Hôm nay,  

Han Kang: The White Book – Hành Trình Trắng

24/10/202500:00:00(Xem: 1996)
The White Book Cover 

“Những vòng hoa sương trôi ngang thành phố
Những bông tuyết xoay giữa tầng không
Tôi nghĩ làm sao tôi có thể dâng cho chị
những giấc trắng…”
 
(Han Kang -- từ bản Anh ngữ của Deborah Smith, 2017.)
 
***

Khăn quấn. Áo sơ sinh. Muối. Tuyết. Băng.

Năm vật trắng - năm tiếng gọi đầu tiên - đặt lên trang giấy như một chuỗi hạt. Trong tay Han Kang, chúng vừa là dấu hiệu khởi sinh, vừa là định mệnh. Đứa trẻ chưa kịp sống đã được bọc trong khăn trắng, và cũng chính khăn quấn ấy trở thành tấm liệm. Trắng ở đây không phải nền sáng, mà là sự trống vắng ngân nhịp toàn cuốn sách.

Han Kang, nhà văn Hàn Quốc được biết nhiều qua The Vegetarian, tác phẩm đã đem về cho bà giải Nobel Văn chương năm 2024, xuất hiện trong văn học thế giới như một cơn gió lớn. Nhưng  The White Book mới là tác phẩm tôi rất yêu của Bà – những dòng chữ lặng mà sáng, mong manh mà bám riết.

Như tên gọi, The White Book không ồn ào, không gây tranh luận, chậm rãi và kiên nhẫn như hạt sương mai, như làn khói loãng tan trong không khí. Chính cái lặng ấy đưa người đọc đến nơi sâu thẳm: nỗi mất mát không kịp có hình thù, không kịp thành ký ức, nhưng vẫn ở đó, dai dẳng như khoảng trắng trên trang giấy.

Cuốn sách không kể cốt truyện nào, mà như một tập ghi chú, trong đó khoảng trắng giữa chữ cũng quan trọng không kém những hàng chữ. Poetry School gọi đó là “nhật ký-phác thảo”, những mảnh ý tưởng  tạo ra một bản thảo, nơi từng con chữ là những giải khăn sô trắng phủ lên vết thương -  không để chữa lành, mà để nỗi đau có không gian thở. Translating Women gọi cuốn sách này là một “bài cầu nguyện” – chẳng phải để cầu xin điều gì, mà để mở ra một khoảng lặng, nơi hai chị em có thể gặp nhau.

“Em nhìn mọi thứ khác đi khi em nhìn bằng đôi mắt chị.
Em bước khác đi khi bước trong cơ thể chị.
Em muốn chị nhìn thấy những gì tinh khiết, trong lành –
trước khi bạo tàn, buồn bã, tuyệt vọng, nhơ nhớp, khổ đau thành hình –
những điều tinh khiết dành riêng cho chị...”

Ở đó, The White Book mở ra không chỉ như một nỗi tưởng niệm, mà như cuộc đối thoại kéo dài giữa người sống và người chị đã khuất. Mỗi trang viết là một cách “sống thay” – sống để nhớ, sống để trao lại cho người chị chưa kịp thấy ánh sáng mặt trời một phần đời dịu dàng tinh khiết mà chị đúng ra phải được sống.

Mất mát trong The White Book không đơn lẻ. Bên cạnh người chị sơ sinh chưa qua hai giờ sống thấp thoáng bóng bạn bè, người thân, những mất mát lặng lẽ khác trong cuộc đời. Tang chế ở đây không phải một nốt đơn, mà là hợp âm nhiều tầng, lặng mà dày, trống mà đầy. Thành phố nơi Han sống – Warsaw – với vết thương chiến tranh và mùa đông phủ tuyết – trở thành phông nền cho cuốn sách. Những con đường mù sương, ánh sáng lạnh, bầu trời xám, tất cả đan cài vào bản đồ tâm tưởng của bà. Han chọn sống tách biệt trong thành phố xa lạ ấy như một hành giả, để nghe màu trắng trong cô đơn, để thiền với những mất mát của chính mình; biến Warsaw thành một “vùng phủ trắng” cho ký ức hiện diện. Tờ The Guardian gọi đó là một “psychogeography of grief”: nỗi đau bàng bạc giữa không gian, lịch sử và ký ức.


