Hôm nay,  

Xóm Mới Ơi!

19/12/202500:00:00(Xem: 777)

Xom Moi oi
Minh họa: Tranh Đinh Cường
 
Xóm Mới ơi, thương quá một đời
Mái trường tuổi trẻ bước rong chơi
Những khu xóm Đạo vương kỷ niệm
Nơi chốn quê nhà đã xa xôi …
 
Khi những ngày tháng cuối của một năm đang dần hết, chúng ta thường có lúc bồi hồi nhớ về cố hương, về mảnh đất chôn nhau cắt rốn, hoặc nơi đã in dấu nhiều kỷ niệm đã qua trong đời. Và tôi cũng vậy, xin được nhớ về Gò Vấp, nơi có địa danh Xóm Mới, vùng ngoại ô không xa Sài Gòn, được nhiều người biết đến như vùng đất với nhiều dân Bắc kỳ di cư, nổi tiếng là khu Xóm Đạo, đã từng là nơi sản xuất pháo cùng với món thịt cầy (mộc tồn) lừng danh.
 
Mùa Thu năm 1954, đất nước Việt Nam bị phân chia thành hai miền Nam Bắc cách biệt với hai thể chế chính trị đối lập. Hàng ngàn người bắc theo tàu há mồm di cư vào Nam, được Tổng Ủy Di Cư đưa về trại định cư tại Xóm Mới. Đến cuối năm1954, dân số trại định cư Xóm Mới đã lên đến bốn ngàn, nhưng chính phủ vẫn tiếp tục đổ dồn dân di cư về đây. Từ đó, dân số khu vực Xóm Mới đã tăng nhanh chóng và theo thời gian, con số càng ngày càng lớn hơn rất nhiều.
 
Nói đến Xóm Mới - Gò Vấp, có lẽ nhiều người nghĩ khu vực này chỉ toàn nguòi "Bắc Kỳ di cư". Nhưng trong thực tế, còn có một số người địa phương trong cuộc chiến đã phải bỏ xã An Nhơn lên Sài Gòn hay các nơi khác, đến khi thanh bình đã trở lại quê cũ làm ăn và tái lập nghiệp trong vùng Xóm Mới trên phần đất của tổ tiên. Dù sao, Xóm Mới cũng gồm hầu hết những người gốc các tỉnh phía bắc vĩ tuyến 17. Khi vào đến Xóm Mới, họ sống theo nhóm quê quán từ ngoài Bắc, đa số lại có đạo Công Giáo, nên dần dần hình thành nên 13 xứ đạo: Hà Đông, Hà Nội,Thái Bình, HợpAn,Tử Đình, Fatima,Tân Hưng,Trung Bắc, Hoàng Mai, Bắc Dũng, Hoà Bình, Mẹ Hằng Cứu Giúp và Lạng Sơn.

Tuy nhiên, Xóm Mới cũng có người theo các tôn giáo khác như: Tin Lành, Phật Giáo hoăc chỉ là đạo thờ kính ông bà tổ tiên nhưng nhiều người vẫn gọi Xóm Mới là vùng đất Công Giáo, bởi khách lạ đặt chân đến đây sẽ thấy rất nhiều nhà thờ của 13 xóm đạo, và nhà cửa của giáo dân thường ở xung quanh bao bọc nhà thờ xứ mình.
 
Thời gian trôi qua, Xóm Mới đã trở thành "đất lành chim đậu", là khu vực sầm uất, nhà cửa san sát, và càng ngày càng có nhiều người đến ở vùng này. Với bản tình siêng năng, cần cù, có ý chí vươn lên, người dân Xóm Mới làm đủ các ngành nghề, trong đó có nhiều nghề gia truyền, hàng chất lượng cao, nổi tiếng khắp vùng lân cận, đã góp phần xây dựng nền kinh tế hùng mạnh của khu Gò Vấp.  Có thể kể đến nghề sản xuất cau khô, làm vỏ xe đạp, trồng rau, hoa Tết, pháo và thịt cầy.

