Hôm nay,  

Niềm Vui Đầu Năm

02/01/202600:00:00(Xem: 735)

người già iStock-1410993224
Ảnh minh họa: istockphoto.com
 
Dù chưa đến tuổi nghỉ hưu, nhưng con cái đã lớn, tài chánh gia đình không còn là nỗi lo, Nàng quyết định đi làm volunteer tại một Nhà Già (Retirement Home). Lúc đầu, nàng muốn làm chỗ Nhà Già dành cho người Việt để Nàng được trò chuyện lắng nghe tâm tình của những “cư dân”, nhưng nơi đó khá xa, ông xã khuyên nàng chọn làm chỗ gần nhà, chỉ có 3 blocks đường đi bộ, người Tây họ cũng có những nỗi lòng, những câu chuyện đời để cần người chia sẻ.

Nàng chọn giờ làm chiều Chúa Nhật hàng tuần, từ 4 giờ đến 8 giờ tối, công việc đơn giản nhẹ nhàng, phụ với Culinary staff chuẩn bị và phục vụ bữa tối.
 
Nhà Già này, có ba nhóm cư dân. Nhóm thứ nhất là những người còn khỏe mạnh, tự túc được mọi việc, họ chọn vào sinh sống ở Nhà Già để an hưởng tuổi già, không phiền bận con cái. Nhóm thứ hai, ở trên lầu một, là nhóm Assisted Living, là những người có chút bệnh của tuổi già, cần sự hỗ trợ của y tá và chuyên viên y tế trong chuyện ăn uống, theo dõi sức khỏe mỗi ngày. Nhóm cuối cùng, nhóm chăm sóc trí nhớ, dành cho những người bắt đầu hoặc đang bị vấn đề về trí nhớ, kèm theo các bệnh khác. Nhóm này, ở khu riêng biệt, cửa nẻo luôn đóng, chỉ có người có nhiệm vụ mới có thể vào, các cư dân cũng không thể tự tiện ra, vào như các cư dân của hai khu còn lại, ngoại trừ có người thân đến đón đưa hoặc y tá dẫn đi khi có việc cần.
 
Nàng làm ở khu các cư dân khỏe mạnh. Nàng đến nơi lúc 4 giờ chiều, dù giờ ăn bắt đầu lúc 4 giờ 30 chiều nhưng nhiều ông bà già rảnh rang đã lai rai kéo xuống phòng ăn. Có vài người tụ tập trước quầy bar, ngồi trên các ghế sofa tán gẫu chuyện mưa nắng và xem tin tức trên chiếc màn hình tivi, có vài người đến thẳng chỗ ngồi vào bàn, thảnh thơi lặng im, sẵn sàng đợi chờ bữa tối .
 
Nàng thích nhất thời gian này, khi nàng quanh quẩn ngoài phòng ăn, xem xét các bàn đã được setup đầy đủ ly, tách, muỗng nĩa, nước lọc, khăn giấy, trà và cafe, Nàng có dịp hỏi han, nói chuyện với ông này bà kia, những người có nhu cầu được nói, dù chỉ là những câu chuyện vẩn vơ không đầu không đuôi.
 
Từ thứ hai đến thứ bảy, bữa tối được phục vụ tận bàn cho cư dân. Riêng ngày chúa nhật, bữa tối được gọi là “Buffet and Pub Night”. Nhóm đầu bếp chuẩn bị thức ăn bên ngoài phòng ăn nơi có quầy dùng làm Buffet, các cư dân sẽ xếp hàng để tự lấy thức ăn, đem về bàn thưởng thức, dĩ nhiên, nếu có người nào “long thể bất an” thì có thể nhờ nhân viên lấy thức ăn giùm.

Sau bữa tối chúa nhật, đúng bảy giờ, phòng ăn sẽ được dọn dẹp gọn gàng, chừa một không gian rộng với nhiều chiếc ghế gần quầy bar, sẽ có một “one band man” đến chơi đàn guitar hoặc keyboard, ca hát giúp vui cho các cư dân có một cuối tuần vui vẻ.
 
