Hôm nay,  

Tưởng Nhớ ‘Ông Xếp Lớn’ Người Úc Và Những Nẻo Đường Việt Nam

1/7/202608:24:00(View: 837)
greg dodd
Greg Dodds (đứng thứ tư từ phải hàng dưới) chụp cùng nhân viên Phòng Thương Vụ Úc Việt Nam vào khoảng cuối thập niên 1990s

Cách đây vài năm, tin ông Gred Dodds qua đời ở tuổi 71 tại Perth (Úc Đại Lợi) được truyền đi nhanh chóng trong giới ngoại giao, thương mại Úc. Nhóm cựu nhân viên Austrade (Phòng Thương Vụ Úc) người Việt đang sống ở Sài Gòn, Hà Nội, Úc, Mỹ, Canada email thông báo cho nhau về sự ra đi của cựu tổng giám đốc Austrade vùng Đông Bắc Á, cùng hồi tưởng về một “ông xếp lớn” người Úc dễ thương, gần gũi, với tình yêu đặc biệt dành cho đất nước và con người Việt Nam.

 

Trên trang web của Austrade có nhắc lại về tiểu sử của Greg Dodds. Ông là nhà lãnh đạo có ảnh hưởng lớn đến hoạt động phát triển thương mại của Úc tại Châu Á, đặc biệt là vùng Đông Bắc Á với các thị trường xuất khẩu lớn như Trung Quốc, Nhật Bản, Đại Hàn, Đài Loan. Ông bắt đầu làm việc tại Austrade từ năm 1985 khi được bổ nhiệm làm Tham tán Thương mại Cao cấp tại Tokyo, phụ trách thị trường Nhật. Dưới thời ông, quan hệ thương mại Nhật- Úc phát triển mạnh mẽ. Đến giữa thập niên 1990s, ông trở thành Tổng Giám đốc Điều hành Austrade khu vực Đông Bắc Á, văn phòng cũng đặt tại Tokyo. Trong suốt nhiều năm làm việc tại Austrade, Greg được thủ tướng, doanh nhân, đồng nghiệp Úc đánh giá cao, kính trọng vì tầm nhìn và khả năng lãnh đạo xuất sắc. Ông là người góp công nâng tầm quan trọng của Austrade trong việc hỗ trợ phát triển xuất khẩu của Úc, đặc biệt ở Châu Á. Ông truyền cảm hứng cho những người làm việc chung với mình; giúp nhiều nhân viên phát huy hết tiềm năng cá nhân; khuyến khích mọi người suy nghĩ rộng hơn, sáng tạo hơn trong công tác xúc tiến thương mại. Ông về hưu khoảng giữa những năm 2000s.

 

Việt Nam thuộc khu vực Đông Nam Á cùng với Singapore, Mã Lai, Thái Lan…, là một sự phân chia hợp lý thường thấy về phương diện địa lý, kinh tế. Tuy nhiên, khi lên nắm vai trò lãnh đạo Austrade vùng Đông Bắc Á, Greg quyết định chuyển Việt Nam vào khu vực của mình. Lập luận của ông là Việt Nam có nền văn hóa giống với Trung Quốc, Nhật Bản, Đại Hàn. Dân tộc Việt Nam sử dụng đũa, chịu ảnh hưởng văn hóa Khổng Mạnh, có chữ Nôm cùng nguồn gốc với chữ Hán… Do có uy tín và tầm ảnh hưởng lớn, đề nghị của ông dễ dàng được chấp nhận. Về mặt thương mại, từ thời ông trở đi, người Việt Nam bắt đầu thấy thịt bò Úc, bò giống Úc, rượu Vang Úc xâm nhập mạnh mẽ vào thị trường. Học sinh Việt Nam bắt đầu chọn Úc để đi du học nhiều hơn. Còn trong nội bộ Austrade, do Việt Nam thuộc khu vực thị trường quan trọng nhất, cho nên nhân viên được hưởng nhiều ưu đãi hơn.