Nói đến pháo, những ai ở lại quê nhà thập niên 80s làm sao quên được những đêm giao thừa xác pháo đỏ ngập đầy phố phường, mà phần lớn số pháo Tết được sản xuất từ Xóm Mới? Ký ức tôi còn mang theo mãi hình ảnh những chiều cuối năm, ngồi trước cửa nhà ngắm những chếc xe ba gác chở đầy hoa, và pháo đi ngang nhà mà lòng nôn nao không khí mùa Xuân. Còn món thịt cầy Xóm Mới nức danh một thời ai cũng biết. Cứ từ ba bốn giờ chiều, từ ngay ngã tư Xóm Mới, kéo dài qua chợ, xuống đến tận xứ Hà Nội, xứ Lạng Sơn, các quán thịt cầy bắt đầu bày hàng,  mùi nướng thịt thơm lừng, làm ngất ngây khứu giác khách qua đường và quyến rũ những tín đồ của món “quốc hồn quốc túy” này.
 
Với 13 xóm đạo nằm gần kề nhau, với lòng tín ngưỡng mạnh mẽ, Xóm Mới đã được khắp nơi biết tới như một trong những khu Công Giáo đặc trưng của Miền Nam Việt Nam. Ngày nay Xóm Mới là địa chỉ không thể thiếu được của giới trẻ Sài Gòn vào dịp Giáng Sinh. Họ đổ về Xóm Mới xem các nhà thờ các xóm đạo trang hoàng rất cầu kỳ đặc sắc, chụp hình kỷ niệm, sau đó tham dự thánh lễ nửa đêm, không cần phải chen chúc nơi Vương Cung Thánh Đường ngoài trung tâm Sài Gòn, mà vẫn có một không khí Noel đủ sắc màu Công Giáo, vừa linh thiêng vừa thoáng mát trong khung cảnh tưng bừng của người dân Xóm Đạo.
 
Có lẽ vì là dân Công Giáo, bắc kỳ, di cư nên dân Xóm Mới một thời sau 1975 đã bị chính quyền phân biệt đối xử, bởi  ngoài việc siêng năng làm việc kiếm sống, họ say mê việc nhà Chúa hơn việc …nhà nước! Người ta không lạ gì những buổi sớm mai, khi thành phố chưa thức giấc, các ông bà già rảo bước đến nhà thờ khi thời chuông nhất vừa đổ. Hoặc khắp các ngõ ngách trẻ em chơi đùa vào giờ chiều, nhưng hễ nghe tiếng chuông nhà thờ, chúng vội vã đứng dậy, chạy về nhà rửa vội chân tay rồi bước ngay đến nhà thờ chỉ cách đó mấy bước chân. Đứa nào lỡ mê chơi, thì y như rằng sẽ nghe tiếng của mẹ hoặc bà nó vọng ra từ trong nhà nhắc nhở đi lễ! Có thể nói, đi nhà thờ, cầu nguyện, thờ phượng Chúa đã chiếm đa số thời gian của người xóm đạo Xóm Mới.
 
Thời chúng tôi học ở trường trung học Nguyễn Trung Trực, cô hiệu trưởng vốn là cán bộ tập kết, cứ mỗi mùa Phục Sinh hay Giáng Sinh, đã ra thông báo trong toàn trường sẽ phạt nặng những học sinh nghỉ học vào ngày thứ sáu tuần Thánh mùa Phục Sinh và ngày hai mươi lăm tháng mười hai Chúa Giáng Sinh. Vậy mà hai ngày đó đến lớp cũng chỉ lưa thưa vài học sinh, xem ra lời đe dọa của cô hiệu trưởng không ảnh hưởng gì đến niềm tin của đoàn con Chúa trong hai ngày lễ quan trọng đó. Cứng đầu cứng cổ như thế, nên dân Xóm Mới ít khi được vào biên chế nhà nước, hoặc giới thanh niên khó được vào “Đoàn” vào “Đảng” vì lý do có đạo công giáo, cho nên khi có phong trào vượt biên, rất nhiều người con của Xóm Mới đành phải nuốt nước mắt, lìa xa xóm nhỏ yêu thương, lên đường tìm tự do.
 