Họ ngồi thưởng thức những bài hát theo yêu cầu, nhắc nhớ một thời kỷ niệm vàng son, có thể kêu chút rượu nếu không muốn uống trà hoặc cafe, nếu có hứng thì bước ra sàn nhún nhún theo điệu nhạc, cũng vui lắm.
 
Nàng thích thời gian “giải trí vui chơi” này, nhìn ngắm các ông bà già yêu đời theo lời ca tiếng nhạc, theo từng điệu nhảy, họ như trẻ ra, như những chàng trai thiếu nữ của những ngày ấy xa xôi.
 
Chủ nhật hôm ấy, mới sau Lễ Giáng Sinh, các ông bà già ai cũng hớn hở, có lẽ những ngày Lễ vừa qua đã được con, cháu đến thăm, hoặc đón về nhà chung vui  quây quần, nhận những món quà từ những người thân yêu . Nàng vừa bước vào chỗ làm, bà Ellen khoe liền:

-          Chiếc áo đầm này cô thấy đẹp không, con dâu tôi tặng đấy.

Ông Bryan tiến đến:

-          Còn đây chiếc mũ mới, con trai tôi lùng khắp thành phố để mua đúng chiếc tôi yêu thích đấy.

Bà Wendy hài hước ồn ào hơn:

-          Ối dào, mấy đứa cháu nội tưởng tôi còn sung sức nên cho tôi mấy chai rượu vang, đêm giao thừa sắp đến tôi phải… mở tiệc, chơi lớn luôn!
 
Cả buổi ă tối buffet hôm ấy, Nàng cũng vui theo những cư dân hạnh phúc này, những câu hỏi thăm về mùa Noel luôn là cảm hứng cho những câu chuyện bất tận.
 
Rồi đến giờ dọn dẹp cho đêm nhạc, lần này đặc biệt hơn, sẽ có thêm một người chơi keyboard bên cạnh “one man band” guitar vì là mùa Lễ, chuẩn bị đón Năm Mới.
 
Nàng vẫn theo thường lệ trách nhiệm của mình, đứng nơi bàn trà và cafe để phục vụ khi có yêu cầu. Ban nhạc, mỗi trước bài hát, thường có vài lời tâm tình, hỏi han các cư dân có biết bài này bài kia, có kỷ niệm gì thì chia sẻ, sau đó mới hát, có khi còn nhắc các cư dân hát theo, rồi vỗ tay.
 
Đến gần cuối giờ, vì chúa nhật tuần sau sẽ lố qua ngày đầu năm, nên tối nay mọi người sẽ cùng nhau “count down” đếm giờ đón mừng năm mới với ban nhạc. Nơi quầy bar đã có sẵn những chiếc mũ giấy sặc sỡ, những chiếc kèn giấy, và cả những túi confetti, khi đèn được tắt bớt đi, chỉ còn ánh đèn màu mờ ảo, ban nhạc chậm rãi nổi lên bài nhạc nổi tiếng của đêm giao thừa “Auld Lang Syne” cùng giọng ca trầm ấm của chàng “one man band”.
 
Cả phòng bỗng im lặng, không gian chùng xuống, hình như ai cũng thả hồn theo khoảnh khắc mỗi năm chỉ có một lần này, và nàng cũng thế. Nàng nhớ gia đình, tình thân ruột thịt, nhớ bạn bè của những mùa lễ đầu năm nơi quê nhà, nhớ tuổi thanh xuân, rồi bỗng dưng nước mắt tuôn trào không thể ngăn lại. Khi bài nhạc kết thúc, tiếng “pháo hoa” rộn rã từ những chiếc kèn giấy, tiếng cười, chúc tụng ồn ào, bài hát khác nhộn nhịp bắt đầu, có vài ông bà già bước ra sàn nhảy, nàng sực tỉnh, tìm hộp khăn giấy, thì phía sau có tiếng hỏi nhẹ nhàng:

-          Cô có sao không? Tôi mời cô nhảy nhé!?