 

Đối với Austrade Việt Nam, ngoài vai trò là một ông “xếp lớn của vùng”, Greg còn có nhiều tình thân hơn. Ông từng phục vụ trong quân đội Úc 10 năm trong chiến tranh Việt Nam tại một đơn vị tình báo chiến trường. Vào năm 2019, ông hoàn tất và cho xuất bản cuốn hồi ký Ships in the Night, có nhắc đến giai đoạn này. Có lẽ đó là lý do chính khiến ông có cảm tình đặc biệt với Việt Nam. Đưa Việt Nam vào vùng Đông Bắc Á, Greg có cơ hội trở lại Việt Nam để làm việc, có dịp thăm lại khu vực chiến trường xưa ở Long Tân thuộc Bà Rịa Vũng Tàu, nơi quân đội Úc đóng quân trong thời chiến. Nghe nói ở Nhật, nhân viên Austrade cả Úc lẫn Nhật đều sợ ông như “sợ cọp”! Nhưng đến Việt Nam, ông xuề xòa, dễ dãi, thường hay nói chuyện với nhân viên người Việt.

 

Greg yêu văn hóa Việt Nam. Trong một lần tổ chức “team building” cho nhân viên Autrade Đông Bắc Á ở Nha Trang vào khoảng năm 2004, nhân viên Việt Nam với tư cách chủ nhà có thực hiện một hoạt cảnh Dân Ca Ba Miền trong tiệc khai mạc. Khi hát bài dân ca Miền Bắc Qua Cầu Gió Bay, nhân viên các quốc gia khác cử đại diện lên “cởi áo, cởi nhẫn, cởi nón cho nhau” để hiểu người Việt yêu nhau chia sẻ như thế nào. Dân ca Miền Trung là bài Lý Chiều Chiều để thấy giọng buồn xứ Huế. Dân Ca Miền Nam là bài Đèn Cao Châu Đốc, Gió Độc Gò Công; tất cả người tham dự được tập để cùng hát chung câu “Hò lơ, hó lơ, lắng tai nghe tiếng ai đang hò lờ…” Sau màn trình diễn này, Greg và nhân viên từ các quốc gia khác khen ngợi team Việt Nam giàu tinh thần văn hóa.

 

 Austrade Việt Nam có văn phòng ở Hà Nội và Sài Gòn, nằm trong tòa đại sứ và tổng lãnh sự Úc. Trong những lần sang Việt Nam, Greg thường dành nhiều thời gian trong Sài Gòn hơn. Tôi là nhân viên của Autrade Sài Gòn từ năm 2001 đến 2006, cho nên có dịp gặp “xếp lớn” ở văn phòng. Tôi có một bộ bản đồ đường bộ quân sự bốn vùng chiến thuật rất chi tiết. Biết ông là cựu quân nhân Úc tham chiến ở Việt Nam, có lần tôi đem bản đồ vào cho ông xem. Ông rất thích, nhờ photo một bộ để giữ làm kỷ niệm. Cũng từ đó, ông biết tôi thích đi du lịch bằng đường bộ, đã đi qua rất nhiều tỉnh thành của Việt Nam, thích khám phá những khu vực xa xôi hẻo lánh. Ông nói để khi có dịp đi công tác ở Miền Nam, ông sẽ nhờ cùng tháp tùng bằng xe hơi thay vì đi máy bay như hầu hết các xếp Úc khác. Thế là hành trình trên những nẻo đường Việt Nam với ông “xếp lớn” cựu chiến binh Úc bắt đầu.

