới Nhật Bản. Chính xác, chúng ta không biết nhà sư đã sáng tác bao nhiêu bài thơ. Nhưng nhà sư kể lại trong một lá thư rằng vào tháng 4 của năm 1432, ngôi lều của nhà sư bốc cháy trong đêm, thiêu rụi mọi thứ trong lều và toàn bộ những bài thơ nhà sư đã sáng tác từ năm 20 tuổi, tất cả là 27,000 bài thơ trong 30 tập. Lúc đó Thiền sư 51 tuổi. Bây giờ, bộ sưu tập thơ Shōkonshū của Shotetsu còn khoảng 20,000 bài thơ. Thơ của Shotetsu không làm theo thể haiku như đời sau. Thể thơ haiku hình thành vào thế ký thứ 17, dưới chiếc dù ảnh hưởng của các nhà thơ Matsuo Bashō (1644–1694) và Uejima Onitsura (1661–1738), định hình từ thể thơ hokku, chuyển từ thể thơ haikai hay renku. Thơ của nhà sư Seigan Shōtetsu (tên ngài có thể phiên âm là: Thanh Nham Chính Triệt) sáng tác vài thế kỷ trước đó, thường cũng là ngắn, nhưng không chính xác ở khổ 3 dòng và 17 âm như haiku.
Bài viết này gửi tới bà Tú Xương Thu Hồng như một nén nhang tưởng nhớ vào ngày ra đi của Chị và gửi tới nhà văn Nguyễn Đình Toàn tác giả Mật Đắng như một lời phân ưu, khi anh đã bước vào tuổi 85 gần như một phép lạ.
Lawrence Ferlinghetti, nhà thơ, nhà xuất bản, họa sĩ và nhà hoạt động chính trị là người đồng sáng lập tiệm sách nổi tiếng City Lights tại thành phố San Francisco và trở thành biểu tượng của thành phố này, đã qua đời ở tuổi 101, theo bản tin của báo The Guardian tường thuật hôm 23 tháng 2 năm 2021. Theo The Guardian, nhà thơ Ferlinghetti đã qua đời tại tư gia vào tối Thứ Hai, 22 tháng 2 do bệnh liên quan tới phổi. Ông là nhà thơ thuộc Thế Hệ Beats (Beat Generation) vào giữa thập niên 1950 ở Mỹ. Đây là thế hệ chịu ảnh hưởng sâu sắc Thiền và tư tưởng Phật Giáo. Qua nhiều năm ông đã xuất bản nhiều tác phẩm của các nhà văn và nhà thơ thuộc Thế Hệ Beats như Allen Ginsberg, Jack Kerouac, Gregory Corso, William S. Burroughs, Diane diPrima, Michael McClure, Philip Lamantia, Bob Kaufman, và Gary Snyder. Tác phẩm nổi tiếng nhất của ông “A Coney Island of the Mind,” do New Directions xuất bản vào năm 1958, là một tuyển tập thơ đã được dịch sang 9 thứ tiếng và bán ra hơn một triệu bản.
Vậy là tác giả “Mật Đắng” của chúng ta đã trở thành góa bụa. Tôi không nghĩ trong đầu ông, trong tim ông, trong cõi lòng già nua héo úa của ông, có giây phút nào nghĩ đến rồi đây mình có thể thành “góa bụa”.
Sử truyện kể rằng ở nước Đại Việt vào thời Nhà Trần, có vị minh quân đã hai lần đánh bại đoàn quân viễn chinh hung hãn của Hốt Tất Liệt, người Mông Cổ sáng lập và cai trị nhà Nguyên ở Trung Hoa. Nhưng vị minh quân này đã không ở ngôi cửu trùng để tế thế an bang bằng con đường chính trị của bậc đế vương mà khoác áo nâu sòng xuất gia đầu Phật và sáng lập ra dòng Thiền Trúc Lâm để đem giáo pháp giác ngộ của Phật Đà giải khổ cho muôn vạn chúng sinh. Vị minh quân và tổ sư ấy chính là Điều Ngự Giác Hoàng Trần Nhân Tông. Ngài cũng là nhà thơ kiệt xuất để lại nhiều áng thơ văn trác tuyệt đóng góp cho nền văn học nước nhà. Hơn bảy thế kỷ sau khi Tổ Sư Trần Nhân Tông viên tịch, có một nhà thơ Việt ở gần tuổi ‘xưa nay hiếm’ (thất thập cổ lai hy) sống tha hương nơi xứ người mà tất dạ lúc nào cũng không rời cái nôi văn hóa và văn học của dòng giống Lạc Việt nên đã ngày đêm chuyên cần dịch thơ chữ Hán của Tổ Sư ra tiếng Việt để cho con cháu đời sau nhớ lấy di sản của tiền nhân.
Câu thơ cuối đối với tôi là câu thơ hay nhất "Rất hồn nhiên đụng cái mịt mù…" . Bỗng dưng làm tôi nhớ câu thơ hóm hỉnh của Mai Thảo "Đặt tay vào chỗ không thể đặt... Cười tủm còn thương chỗ đặt nào".
Hình ảnh chiếc thuyền không, ghếch mình lên cát chính là ẩn dụ “qua sông bỏ bè” được nói trong kinh Phật (2). Nhìn chiếc thuyền mà man mác hoài niệm cổ nhân một thời. Hoài niệm ở đây không phải là nỗi buồn thông thường của thế nhân. Chỉ là cảm khái về một hành trạng, một tâm thức xả ly siêu tuyệt tương ứng với sở hành sở đắc của tự thân.
NHẬN TIN QUA EMAIL
Vui lòng nhập địa chỉ email muốn nhận.