Nàng vẫn cúi đầu, bối rối lau nước mắt, vội vàng trả lời:

-          Không! Tôi không sao cả, cám ơn!

Có tiếng bước đi chậm rãi, Nàng quay ra nhìn, đó là bóng dáng của ông Joe đang từ từ chống gậy đi về phía thang máy nơi cuối hành lang.
 
Ruth, cô nhân viên làm chung, nói với nàng:

-          Hình như ông Joe buồn vì cô đã từ chối lời mời ra sàn nhảy của ông ấy!
 
Trời ơi, nào Nàng có để ý đến câu mời của ông Joe khi Nàng còn đang rối bời với bao cảm xúc buồn vui theo tiếng nhạc Auld Lang Syne (có ai nghe bài này mà không bâng khuâng?). Lòng nàng tràn ngập nỗi day dứt, vô tình nàng đã đem lại nỗi buồn cho ông Joe vào thời khắc của mùa cuối năm này. Bây giờ nàng có muốn mời ông nhảy cũng đã muộn rồi, ông vừa bước vào thang máy, trở về phòng.
 
Ruth nhìn nàng, mỉm cười:

-          Thôi cô đừng buồn, cô có cơ hội chuộc lỗi trong bữa tiệc “New Year” dành cho nhân viên vào tuần tới.
-          Ừ nhỉ! Tôi mới vào làm, nên chưa biết tiệc cũng có cư dân Nhà Già tham dự sao?
-          Tiệc cho chúng ta, nhưng có một số cư dân làm thiện nguyện, giúp dọn dẹp, đứng quầy bar, tặng quà, phục vụ chúng ta, có DJ chơi nhạc, và bất cứ cư dân nào muốn xuống chung vui cũng được, vui lắm, rồi cô sẽ thấy.
-          Vậy ông Joe trong nhóm thiện nguyện ư?
-          Mọi năm thì có, còn năm nay ông mới bị bong gân mắt cá chân vì hôm bữa giúp ông Terry kê lại cái sofa, ổng mang gậy cả tuần nay cô cũng biết mà, nhưng chắc chắn ông Joe sẽ xuống vì ổng hoạt bát và chưa bao giờ bỏ lỡ… cuộc vui nào!
 
Nàng nhẹ nhõm cõi lòng, vì Joe là một trong những cư dân Nàng thường chuyện trò và cảm mến nhất nơi Nhà Già. Tuổi trẻ của Joe rong ruổi khắp miền đồng bằng thảo nguyên của đất nước, với công việc kỹ sư Nông Nghiệp. Khi về hưu, hai vợ chồng Joe là thành viên hăng hái của Hiệp Hội Red Cross. Cách đây năm năm, vợ Joe qua đời, ông ở lại căn nhà nhỏ vẫn tiếp tục niềm vui thiện nguyện, rồi hai năm sau, hai người bạn thân của ông cũng rời xa ông: một người đi về bên kia thế giới, một người đi tiểu bang khác, nên ông quyết định dọn vào khu Nhà Già này, tìm thêm những người bạn mới chia sẻ buồn vui quãng đời còn lại.
 
Nhìn Joe nhanh nhẹn, khó ai đoán được trúng tuổi 85 của ông. Cao gầy, khỏe mạnh, Joe thường xuống ăn tối với chiếc quần Jeans và áo thun hoặc áo sơ mi ngắn tay gọn gàng, nói chuyện rôm rả, dí dỏm hài hước với tất cả mọi người, kể cả mấy bà già khó tính nhất trong Nhà Già cũng phải bật cười mỗi khi nghe Joe kể chuyện.
 