 

Khi chọn đường bộ để đi làm việc xúc tiến thương mại, Greg đề nghị nếu được thì chọn những tuyến đường đi qua những khu vực từng là chiến trường xưa. Đa số những đoạn đường này còn hoang sơ, chưa phát triển vào đầu thập niên 2000s. Có lần trong một chuyến đi công tác Miền Trung, các điểm đến làm việc là Đà Lạt, Ban Mê Thuộc, Đà Nẵng. Chúng tôi khởi hành từ Sài Gòn đi Đà Lạt qua quốc lộ 20; sau đó dùng quốc lộ 27 để đi Ban Mê Thuộc; rồi dùng quốc lộ 14 đi qua Pleiku, Kontum; theo quốc lộ 24 đổ từ cao nguyên xuống vùng đồng bằng Ba Tơ thuộc Quảng Ngãi; rồi theo quốc lộ 1 đến Đà Nẵng. Đó là một chuyến đi đáng nhớ, qua những đoạn đường hoang vắng tuyệt đẹp mà chính tôi cũng chưa từng đi qua. Quốc lộ 27 vào thời đó còn rất xấu, chưa được sửa chữa từ sau chiến tranh, nên rất ít xe cộ qua lại. Xe của Phòng Thương Vụ Úc là chiếc Toyota Land Cruiser mới toanh, biển số ngoại giao đỏ. Với chiếc SUV chuyên vượt địa hình này, hai thầy trò cùng bác tài rong ruổi qua những cánh rừng thông hoang sơ, có những đoạn qua những con suối chảy, thác đổ từ trên sườn núi dọc bên đường. Trên 200 km đường đi hầu như chỉ có một mình xe chúng tôi vượt qua những đoạn đường hiểm trở. Có lúc cảnh đẹp quá, Greg nói tài xế dừng lại để hút thuốc lá, ngắm cảnh. Còn khó đi hơn là quốc lộ 24, đoạn đổ đèo Măng Đen từ Kon Tum xuống Ba Tơ Quảng Ngãi. Thời đó đường đèo xấu, hẹp, chỉ đi được mỗi bên một xe, mà xe này đi thì xe bên kia phải ngừng lại để tránh. Có những cây cầu bắc qua vực với thành cầu mục, rỉ sét, xe qua phải thật chậm. Bác tài dày dạn kinh nghiệm mà cũng nói rằng chưa bao giờ đi đoạn quốc lộ nào hiểm trở đến thế! Nhưng cũng tuyệt đẹp, với cảnh núi rừng nguyên sinh Trường Sơn trùng điệp thật ngoạn mục. Nghe nói hiện nay Măng Đen đã được xây dựng, phát triển thành một khu du lịch mới của Kontum. Greg còn sống chắc thế nào cũng trở lại thăm nơi này.

 

Một chuyến đi nữa cũng đáng nhớ là chuyến công tác qua nhiều tỉnh thành thuộc khu vực đồng bằng sông Cửu Long như Mỹ Tho, Vĩnh Long, Cần Thơ, Bạc Liêu, Cà Mau… Từ Tiền Giang đến Vĩnh Long qua cây cầu Mỹ Thuận do Úc xây dựng theo dự án viện trợ phát triển cho Việt Nam. Qua những cánh đồng lúa cò bay thẳng cánh, những sông rạch chằng chịt của Miền Nam. Dọc đường, Greg dừng lại các quán nhỏ bên đường để uống cà phê đen, hút thuốc lá, hỏi thăm về cuộc sống của người nông dân. Sau khi làm việc ở tỉnh Cà Mau, Greg đề nghị mướn một chiếc ca nô để ra tận vùng Đất Mũi, thời đó đi bằng đường bộ còn rất khó. Buổi tối đi ăn ở một quán địa phương có đờn ca tài tử, nghe bài vọng cổ xa xưa Tình Anh Bán Chiếu “ Hò ơi… Chiếc chiếu Cà Mau nhuộm màu tươi thắm…” nhớ giọng ca Út Trà Ôn. Greg nói như vậy là ông đã đi được từ Ải Nam Quan đến Mũi Cà Mau của Việt Nam rồi, một điều mà không phải người Việt Nam cũng thực hiện được. Chuyến đi thật thanh bình như hương đồng cỏ nội Miền Nam.