Trong tiếng Hàn, có chữ trắng của trong sáng và thanh khiết하얀 và chữ trắng của u buồn, chết chóc희다. Han Kang chọn chữ thứ hai, sắc màu vừa sáng vừa u ám, và để nó bao trùm toàn bộ cuốn sách. Nhưng văn phong của bà tuy vậy không bi lụy, mà vừa đủ tiết chế, như một lớp gạc phủ lên vết thương: không che giấu nỗi đau, cũng không định hóa giải, mà để người đọc nhìn xuyên qua, đủ gần để chạm vào mà không bật khóc. Có người bảo văn bà “kiệm lời”, rút gọn đến mức chỉ còn những nhịp thở, có lẽ cũng chính vì sự tiết chế ấy mà người đọc nghe được chính nhịp tim, mạch máu dưới da, và nghe cả tiếng cười – nụ cười trắng, đẹp, mong manh, ám ảnh.

Nếu màu trắng có âm thanh, thì trong The White Book, đó là thứ âm thanh lặng. Dashiel Dashiel Carrera – trong bài viết về The White Book – từng sánh nó với white noise, thứ âm nền dành cho những người mất ngủ, chứa mọi tần số nên rốt cuộc nuốt chửng mọi tiếng động khác trong đêm. Mất mát cũng vậy: nó hiện diện khắp nơi, bao gồm mọi cung bậc. Khi quá đầy, quá đau, nó trở thành phông nền, như lớp tuyết phủ dấu chân mình vừa in lên. Khi quay lại, ta thấy dấu vết đã biến mất – nhưng chính sự biến mất ấy là bằng chứng hiện hữu. Sự ồn ào quá độ, cũng như nỗi đau lặp lại, cuối cùng tan vào nền trắng – từ đó mọi sắc màu khác được pha chế.

Trắng trong Han Kang không còn là ánh trăng trải trên sông – làn mây tan loãng trên triền núi –  hơi nước bốc lên từ một tách trà – nơi mọi đường viền mờ đi trước khi tan biến. Nó là màu của tâm linh: “After white clothes dissolve into the air this way, a spirit will wear them.” Tạm dịch: “Khi y phục trắng tan vào không trung, linh hồn sẽ khoác nó vào.”  Màu trắng vì vậy, vừa là khoảng trống, vừa là ánh sáng - nhịp cầu nối giữa thân xác và linh hồn, giữa đời sống và mất mát.

Khi những mảnh trắng gặp nhau trên trang giấy, chúng chỉ về cùng một nơi: sự quá nhiều đến mức tan rã, sự trống rỗng đến mức đầy tràn. Han không trao câu trả lời. Bà chỉ đặt người đọc vào vùng tuyết rơi, để nhìn dấu chân mình biến mất. Và trong giây phút ấy, ta biết mình đã đi qua – biết rằng có một sự vắng mặt vẫn đang ở lại, mong manh như ánh trăng, mờ ảo nhưng không bao giờ tan biến – trong cuộc hành trình trở về màu trắng.

“I hope you will be able to live in this world”
(Em mong chị có thể sống trong thế gian này).
 
Nina Hòa Bình
 
Nguồn Tham khảo:
The Guardian; TLS; Poetry School; Translating Women (University of Exeter); World Literature Today; 3:AM Magazine; Jed Leah Henry, Los Angeles Review of Books, Dashiel Carrera.