***
 
Ngày tiệc Năm Mới, vợ chồng Nàng đến sớm, hòa vào không khí nhộn nhịp, ngắm nghía không gian bữa tiệc đã được trang trí thật đẹp. Khán phòng đông đúc, Nàng chẳng thấy Joe đâu, Nàng tính đi ra cửa hỏi thăm bàn tiếp tân Nhà Già, nơi có theo dõi chi tiết mỗi ngày, cư dân nào đi đâu, với ai, có xuống ăn trưa ăn tối hay không, có bệnh hoạn vào bệnh viện hay ở tại phòng… thì may quá, Ruth xuất hiện giải tỏa thắc mắc cho Nàng với khuôn mặt đăm chiêu giùm Nàng:

-          Hồi trưa ông Joe được vợ chồng cô con gái đón về nhà ăn tối, không biết có quay về đây, hay sẽ ở qua đêm nhà con gái?
 
Nàng trở lại bàn, băn khoăn, coi như đêm nay không có dịp được chuộc lỗi với Joe. Bên ngoài tuyết đang rơi dày đặc, dự báo thời tiết cho biết nhiệt độ sẽ rất lạnh trong suốt tuần lễ, người trung niên như Nàng còn thấy ớn lạnh, huống chi những người già, chẳng ai muốn ra ngoài đường nếu không có việc cần thiết.

Giữa buổi tiệc, Nàng quay qua chồng:

-          Mình về thôi anh, đường xa trơn trợt lắm. Chắc ông Joe ở lại nhà con gái rồi!

Chồng nhìn Nàng, cảm thông:

-          Đành vậy! Lần tới em sẽ mời Joe nhảy sau bữa tối “Buffet and Pub Night”, cũng vẫn còn tháng 1, còn là New Year.
 
Nhưng kìa, Nàng nhìn ra ngoài khi cánh cửa ngoài bàn tiếp tân mở rộng, dáng cao gầy của Joe bước vào cùng vợ chồng cô con gái. Joe nở nụ cười tươi chào cô tiếp tân, vừa đứng giậm chân nơi tấm thảm để rũ bỏ những mảng tuyết còn bám trên đôi giày boots, cô con gái phụ bố cởi chiếc áo măng tô dày màu lông chuột, cậu con rể ôm Joe tạm biệt, rồi đôi vợ chồng bước ra khỏi cửa. Nàng sung sướng, rời bàn, chạy đến bắt tay Joe:

-          Happy New Year Joe! Tôi đợi ông nãy giờ, cứ tưởng ông không về tối nay!

Joe rạng rỡ cầm tay Nàng:

-          Tôi phải về chớ, dù con gái có nài nỉ tôi ở lại qua đêm, tôi nhớ mấy ông già bà già bạn của tôi, và nhớ mấy cô nhân viên dễ thương tốt bụng như cô nữa đấy.

Nàng nói vội vàng vì sợ Joe đổi đề tài:

-          Vậy tôi xin được mời ông nhảy nhé. Tôi xin lỗi vì tuần trước không nhảy với ông, khiến ông buồn…

Joe bật cười lớn:

-          Trời ơi! Tôi không buồn cô chút nào hết á! Cô biết không, từ khi vợ tôi mất, tôi thường có thói quen, là chiều cuối năm sẽ uống champagne một mình với…vợ và đón giao thừa với bả, nhưng hồi tuần rồi chưa phải chính thức giao thừa nên tôi mới ở lại chung vui, ai dè ban nhạc chơi bài Auld Lang Syne hay quá, làm tôi rưng rưng xúc động nhớ vợ, quay qua thấy cô đang khóc, chắc cô cũng nhớ kỷ niệm nào đó, nên tôi muốn chia sẻ an ủi, nhưng cô còn nức nở hơn, tôi đành bỏ về phòng tâm sự cùng…vợ vậy!
 