 

Trong những chuyến đi như vậy, hai thầy trò nói với nhau rất nhiều chuyện, từ văn hóa, lịch sử, chiến tranh Việt Nam, đến những mối quan hệ quốc tế với Việt Nam thời bấy giờ. Kiến thức về văn hóa, lịch sử của Greg về các quốc gia Châu Á rất rộng. Ông cũng thích tìm hiểu về nền văn hóa nghệ thuật Việt Nam. Khi nói về thân phận của Việt Nam Cộng Hòa trong chiến tranh, tôi tặng cho ông cuốn truyện ngắn Con Cá Mắc Cạn của Doãn Quốc Sỹ, có cả hai thứ tiếng Anh-Việt. Ông hiểu Việt Nam trong cuộc chiến cũng giống như con cá trong truyện, không thể tự mình định đoạt số phận. Khi đi qua khu rừng tràm ở Cà Mau, tôi nói với ông về cuốn tiểu thuyết Hương Rừng Cà Mau của nhà văn Sơn Nam. Khi dừng chân ở Pleiku, tôi hát cho ông nghe ca khúc Còn Chút Gì Để Nhớ của Phạm Duy. Đi ngang qua Tuy Hòa là giai điệu man mác buồn của bài Chiều Qua Tuy Hòa của Nguyễn Đức Quang. Có lần hoàng hôn qua một ngôi làng nghèo dọc theo quốc lộ 1 ở Quảng Ngãi, tôi hát một vài câu trong ca khúc Về Miền Trung:

“…Ôi quê hương xứ dân gầy
Ôi bông lúa, con sông xưa, thành phố cũ
Về miền Trung! Người về đây sống cùng người dân
Lửa chinh chiến cháy bừng thôn làng điêu tàn…”

Lần đó, ông nói không ngờ một kỹ sư cơ khí như tôi mà cũng lãng mạn đến thế!

 

Đến năm 2006, tôi đi Mỹ. Trước khi đi, chưa rõ mình sang Mỹ sẽ làm gì, tôi viết email xin ông một lá thư giới thiệu, để phòng trường hợp xin vào làm cho Phòng Thương Vụ Mỹ. Lúc đó ông đã nghỉ hưu, nhưng vẫn viết một lá thư giới thiệu thật trân trọng, với tư cách là cựu tổng giám đốc Austrade vùng Đông Bắc Á kể về một nhân viên xúc tiến thương mại cấp thấp, không thuộc hàng trực tiếp làm việc với ông. Lá thư đó tôi không sử dụng đến, rồi bận bịu với nhiều loại công việc mưu sinh ở Mỹ. Vào năm 2017, tôi trở lại Úc, có ghé văn phòng Austrade ở Sydney, hỏi thăm tin tức về Greg, biết là ông vẫn sống đời hưu trí ở Perth. Tôi có email hỏi thăm. Chỉ sau một ngày, ông trả lời, và còn nói rằng vẫn còn giữ cuốn sách về “fish elf” mà tôi tặng. Ba năm sau thì nhận được tin ông qua đời.

 

Nhìn lại hơn 40 năm đi làm ở hai xứ Mỹ-Việt, tôi nghiệm lại thời làm việc ở Austrade là một trong những giai đoạn thích thú nhất. Một phần vì công việc thích hợp, làm có kết quả tốt. Một phần là vì được dịp kết thân với ông “xếp lớn” người Úc dễ thương, yêu mến đất nước và con người Việt Nam. Nhớ về Greg Dodds, tôi nhớ đến ca khúc Những Nẻo Đường Việt Nam (Thanh Bình):

Những nẻo đường Việt Nam.
Suốt từ Cà Mau thẳng tới Nam Quan.
Ôi! Những nẻo đường Việt Nam…
Những nẻo đường về đâu?
Ánh chiều chìm rơi bờ lúa nương dâu.
Ôi! Những nẻo đường về đâu?...

