Arthur Sze: Giữ Hơi Thở của Thơ

19/09/202500:00:00(Xem: 1461)

Authur Sze
Arthur Sze, Thi Sứ Hoa Kỳ thứ 25. Photo credit: Shawn Miller, Library of Congress.
 
Ngày 15 tháng 9 năm 2025, Thư Viện Quốc Hội Hoa Kỳ công bố Arthur Sze là thi sứ ‘Poet Laureate’ thứ 25 của Hoa Kỳ. Ông là thi sĩ gốc Á đầu tiên giữ vị trí này, sẽ chính thức ra mắt trong buổi đọc thơ tại Washington vào tháng Mười. Tin này đến giữa thời buổi chữ nghĩa bị giản lược thành khẩu hiệu, bị cuốn theo dòng truyền thông ồn ã, chớp nhoáng - như một tín hiệu ngược dòng: thơ vẫn còn giữ vững chỗ đứng riêng của nó, như thân xác vẫn còn linh hồn.

Arthur Sze sinh năm 1950 tại New York, lớn lên ở Queens trong một gia đình di dân Trung Hoa. Thuở đầu Ông theo học khoa học ở MIT, rồi bỏ ngang chuyển sang Berkeley, nơi Ông tự dựng lên một chương trình học riêng về thi ca, một “ngành học độc lập” ghép từ văn chương, triết học, ngôn ngữ học, và sáng tác. Ông tốt nghiệp năm 1972. Lựa chọn ấy đã mở ra một hành trình dài hơn nửa thế kỷ, với mười hai tập thơ và nhiều bản dịch.

Những tác phẩm của ông trải dài từ The Willow Wind (1972), Two Ravens (1976), River River (1987), The Redshifting Web (1998), Quipu (2005), Compass Rose (2014), đến Sight Lines (2019) – đoạt giải National Book Award. Tập The Glass Constellation (2021) gom lại gần 50 năm thi ca thành một vòm trời thủy tinh, và Into the Hush (2025) đánh dấu bước tiếp nối. Compass Rose từng vào chung khảo Pulitzer, Sight Lines được ví như “một bản nhạc nuôi dưỡng tâm trí”, và The Glass Constellation đã được nhà phê bình Chard deNiord mô tả: “Mỗi bài thơ là một giọt nước, mà trong đó chứa cả đại dương.”

Đọc thơ Sze, người ta bắt gặp cái nhìn vừa soi thấu “hiển vi” vừa mở ra vũ trụ. Một cành hoa héo, một con chim đậu sau hè, một dòng sông mờ khói, tất cả đều trở thành cửa ngõ dẫn về toàn thể. Ông nối những chi tiết tưởng chừng rời rạc bằng những bước chuyển bất ngờ -  từ mùi tóc người yêu đến đám mực đen loang của con mực nang dưới nước, nối sự liền mạch ẩn sâu của thế giới, nơi cái mong manh và cái bao la, cái đời thường và cái vô cùng, soi sáng lẫn nhau. 

“Hít vào hương tóc em
thấy đám mây mực loang trong nước.” (Trích từ The String Diamond)

Sze gắn bó với Santa Fe, New Mexico, nơi ông sống và dạy nhiều năm tại Học Viện Nghệ Thuật Da Đỏ. Đất khô, trời rộng, cộng đồng bản địa – tất cả in dấu trong thơ ông. Ảnh hưởng của Thiền và Lão Tử cũng hiện diện, nhưng người đọc không cần học thuyết để hiểu. Ông đặt triết lý vào hình ảnh cụ thể: con thỏ, bông hoa, giọt tuyết. Trong Before Completion, ông hỏi: “Ở đâu vật chất chấm dứt, và không gian bắt đầu?” Câu hỏi ấy không cần lời đáp, mà chính là cách ông gìn giữ bí ẩn của ngôn ngữ.

Trong nhiệm kỳ Poet Laureate, ông dự định biên soạn Transient Worlds, một tuyển tập thơ dịch từ nhiều ngôn ngữ. Không chỉ để đọc, mà để người Mỹ bước vào cuộc đối thoại với chữ nghĩa ngoài tiếng Anh. Sze từng nói dịch thuật không phải là chuyển nghĩa, mà là “cho hai ngôn ngữ soi chiếu nhau, để thấy giới hạn và mở ra đa âm.”