Nàng giúp Joe treo chiếc áo khoác trên móc áo ngoài phòng tiếp tân rồi kéo ông ra sàn nhảy, đúng lúc DJ chuyển qua điệu slow rock chậm rãi. Nàng và ông đứng đối diện nhau, nhún nhảy theo điệu nhạc giữa đám đông cũng đang nhịp nhàng theo từng bước nhảy. Ông Joe hôm nay mặc chiếc quần kaki màu đen, với chiếc áo thun tay dài màu bọc-đô, bỏ trong quần với dây thắt lưng đúng điệu, đúng màu sắc của Năm Mới, miệng cười liên tục, vừa nhảy vừa chào hỏi những người nhảy gần bên, rồi nháy mắt nhìn nàng như biểu nàng đừng ghi nhớ chuyện của tuần trước, hãy vui lên, năm mới mà!
 
Nàng cũng chợt nhận ra, ông Joe không còn mang gậy, vậy là chân của ông đã khỏi hẳn, không còn bong gân nữa!
 
Quả là một niềm vui đầu năm!
 
Edmonton, Tháng1/2026,
KIM LOAN 
 

Gửi ý kiến của bạn
Vui lòng nhập tiếng Việt có dấu. Cách gõ tiếng Việt có dấu ==> https://youtu.be/ngEjjyOByH4
Tên của bạn
Email của bạn
)
Hồi năm sáu tuổi tôi vẫn hay theo chúng bạn ra chơi trước đình làng Thanh Thủy. Nơi đó có mấy cây sanh cổ thụ rất lớn luôn tỏa bóng râm mát mẻ cả đoạn đường bến chạy qua làng. Bên kia con đường bến là hồ Vọng Nguyệt, một cái hồ trông như vuông vức, rộng chừng nửa mẫu tây, dân địa phương vẫn quen gọi là hồ làng...
Phải chi khách đến thăm vườn hồng hơn trăm giống quý đủ màu sắc của ông Chu hằng ngày là khách mua hoa thì chắc thu nhập của gia đình ông đỡ hơn. Ông nghèo, nhưng cái máu nghệ sĩ của ông lại mạnh mẽ hơn chuyện tiền bạc, lại gặp bà vợ hết mực chiều chồng, nên cứ nghe đâu có giống hồng lạ là bằng mọi cách phải có cho bằng được. Năm ba ký gạo đắp đổi hằng ngày đã khó, mà có những giống người ta đổi cả tấn lúa ông cũng lắc đầu.
Không nhớ từ bao giờ đã không còn ngồi xuống bàn trà, tay bốc miếng mứt hạt sen bỏ vô miệng, vị ngọt tươm ra không quá gắt như ăn miếng mứt bí, vị ngọt nhẹ, thanh, kích thích vị giác bởi hương sen quyện ngọt điệu đà, tới khi nhai cái hạt sen đã ấm ấm trong miệng nên không còn cứng cũng không quá mềm như khoai lang luộc. Độ dẻo của hạt sen khi đã sên mứt rất mê hoặc và cũng đâu có gì vội để nuốt đi cho mau, cứ ngậm mà nghe hương vị đất trời tinh khiết của hương sen xông lên khoang mũi làm cho người thưởng thức lâng lâng cảm giác xuân đã về. Có thể nói món gì có hạt sen góp mặt cũng ngon như món vịt tiềm có nhân bên trong là thịt bằm, nấm mèo, táo tàu, gia vị nhiều thứ, nhưng những hạt sen luôn khêu gợi những đôi đũa gắp vì hấp dẫn và ngon lạ miệng. Nhưng đã nhiều năm không ăn mứt hạt sen sao vẫn nhớ khá rõ hương vị độc đáo của hạt sen trong món ngọt ăn chơi ngày tết, hay món mặn ăn tiệc đều ngon.