 

Doãn Hưng

Send comment
Vui lòng nhập tiếng Việt có dấu.Cách gõ tiếng Việt có dấu ==> https://youtu.be/ngEjjyOByH4
Your Name
Your email address
)
Năm nào cũng vậy, tháng 7 tháng 8, mùa mưa, mùa lũ lụt lại về trừng phạt quê hương Việt Nam. Từ rất xa xôi, người Việt khắp nơi thấp thỏm buồn rầu và lo sợ cho cảnh ngập lụt, bão tố hoảng loạn ở nhà, không riêng chỉ miền Trung mà cả miền Nam cũng lụt, miền Bắc và Bắc trung phần bị càn quét dữ dội do bão Bualo, rồi kế đến là bão Matno. Miền Bắc và cả thủ đô Hà Nội mưa bão trước chưa kịp khô, lại ngập nước, đường phố hóa thành sông do vỡ đập nước Lạng Sơn, nước sông dâng cao đỉnh điểm, tại thành phố còn có một số tổ chức cứu trợ, nhưng kẹt là ở các tỉnh miền cao, nước lên quá mau, đa số dân cư phải leo vội lên trú trên những mái nhà cao hơn. Cũng tại xả nước các đập thủy điện nữa v.v…
Đợi, và đợi. Có đến khoảng gần một trăm người xếp hàng đợi. Mới có năm giờ sáng thôi! Trời Đà Lạt đổ sương xuống nghe ướt tóc, ướt vai. Phòng bán vé còn đóng kín cửa. Sáu giờ mới bán vé. Biết vậy rồi, nhưng đám đông người này vẫn đến sớm chờ đợi. Chẳng qua là số xe có giới hạn, mình đến sớm mới mong có xe đi, nếu không thì phải về và trở lại vào ngày mai. Người ta nhìn nhau, như ngầm nói qua đôi mắt rằng đến sớm chắc ăn hơn. Mà không chừng có người đã ngủ đêm trước phòng bán vé để được xếp hàng phía trên cùng.
Tháng 7 trời xanh cao, mùa lên hâm nóng. Mặt đất nung nhiệt ngấm ngầm địa chấn, như muốn cùng người rung vang lời ngân quá khứ. Tháng 7 gọi về hàng phượng đỏ thắm rung rinh chùm nở, thứ lung linh ảo mờ, gần gụi mà xa thẳm, “mù không lối vào...” (TCS). Vang vang trong gió, lời trẻ thơ láng giềng vọng lại đùa vui tiếng nước...
Nếu Thanksgiving ở bên Mỹ mang màu sắc rộn rã chuẩn bị cho mùa Giáng Sinh, thì Thanksgiving bên Canada lại rơi vào Tháng Mười dịu êm, có đủ màu sắc nâu vàng đỏ của lá cây chuyển màu cuối Thu, với màu cam của những trái pumpkins cho lễ hội Halloween . Những ngày này, gia đình tôi chộn rộn với những đợt “thu hoạch” cuối cùng, chuẩn bị dọn dẹp vườn tược sạch sẽ trước khi mùa lạnh đang đến. Theo ý nghĩa nguyên thủy của Thanksgiving là Tạ Ơn đất trời cho mùa màng bội thu, thì năm nay gia đình tôi cũng xin được Tạ Ơn. Mấy cây táo và plum trúng mùa trĩu quả, hái mấy lượt vẫn không hết. Những quả plum tím căng mọng ngọt ngào, vừa đem tặng bạn bè, hàng xóm, vừa để đông lạnh ăn dần, mà vẫn còn mấy rổ tươi đầy ắp. Mùa táo, nhiều gia đình Việt Nam thích đem ngâm chua ngọt, trong khi những người bản xứ làm mứt táo, hoặc sên táo làm apple pie, một trong những món bánh khoái khẩu của nhiều người trong bàn ăn Thanksgiving bên cạnh pumpkin pie .