Như ông viết trong “Water Calligraphy”:

“Người ta xì xào khi chữ tan biến,
ta mỉm cười, cau mày, buông tay –
vẽ trắng, không vẽ đen.”

Hình ảnh những ông đồ già viết thơ bằng mực nước trong công viên Bắc Kinh, dòng chữ hiện lên rồi tan đi, chính là ẩn dụ cho hành trình chữ nghĩa: chóng qua mà bền, mong manh mà kháng cự.

Thơ Sze nhiều lần gợi nhắc dải ngân hà, không phải để bay bổng mà để thấy vũ trụ in trong dáng người. Trong “Transpirations”, ông viết:

“Ngồi bên hồ muối, uống trong phản chiếu
cả Ngân Hà.”

Hay hình ảnh “Tuyết tan thành vũng nước trong" và "trong tĩnh lặng này, ánh sao vẫn ẩn sau ánh ngày, bất cứ nơi nào có ánh mắt em.”

Giữa sự vội vã, vỡ vụn của thời đại, đó là một lối kháng cự. Không bằng hò hét, mà bằng kiên nhẫn. Không bằng tuyên xưng, mà bằng việc giữ trọn cái đẹp nguyên thủy trong tâm hồn.

Nhiệm kỳ này có thể ngắn ngủi. Một tuyển tập thơ dịch có thể không xoay ngược cơn bão xã hội, không ngăn nỗi sách thơ bị cấm trong thư viện, không chặn nỗi chữ bị biến thành khẩu hiệu “vĩ đại”. Nhưng chính việc ông đứng đó, lặng lẽ, nối kết, đã là một minh chứng: chữ nghĩa chưa chết, thơ chưa tàn. 
Arthur Sze không đưa ra đáp số. Ông mở ra câu hỏi. Mỗi bài thơ là một công án, mời người đọc ngồi lại với điều không thể nắm bắt. Và chính ở đó, chữ nghĩa còn sống.

Nguyên Hòa 
 

Gửi ý kiến của bạn
Vui lòng nhập tiếng Việt có dấu. Cách gõ tiếng Việt có dấu ==> https://youtu.be/ngEjjyOByH4
Tên của bạn
Email của bạn
)
anh vẫn đi trên con đường | vắng bóng hoàng hôn đời mình | đôi cánh tay nối dài đại lộ lê thê | sương khói mùa thu không về
Người Việt Nam giã từ vũ khí nhưng không vĩnh biệt chiến tranh. Có hai lý do: cuộc xung đột hai mươi năm chưa bao giờ được các bên tham dự giải quyết xong về mặt lý thuyết. Những tranh cãi không nguội đi, các khác biệt chưa giảm bớt, nguyên nhân là tồn tại những quan điểm khác nhau về ý nghĩa của chiến tranh. Căn nhà của dân tộc như bị ma ám. Thứ hai, cuộc chiến tàn khốc và kéo dài, vinh quang và nhục nhã, quá cay đắng và hào hùng, quá mất mát, hiểu lầm, hối tiếc. Vết thương ấy đã sống quá lâu. Nó không cam lòng chết đi.
tràng hạt đắng rất vô vị | giữa hồ vẫn mượt gương sen | ngựa hí. bung rồi dây mã | tàn trăng. giũ một ánh đèn
Từ trên cây | Chúng ta không còn cần ăn trái cây nữa | Dù chúng thơm ngon | Chúng ta bước lom khom trên mặt đất | Bằng hai chân | Một chân đi trước | Một chân đi sau
Chúng tôi lạc nhau ở một ngã rẽ | mà chưa hề buông tay
Thơ Chủ Nhật của các thi sĩ Hoàng Xuân Sơn - Nguyễn Hàn Chung - Quảng Tánh Trần Cầm - Thy An
Tôi về đó chỉ cần em ôn lại | Chút mơi xưa xanh ngọn lá đương thì | Tim loạn nhịp cuồng yêu cơn vồ vập | Cả sa bàn trên gân mạch li ti
Ngày mai, tôi ra đi. | Đêm nay ngồi một mình với thức. | Tự hứa với lòng, sẽ im lặng từ đây. | Sẽ vô ích, sẽ thất vọng, sẽ gây thêm thù oán.