Hơn một phần ba thế kỷ xa quê, mỗi lần nhớ về Xóm Mới là mỗi lần tim tôi rạo rực nỗi nhớ khôn nguôi. Nhớ những buổi trốn học cùng bạn bè, đi bộ từ trường ra chợ Xóm Mới, ngồi quán vỉa hè ăn bánh đúc chấm mắm tôm ngon tuyệt vời. Nhớ những đêm Giáng Sinh, ngồi uống cocktail ở quán ngã tư Xóm Mới, nghe nhạc Noel và ngắm thiên hạ náo nhiệt khắp các ngả đường. Nhớ ngôi trường cấp ba Nguyễn Trung Trực ngay xứ Hoàng Mai, nơi đã cho tôi một thiên đường tuổi trẻ tràn đầy hạnh phúc, mộng mơ.
 
Ở bất cứ nơi đâu trên quê hương, mỗi vùng đất cũng ít nhiều sản sinh ra những người con tài năng về một lãnh vực nào đó. Riêng mảnh đất Xóm Mới, cũng đã khiêm nhường có hai người con, có chút tài nhỏ bé, đóng góp cho Giáo Hội Công Giáo Việt Nam.
 
Người thứ nhất là Đức Cha Pherô Nguyễn Văn Khảm. Ngài sinh vào tháng mười năm 1952 tại Hà Đông, di cư vào Nam năm 1954. Ngài đã từng học qua Tiểu Chủng Viện Cái Răng Cần Thơ, Đại Chủng Viện Thánh Toma Long Xuyên và Đại Chủng Viện Thánh Giuse Sài Gòn, và được thụ phong linh mục vào tháng 8 năm 1980. Cha đã có tám năm làm linh mục quản nhiệm tại hai giáo xứ Hà Đông và Hà Nội ở Xóm Mới. Thời gian này, Cha đã thu hút rất nhiều giáo dân, nhất là giới trẻ đến với nhà thờ bởi những bài giảng của Ngài thật lôi cuốn, hấp dẫn. Sau đó Ngài được chuyển qua làm phụ tá giáo xứ chánh tòa Sài Gòn, làm Cha giáo tại Đại Chủng Viện Thánh Giuse. Từ năm 2004 đến 2008, Ngài giữ chức giám đốc trung tâm Mục Vụ tổng Giáo phận Sài Gòn, rồi đảm nhận làm thư ký điều hành Hội Đồng Giám Mục Việt Nam, trước khi được Giáo Hoàng Benedicto bổ nhiệm làm giám mục phụ tá Tổng Giáo phận Sài Gòn và ngày 15 tháng 11 năm 2008, Ngài được Hồng Y Gioan Baotixita Phạm Minh Mẫn tấn phong và hiện nay đảm nhận vai trò Giám mục Chính tòa Giáo phận Mỹ Tho.
 
Người thứ hai tôi xin kể đến là nhạc sỹ công giáo Phanxico. Anh tên thật là Nguyễn Đình Diễn, sinh năm 1957. Nghe nhạc của anh, người nghe dễ lầm tưởng anh là một linh mục, nhưng thật ra anh là giáo viên tiếng Anh ở một trường trung học, anh cùng gia đình hiện cư ngụ tại  xứ Lạng Sơn, Xóm Mới. Trước năm 1975, nhạc sỹ Phanxico có học trong chủng viện Don Bosco gần chợ Gò Vấp, nhưng vì hoàn cảnh nên sau đó đã lập gia đình, và sở thích viết Thánh Ca đã theo đuổi anh thành một đam mê không ngưng nghỉ.
Nhiều bài Thánh Ca của Phanxico rất phổ biến và đi vào lòng những tín hữu công giáo Việt Nam khắp nơi bởi nét nhạc dễ nhớ, lời ca dễ hiểu, tràn ngập lòng yêu mến Chúa, tôn vinh Đức Mẹ: Chúa Là Con Đường, Con Chỉ Là Tạo Vật, Mẹ Là Bóng Mát, Cầu Cha Cha Mẹ 2, Bước Chân Ngài, Sự Sống Thay Đổi, Dâng Niềm Cảm Mến, Khi Hoa Nở Miền Cana,và Tình Yêu Thiên Chúa (viết chung với Thế Thông) .v.v..
 