Cậu Hà người Bắc di cư năm 1954, cậu di cư có một thân một mình khi còn trẻ, nên cậu cũng không có nhiều phương tiện được học hành nhiều. Khi lớn lên ở miền Nam, lối chừng 19, 20 tuổi khoảng năm 1965-1966, cậu từ giã học đường đăng lính, cậu đi lính Việt Nam Cộng Hòa ngành Biệt Động Quân. Sau chuyển qua Thám Báo. Cậu đóng quân như ở miền đồng ruộng, lúc bấy giờ còn loáng thoáng xa xa, ít dân cư, tiếp giáp một bên Đồng Ông Cộ, miệt Gò Vấp, Gia Định.
Chị nhớ lại, vào một buổi sáng ngày cuối tháng 1 năm 1973, khi Chị đi lấy bản tin ở bên Macv về cho AP, chị thấy sao hôm nay văn phòng đông thế. Ký giả của AP và cả của NBC News bên cạnh cũng chạy qua chạy lại, Chị nghe ông chánh văn phòng nói: Viêt Nam sắp ngưng bắn rồi, sắp hòa bình rồi…” Văn phòng Associated Press xôn xao, từ ông chánh văn phòng đến các ký giả, nhân viên của AP đều hứng khởi với cái tin “Nóng bỏng” này. Chị thấy các phóng viên của các hãng thông tấn, hãng truyền hình ngoại quốc chạy hối hả sang nhau và chạy qua cả đài phát thanh Quân Đội Việt Nam để cập nhật tin tức viết bài…
Chị đi bằng xe hàng. Là dân Đà Lạt gốc Huế nên chị gọi xe đò là “xe hàng”. Đi xe hàng, tức là xe đò, là xe chở người và cả hàng chứ không chở riêng hàng. Tiếng Việt hay như vậy đó! Đến Gò Công rồi đi xe lam vào Đồng Nguơn. Ấp Đồng Nguơn. Không phải đây là lần đầu tiên chị được thấy cảnh đồng quê. Đồng quê miền nam hầu như đâu đâu cũng giống nhau. Nhưng có đi nhiều mới thấy mỗi nơi có một chút khác. Phải thế không? Hay chính là cảm giác của chị mỗi lần một khác?
Tôi ước mơ có một ngày nào đó, khi thanh bình thật sự trở về trên nước VN, khi chính thể CS hoàn toàn tan rã, khi con người công chính trở lại làm nền tảng trong xã hội mới, chúng ta sẽ trở về, những ngưới bạn từ thời xa xưa, cùng nhau làm lại một bữa tiệc Tất Niên, mời vong linh các thầy, các bạn, các anh em đồng đội đã chết trong khói lửa chinh chiến, trong các biến cố tang thương của đất nước, trong các trại tù, trên biển…cùng nhập tiệc. Kẻ đang sống cùng người thiên cổ bên cạnh nhau hoài niệm đến một miền thùy dương ngọt ngào nhân tính, một ngôi trường thân yêu giàu truyền thống giáo dục và y đức, một thành phố mến yêu thơ mộng. Để nghe những người quá cố tâm sự về cái chết oan khiên của mình. Được như vậy, hương hồn các vị đó sẽ sớm được siêu thoát và vĩnh viễn an nghỉ chốn nghìn thu. Và chúng ta đây giảm khắc khoải đau thương…
Tôi đã có bốn cái Tết trong trại Panatnikhom và Sikiew, Thailand. Tết đầu tiên thật nhiều kỷ niệm và bất ngờ, vì lúc đó chúng tôi vừa nhập trại trong khi còn hơn một tuần nữa là Tết. Tôi và ba cô bạn đi chung chưa kịp gửi thư cho thân nhân ở nước ngoài để ca bài ca “xin tiền”. Ai lo bận bịu đón Tết thì lo, còn chúng tôi thì lo đi mượn tiền để mua vài vật dụng cần thiết như tấm trải nhựa, tre nứa, dây nilon để làm “nhà” (phải “an cư” mới “lập nghiệp” tỵ nạn được chớ).Khoảng một tuần trước Tết, có một nhóm mấy thanh niên đến thăm vì nghe nói chúng tôi là dân Gò Vấp, nên muốn nhận “đồng hương đồng khói”. Họ là những người trẻ như chúng tôi, nên câu chuyện mau chóng trở nên thân mật và rôm rả