Gửi ý kiến của bạn
Vui lòng nhập tiếng Việt có dấu. Cách gõ tiếng Việt có dấu ==> https://youtu.be/ngEjjyOByH4
Tên của bạn
Email của bạn
)
Tôi gấp sách lại ở “Phần IV – Thơ” quyển “Trịnh Y Thư – Văn chương Nghệ thuật và Những điều khác”. Dừng lại để ngẫm xem những gì còn đọng lại trong đầu kể từ chương I cho đến hết chương III...
Văn của Tiểu Lục Thần Phong có gì? Có bút lực mạnh, có hồn văn buồn, có câu chữ lắng đọng một thứ dư vị rất riêng.
không tự dưng thành tên gọi Ngô Tịnh Yên. nhất là, sáng tạo một khuôn lục bát riêng ngô tịnh yên. giống như, một tinh tú bay cô độc âm thầm hoang liêu tịch mịch trở thành định tinh rực rỡ ánh sáng quyến rũ. tự chứng một dấu ấn, mà, như vũ thuật, khi thi triển, võ giới biết ngay người chưởng môn thành lập môn phái nào, như lục bát bùi giáng... – đặc thù,
Sử gia Ấn Độ Shashank Shekhar Sinha đã thách thức lý thuyết được chấp nhận rộng rãi rằng Phật giáo đã biến mất từ thế kỷ 13 ra khỏi Ấn Độ, nơi Phật giáo ra đời. Trong cuốn sách mới nhất của ông, nhan đề "Casting the Buddha: A Monumental History of Buddhism in India" (NXB Macmillan, New Delhi, 2024), Sinha chỉ ra rằng người Ấn Độ đã có những cuộc tranh luận về giáo lý của Phật giáo và đã đón nhận nhiều giáo lý trong số đó trong nhiều thế kỷ sau khi Phật giáo bị tuyên bố là "đã chết" ở Ấn Độ.
Tình cờ tôi được một người bạn cho mượn tập truyện nhan đề Người giữ nhà thờ họ và những truyện khác của nhà văn Khuất Đẩu. Tập truyện do nhà Ý Thức xuất bản năm 2009 gồm hai truyện vừa Người giữ nhà thờ họ, Huyền Trân công chúa, và một số truyện ngắn. Đọc xong tập truyện, tuy muộn màng, nhưng tôi vẫn muốn viết ra đây vài ba cảm nhận chủ quan của mình bởi đây là cuốn sách đáng đọc và có nhiều điều đáng nói trong đó...
Giới thiệu sách “12 Bản của The Federalist Papers: Những Kiệt tác luận về Hiến Pháp Hoa Kỳ và chính quyền của dân, do dân, và vì dân” của các tác giả Alexander Hamilton, James Madison, and John Jay. Dịch giả: Phạm Hồng Sơn.
Có một năm chúng tôi đi leo núi ở Red Rock, Las Vegas, chồng tôi gặp một người Hàn Quốc. Anh ta làm nghề sửa các thiết bị điện lạnh, sống một mình. Khi gặp người cùng ngôn ngữ, anh ta vui mừng mời chồng tôi về nhà. Căn phòng đó thật kỳ lạ. Hoàn toàn không có vật dụng cá nhân gì cả, kể cả giường. Chỉ là một căn phòng thuê trống để anh ta về nằm ngủ.
Bạn đang cư trú ở một nơi rất xa quê nhà. Thế rồi, một hôm, bạn mở TV xem và bất chợt nhìn thấy một vở kịch Nhật Bản thể loại Noh, và bạn bùi ngùi nhớ về quê nhà, nơi thời thơ ấu bạn đã từng xem một tuồng hát bội, một thể loại kịch cổ điển thường hát ở các ngôi đình Miền Nam Việt Nam. Khi vở Kịch Noh vừa chấm dứt, cho dù bạn chưa hiểu tận tường tuồng Nhật Bản nói gì, nước mắt đã đầm đìa trên mắt của bạn, đó là nước mắt khi nhớ về thời tuổi nhỏ chạy chơi trong sân đình, nơi các nghệ sĩ tuồng ngồi vẽ mặt của những buổi chiều trước giờ kéo màn.
Trước năm 2005, tôi đọc vài bài viết ký tên Vương Thư Sinh, Hoàng Tiểu Ca với lối hành văn nhẹ nhàng, trong sáng nên rất thích. Khi hỏi người bạn đồng khóa, nhà văn Dương Viết Điền cùng ở Los Angeles, cho biết đó là nhà văn Trần Việt Hải. Hè năm 2005, tôi ra tờ Cali Weekly, mời người bạn thân Nguyễn Ngọc Chấn làm chủ bút, và ngỏ ý với Việt Hải làm tổng thư ký, anh vui vẻ nhận lời. Năm 2008, tôi phục trách Section B của nhật báo Saigon Nhỏ, mỗi ngảy với chủ đề riêng, Thứ Bảy là Văn Học Nghệ Thuật, tôi cần bài gì và Việt Hải gợi ý cho tôi viết bài gì đều đáp ứng suốt 7 năm.
"Những gì chúng ta đã trải qua, và những gì chúng ta sẽ phải đối diện, đều là những vấn đề nhỏ nhặt so với những gì nội tại trong chính con người của chúng ta." – Ralph Waldo Emerson.