Nhạc sĩ Hùng Lân mất vào ngày 17/9/1986 tại Sài Gòn. Hôm nay, ngày 17/9/2025 tôi nhớ tới ông. Tính ra đã 39 năm. Ba năm trước, tại nhà thờ Phanxicô Dakao đã có một lễ giỗ 36 năm ngày mất của ông. Linh mục Đỗ Xuân Quế, chủ tế lễ giỗ, đã nói trong thánh lễ: “‘Hôm nay là lễ giỗ thứ 36 của ông Phêrô Hoàng Văn Hương tức là nhạc sĩ Hùng Lân. Ông là người đáng cho chúng ta trân trọng và quý nhớ. Vậy chúng ta hãy cùng nhau cầu nguyện cho ông được vào nước Thiên Chúa. Nếu ông đã được vào rồi thì xin nhớ đến chúng ta là những người đang tiếp tục cuộc hành trình nơi dương thế đang hướng về Nước Trời.” Sau thánh lễ là chương trình tưởng niệm trong đó có tiết mục trình diễn nhạc của Hùng Lân, cả nhạc đạo lẫn nhạc đời. Người dẫn chương trình cho tiết mục này là nhạc sĩ Cao Huy Hoàng, đến từ Phan Thiết. Ông chia sẻ: “Nếu ngày ấy, thầy Hùng Lân qua đời, Chúa hỏi ‘nén bạc của ta đâu?’, thầy có lẽ không trả lời hoặc chưa trả lời kịp thì hôm nay, chúng ta có thể nhìn lại và thấy được rằng nén bạc của thầ
« Chưa gặp em tôi đã nghĩ rằng, có người con gái đẹp như trăng… khi gặp em rõ thấy một bà chằng! » … Chằng tinh, hay chằn tinh là một loài người hay cũng coi là một loài quỷ hung ác. Tùy vào hoàn cảnh, tùy vào người ta gặp, ta đối diện. Nay thế giới có nhiều loại chằn tinh, chằn ở trong mọi lãnh vực, chính trị, văn hoá, kinh tế, giáo dục và cả trong xã hội v.v…Do đấy, ta muốn tìm hiểu nguyên do chằn ở đâu ra. Hẳn là trong văn hóa Nam Bộ Việt Nam - Ấn Độ - Khmer…? Theo tác giả Huỳnh Thanh Bình, chằn là một loại sinh vật truyền kỳ, làm hộ pháp, canh giữ chùa, tháp, chánh điện phật giáo nam truyền và chiếm vị trí quan trọng trong văn hóa và tâm linh của người Khmer nam bộ, phổ biến trong kho tàng truyện kể dân gian và tuồng tích sân khấu của đa phần người Đông Nam Á.
Cả ông ta và tôi cùng cười xòa. Ui, mình đúng là đãng trí thứ thiệt. Phần Lan đã gia nhập Eurozone từ 1999 và dùng Euro ngay từ buổi đầu như những quốc gia thành viên khác. Ngày trước, nhắc đến những thủ đô bắc Âu, người ta thường nghĩ đến Oslo giàu có của Na Uy, Copenhagen trẻ trung của Đan Mạch. Giờ đây, Helsinki dần dà từng bước góp mặt vào danh sách những thủ đô được du khách ưa chuộng. Sức thu hút của thành phố ngày càng tăng. Từ 15 năm nay, Helsinki là một trong những thành phố tân tiến nhất Âu châu.