Hỏi thăm ông Hai bán hoa lay-ơn gốc Bình Kiến, nhiều người ngơ ngác hỏi nhau. Tôi lại rảo qua thêm mấy vòng chợ hoa, cũng vừa đi tìm ông Hai, cũng vừa ngắm hoa và ngắm những chậu bonsai bày bán cuối năm, cũng tìm lại mình của gần 20 năm trước, năm nào cũng cứ vào những ngày này, tôi theo ba tôi hóng gió đón sương không hề chợp mắt cùng gian hàng cây kiểng rất bề thế của ba ở đây.
Có lẽ những rộn ràng, hân hoan nhất trong năm không phải là "ba ngày tết", mà là những ngày cận tết. Bắt đầu vào ngày 23 tháng chạp, tối đưa ông Táo về trời. Tất cả mọi sinh hoạt đều hướng về việc chuẩn bị để đón một mùa xuân mới, chào đón nguyên đán và mấy ngày xuân trước mặt. Lúc nhỏ là mùi vải thơm của bộ đồ mới, mùi gạo nếp ngâm cho nồi bánh và hương thơm ngào ngạt cho sàng phơi mứt dừa, mứt bí, mứt gừng ngoài sân. Những đêm ngủ gà ngủ gật ngồi canh bên nồi bánh tét cùng với má, với gia đình xúm quanh. Mùi bếp lửa, mùi khói hương, mùi áo mới lan tỏa của tuổi thơ ngan ngát những ngày xa...
Người ta được nuôi lớn không chỉ bằng thức ăn, mà còn ở lời ru, tiếng hát, và những câu chuyện kể. Chú bé cháu của bà thích được bà ôm vác, gối đầu lên vai bà. Có khi bà mở nhạc từ chiếc nôi cho chú nghe thay cho lời hát, chiếc nôi chú bé đã nằm khi mới lọt lòng mẹ. Có khi bà hát. Bà không ru à ơi, nhưng âm điệu dân gian len vào trong từng lời hát. Chú bé mãi rồi ghiền nghe giọng hát của bà.
Lóng rày tôi hay tẩn mẩn viết về những hồi tưởng tuổi thơ, nhất là những côn trùng ngày xa xưa đó như chuồn chuồn, bươm bướm, ve sầu, dế mèn…Nhiều lúc ngồi nghĩ lẩn thẩn: tại sao vậy? Chắc đó là tâm trạng của người tuổi sắp hết đếm số, tiếc nuối những khi còn cắp sách tới trường. Cắp sách tới trường không phải là chuyện vui nhưng tuổi học trò thì vui thật. Lúc nào, khi nào, chỗ nào cũng toàn thấy chuyện vui chơi. Bạn chơi là người nhưng nhiều lúc là những côn trùng quanh quẩn bên người. Một ông bạn mới gặp nhướng mắt hỏi tôi viết về những bạn chơi nhiều hơn hai chân nhưng chưa thấy nhắc tới bạn của ông ấy. Đó là bọ ngựa. Ông này thuộc loại rắn mắt. Tôi không chung tuổi thơ với ông nhưng chắc ông cũng thuộc loại phá làng phá xóm. Ông kể chuyện ăn me chua trước mấy ông lính thổi kèn trong hàng ngũ khiến mấy ông thợ kèn này chảy nước miếng thổi không được. Tôi thuộc loại hiền nên không có bạn không hiền như bọ ngựa. Ông ta thì khoái bọ ngựa.