Kính chào quý vị,

Tôi là Derek Trần, dân biểu đại diện Địa Hạt 45, và thật là một vinh dự lớn lao khi được đứng nơi đây hôm nay, giữa những tiếng nói, những câu chuyện, và những tâm hồn đã góp phần tạo nên diện mạo văn học của cộng đồng người Mỹ gốc Việt trong suốt một phần tư thế kỷ qua.
Hai mươi lăm năm! Một cột mốc bạc! Một cột mốc không chỉ đánh dấu thời gian trôi qua, mà còn ghi nhận sức bền bỉ của một giấc mơ. Hôm nay, chúng ta kỷ niệm 25 năm Giải Viết Về Nước Mỹ của nhật báo Việt Báo.

Khi những người sáng lập giải thưởng này lần đầu tiên ngồi lại bàn thảo, họ đã hiểu một điều rất căn bản rằng: Kinh nghiệm tỵ nạn, hành trình nhập cư, những phức tạp, gian nan, và sự thành công mỹ mãn trong hành trình trở thành người Mỹ gốc Việt – tất cả cần được ghi lại. Một hành trình ý nghĩa không những cần nhân chứng, mà cần cả những người viết để ghi nhận và bảo tồn. Họ không chỉ tạo ra một cuộc thi; họ đã và đang xây dựng một kho lưu trữ. Họ thắp lên một ngọn hải đăng cho thế hệ sau để chuyển hóa tổn thương thành chứng tích, sự im lặng thành lời ca, và cuộc sống lưu vong thành sự hội nhập.

Trong những ngày đầu ấy, văn học Hoa Kỳ thường chưa phản ánh đầy đủ sự phong phú và đa dạng về kinh nghiệm của chúng ta. Giải thưởng Viết Về Nước Mỹ thực sự đã lấp đầy khoảng trống đó bằng sự ghi nhận và khích lệ vô số tác giả, những người đã cầm bút và cùng viết nên một thông điệp mạnh mẽ: “Chúng ta đang hiện diện nơi đây. Trải nghiệm của chúng ta là quan trọng. Và nước Mỹ của chúng ta là thế đó.”


Suốt 25 năm qua, giải thưởng này không chỉ vinh danh tài năng mà dựng nên một cộng đồng và tạo thành một truyền thống.
Những cây bút được tôn vinh hôm nay không chỉ mô tả nước Mỹ; họ định nghĩa nó. Họ mở rộng giới hạn của nước Mỹ, làm phong phú văn hóa của nước Mỹ, và khắc sâu tâm hồn của nước Mỹ. Qua đôi mắt họ, chúng ta nhìn thấy một nước Mỹ tinh tế hơn, nhân ái hơn, và sau cùng, chân thật hơn.

Xin được nhắn gửi đến các tác giả góp mặt từ bao thế hệ để chia sẻ tấm chân tình trên các bài viết, chúng tôi trân trọng cảm ơn sự can đảm của quý vị. Can đảm không chỉ là vượt qua biến cố của lịch sử; can đảm còn là việc ngồi trước trang giấy trắng, đối diện với chính mình, lục lọi ký ức đau thương sâu đậm, và gửi tặng trải nghiệm đó đến tha nhân. Quý vị là những người gìn giữ ký ức tập thể và là những người dẫn đường cho tương lai văn hóa Việt tại Hoa Kỳ.

Với Việt Báo: Xin trân trọng cảm ơn tầm nhìn, tâm huyết, và sự duy trì bền bỉ giải thưởng này suốt một phần tư thế kỷ.
Khi hướng đến 25 năm tới, chúng ta hãy tiếp tục khích lệ thế hệ kế tiếp—những blogger, thi sĩ, tiểu thuyết gia, nhà phê bình, nhà văn trẻ—để họ tìm thấy tiếng nói của chính mình và kể lại sự thật của họ, dù đó là thử thách hay niềm vui. Bởi văn chương không phải là một thứ xa xỉ; đó là sự cần thiết. Đó là cách chúng ta chữa lành, cách chúng ta ghi nhớ, và là cách chúng ta tìm thấy nơi chốn của mình một cách trọn vẹn.

Xin cảm ơn quý vị.

NHẬN TIN QUA EMAIL
Vui lòng nhập địa chỉ email muốn nhận.