Bà xỏ chân vào đôi dép, lê lẹp xẹp vào buồng. Bà lấy ra một bịch nhựa trong đó đựng trăm thứ lặt vặt không ra hình thù gì. Bà nhìn trước, ngó sau như người ăn trộm. Chị mua ve chai đứng ở ngoài cửa bếp. Như một việc đã quá quen thuộc, chị đón lấy cái túi, móc vào cái cân xách. Trước kia chị phân loại giấy ra giấy, nhựa ra nhựa, nay thì hai bên đã thỏa thuận với nhau là có một cái giá trung bình cho toàn thể. Bà thì nhìn đăm đăm vào mớ hàng lặt vặt ấy như nhìn một thứ gì quý giá lắm. Mà không quý sao được, vì đó là kết quả của nhiều tuần bà lượm lặt và cất giữ.
Cho tới bây giờ, thỉnh thoảng trong giấc ngủ tôi vẫn nằm mơ tới chuyện thi Tú tài và giật mình tỉnh dậy, mừng húm mà mồ hôi vẫn đổ ra. Trong lần thi Tú Tài I, tôi đã thức đêm thức hôm học đến bị yếu phổi. Chữ “Tú Tài” nặng nhọc với tôi như vậy tuy nghĩa của nó là “đẹp đẽ, có khả năng, tài giỏi”.Ông Tú Xương có lẽ cay đắng với chữ “Tú Tài” không kém gì tôi. Ông vác lều chõng đi thi tất cả 8 lần, từ khoa Bính Tuất (1886) tới khoa Bính Ngọ (1906). Ba lần đầu ông đạp vỏ chuối, tới lần thứ tư, năm Giáp Ngọ (1894), ông mới vớ được cái Tú Tài nhưng là Tú Tài đậu vớt, chữ ngày đó gọi là “Tú Tài Thiên Thủ”. Ông chết với cái danh Tú Tài, chẳng bao giờ kiếm được cái “Cử Nhân” mặc dù vẫn cặm cụi đi thi.
*SONG THAO Tôi chừ chỉ chơi thể thao trên ghế sa-lông, ngồi coi người ta chơi. Thứ tôi coi người ta chơi là hockey, tennis và đôi khi bóng tròn. Mình không còn khả năng thì coi người ta chạy nhảy cũng là một cách chơi. Cách chơi biết mình biết ta. Các ông bạn tôi cũng chơi như tôi. Có điều mỗi người chơi theo ý thích riêng của mình. Ông Hoàng Xuân Sơn, ông Luân Hoán cũng na ná như tôi. Nhưng ông Luân Hoán hơi ngả về bóng tròn. Ông Hồ Đình Nghiêm máu mê hơn. Ông sa đà vào bóng tròn. Thời gian vừa qua, ông coi giò coi cẳng các nữ nhân tranh giải bóng tròn thế giới FIFA một cách mê mệt. Ngày ngày ông bá cáo bà con trên Facebook tường tận về từng cặp chân vàng mà trắng, cô nào đá hay, cô nào chụp banh giỏi, ông rành như có họ hàng thân thiết.
Bạn có thể xem bài này như truyện ngắn. Có thể gọi là nhiều truyện ngắn trong một truyện ngắn, hay là ghép từ nhiều mẩu truyện. Bạn cũng có thể đọc như tùy bút, hay bản tin, hay là vân vân... nghĩa là bất cứ những gì có chữ, có thể đọc lên, có thể nghe được như âm thanh. Đó là những gì tự nhiên hiện lên trong trí nhớ của tôi, những gì tôi bất chợt nghe bên tai khi ngồi bên sông, ven biển, góc rừng, hay khi nửa đêm nhìn ra hàng hiên.
Chẳng hiểu vì sao, vào lúc bắt đầu cảm thấy già, tôi lại lẩm cẩm đi tìm lại định nghĩa về chữ “bạn”. Bạn tôi là ai? Tại sao tôi lại kết bạn với họ? Lúc trẻ đã từng có một thời suýt bị vợ bỏ vì “lo cho bạn nhiều hơn cho gia đình”; nhưng khi đến độ tuổi “lục thập nhi nhĩ thuận” tôi lại đâm ra làm biếng gặp hầu hết những nhóm bạn từng một thời thân thiết.