Kính chào quý vị,

Tôi là Derek Trần, dân biểu đại diện Địa Hạt 45, và thật là một vinh dự lớn lao khi được đứng nơi đây hôm nay, giữa những tiếng nói, những câu chuyện, và những tâm hồn đã góp phần tạo nên diện mạo văn học của cộng đồng người Mỹ gốc Việt trong suốt một phần tư thế kỷ qua.
Hai mươi lăm năm! Một cột mốc bạc! Một cột mốc không chỉ đánh dấu thời gian trôi qua, mà còn ghi nhận sức bền bỉ của một giấc mơ. Hôm nay, chúng ta kỷ niệm 25 năm Giải Viết Về Nước Mỹ của nhật báo Việt Báo.

Khi những người sáng lập giải thưởng này lần đầu tiên ngồi lại bàn thảo, họ đã hiểu một điều rất căn bản rằng: Kinh nghiệm tỵ nạn, hành trình nhập cư, những phức tạp, gian nan, và sự thành công mỹ mãn trong hành trình trở thành người Mỹ gốc Việt – tất cả cần được ghi lại. Một hành trình ý nghĩa không những cần nhân chứng, mà cần cả những người viết để ghi nhận và bảo tồn. Họ không chỉ tạo ra một cuộc thi; họ đã và đang xây dựng một kho lưu trữ. Họ thắp lên một ngọn hải đăng cho thế hệ sau để chuyển hóa tổn thương thành chứng tích, sự im lặng thành lời ca, và cuộc sống lưu vong thành sự hội nhập.

Trong những ngày đầu ấy, văn học Hoa Kỳ thường chưa phản ánh đầy đủ sự phong phú và đa dạng về kinh nghiệm của chúng ta. Giải thưởng Viết Về Nước Mỹ thực sự đã lấp đầy khoảng trống đó bằng sự ghi nhận và khích lệ vô số tác giả, những người đã cầm bút và cùng viết nên một thông điệp mạnh mẽ: “Chúng ta đang hiện diện nơi đây. Trải nghiệm của chúng ta là quan trọng. Và nước Mỹ của chúng ta là thế đó.”


Suốt 25 năm qua, giải thưởng này không chỉ vinh danh tài năng mà dựng nên một cộng đồng và tạo thành một truyền thống.
Những cây bút được tôn vinh hôm nay không chỉ mô tả nước Mỹ; họ định nghĩa nó. Họ mở rộng giới hạn của nước Mỹ, làm phong phú văn hóa của nước Mỹ, và khắc sâu tâm hồn của nước Mỹ. Qua đôi mắt họ, chúng ta nhìn thấy một nước Mỹ tinh tế hơn, nhân ái hơn, và sau cùng, chân thật hơn.

Xin được nhắn gửi đến các tác giả góp mặt từ bao thế hệ để chia sẻ tấm chân tình trên các bài viết, chúng tôi trân trọng cảm ơn sự can đảm của quý vị. Can đảm không chỉ là vượt qua biến cố của lịch sử; can đảm còn là việc ngồi trước trang giấy trắng, đối diện với chính mình, lục lọi ký ức đau thương sâu đậm, và gửi tặng trải nghiệm đó đến tha nhân. Quý vị là những người gìn giữ ký ức tập thể và là những người dẫn đường cho tương lai văn hóa Việt tại Hoa Kỳ.

Với Việt Báo: Xin trân trọng cảm ơn tầm nhìn, tâm huyết, và sự duy trì bền bỉ giải thưởng này suốt một phần tư thế kỷ.
Khi hướng đến 25 năm tới, chúng ta hãy tiếp tục khích lệ thế hệ kế tiếp—những blogger, thi sĩ, tiểu thuyết gia, nhà phê bình, nhà văn trẻ—để họ tìm thấy tiếng nói của chính mình và kể lại sự thật của họ, dù đó là thử thách hay niềm vui. Bởi văn chương không phải là một thứ xa xỉ; đó là sự cần thiết. Đó là cách chúng ta chữa lành, cách chúng ta ghi nhớ, và là cách chúng ta tìm thấy nơi chốn của mình một cách trọn vẹn.

Xin cảm ơn quý vị.

NHẬN TIN QUA EMAIL
Vui lòng nhập địa chỉ email muốn nhận.