Kính chào quý vị,

Tôi là Derek Trần, dân biểu đại diện Địa Hạt 45, và thật là một vinh dự lớn lao khi được đứng nơi đây hôm nay, giữa những tiếng nói, những câu chuyện, và những tâm hồn đã góp phần tạo nên diện mạo văn học của cộng đồng người Mỹ gốc Việt trong suốt một phần tư thế kỷ qua.
Hai mươi lăm năm! Một cột mốc bạc! Một cột mốc không chỉ đánh dấu thời gian trôi qua, mà còn ghi nhận sức bền bỉ của một giấc mơ. Hôm nay, chúng ta kỷ niệm 25 năm Giải Viết Về Nước Mỹ của nhật báo Việt Báo.

Khi những người sáng lập giải thưởng này lần đầu tiên ngồi lại bàn thảo, họ đã hiểu một điều rất căn bản rằng: Kinh nghiệm tỵ nạn, hành trình nhập cư, những phức tạp, gian nan, và sự thành công mỹ mãn trong hành trình trở thành người Mỹ gốc Việt – tất cả cần được ghi lại. Một hành trình ý nghĩa không những cần nhân chứng, mà cần cả những người viết để ghi nhận và bảo tồn. Họ không chỉ tạo ra một cuộc thi; họ đã và đang xây dựng một kho lưu trữ. Họ thắp lên một ngọn hải đăng cho thế hệ sau để chuyển hóa tổn thương thành chứng tích, sự im lặng thành lời ca, và cuộc sống lưu vong thành sự hội nhập.

Trong những ngày đầu ấy, văn học Hoa Kỳ thường chưa phản ánh đầy đủ sự phong phú và đa dạng về kinh nghiệm của chúng ta. Giải thưởng Viết Về Nước Mỹ thực sự đã lấp đầy khoảng trống đó bằng sự ghi nhận và khích lệ vô số tác giả, những người đã cầm bút và cùng viết nên một thông điệp mạnh mẽ: “Chúng ta đang hiện diện nơi đây. Trải nghiệm của chúng ta là quan trọng. Và nước Mỹ của chúng ta là thế đó.”


Suốt 25 năm qua, giải thưởng này không chỉ vinh danh tài năng mà dựng nên một cộng đồng và tạo thành một truyền thống.
Những cây bút được tôn vinh hôm nay không chỉ mô tả nước Mỹ; họ định nghĩa nó. Họ mở rộng giới hạn của nước Mỹ, làm phong phú văn hóa của nước Mỹ, và khắc sâu tâm hồn của nước Mỹ. Qua đôi mắt họ, chúng ta nhìn thấy một nước Mỹ tinh tế hơn, nhân ái hơn, và sau cùng, chân thật hơn.

Xin được nhắn gửi đến các tác giả góp mặt từ bao thế hệ để chia sẻ tấm chân tình trên các bài viết, chúng tôi trân trọng cảm ơn sự can đảm của quý vị. Can đảm không chỉ là vượt qua biến cố của lịch sử; can đảm còn là việc ngồi trước trang giấy trắng, đối diện với chính mình, lục lọi ký ức đau thương sâu đậm, và gửi tặng trải nghiệm đó đến tha nhân. Quý vị là những người gìn giữ ký ức tập thể và là những người dẫn đường cho tương lai văn hóa Việt tại Hoa Kỳ.

Với Việt Báo: Xin trân trọng cảm ơn tầm nhìn, tâm huyết, và sự duy trì bền bỉ giải thưởng này suốt một phần tư thế kỷ.
Khi hướng đến 25 năm tới, chúng ta hãy tiếp tục khích lệ thế hệ kế tiếp—những blogger, thi sĩ, tiểu thuyết gia, nhà phê bình, nhà văn trẻ—để họ tìm thấy tiếng nói của chính mình và kể lại sự thật của họ, dù đó là thử thách hay niềm vui. Bởi văn chương không phải là một thứ xa xỉ; đó là sự cần thiết. Đó là cách chúng ta chữa lành, cách chúng ta ghi nhớ, và là cách chúng ta tìm thấy nơi chốn của mình một cách trọn vẹn.

Xin cảm ơn quý vị.

NHẬN TIN QUA EMAIL
Vui lòng nhập địa chỉ email muốn nhận.