Riêng tôi, khi còn ở trại tỵ nạn Thailand, những buổi chiều mưa tham dự thánh lễ, nhìn cây lá ướt ủ rũ ngoài hiên nhà thờ dưới màu trời buồn tênh của xứ tạm dung, đã hơn một lần nước mắt tôi tuôn rơi, nức nở nỗi cô đơn, nhớ nhà khi cùng ca đoàn hát bài dâng lễ của Phanxico:
 
“Dâng lên Chúa trái tim ươm mộng mơ
 Bao nhiêu lần đã khóc bên trời mưa …
 Dâng vui buồn sẽ đến, dâng sướng khổ qua rồi
 Dâng lên trời trót một kiếp con người!…”
 
Anh Phanxico, có phải anh được lớn lên trong mười ba xóm đạo của Xóm Mới, nơi mà việc phụng thờ Chúa là việc làm quan trọng nhất trong mỗi ngày, nơi trái tim anh hòa nhịp theo tiếng chuông sớm chuông chiều của xóm đạo, nơi mảnh đất nhỏ bé xinh đẹp có chợ Xóm Mới rộn ràng từng ngày, có cây cầu Tứ Quý dẫn ra xa lộ Đại Hàn những chiều gió lộng, có An Nhơn hướng đến An Phú Đông rợp bóng cây xanh mát …tất cả những điều đó đã nuôi dưỡng tâm hồn anh,  nâng cánh tâm hồn anh, để anh làm nên những bản Thánh Ca đầy chân tình, thiết tha như những người con của mảnh đất ấy?
 
Giờ đây chúng ta lại chuẩn bị đón một mùa Giáng Sinh nữa trong đời, tôi cũng đang nhớ da diết nơi chốn đó, nửa đêm tan lễ dòng người đổ ra các ngả đường, trở về nhà ăn tiệc đón Chúa Hài Đồng. Thấp thoáng đâu đó trên sân thượng nhà ai, những nam thanh nữ tú gặp gỡ quay quần, nghe tiếng hát của nữ hoàng sầu muộn Giao Linh trong băng nhạc Sơn Ca với nhạc phẩm bất hủ : “Một mùa sao sáng đêm Noel Chúa sinh ra đời/ Người hẹn cùng tôi ngày về khi đất nước yên vui …” mà bâng khuâng đón chờ Re-vi-on, để nửa đêm sương rơi ướt lạnh đôi bờ vai mà niềm vui vẫn lấp lánh trên khóe mắt, nụ cười.
 
Nhưng đó là hình ảnh của Xóm Mới hơn ba mươi năm trước, chẳng biết bây giờ cảnh cũ người xưa có còn đó hay cũng đã phai mờ theo tháng năm? Nhưng tôi biết chắc chắn rằng, Xóm Mới tháng 12 năm nay vẫn lung linh với đèn hoa như muôn thuở, từng góc phố, từng xóm đạo vẫn tràn đầy hồng ân Giáng Sinh, tiếp tục ghi vào tâm tưởng người dân những dấu ấn khó quên nếu như sau này, vì lý do nào đó, đành phải lìa xa vùng đất đã cũ, vẫn mang tên gọi là Xóm Mới.
 
Edmonton, Dec 2025
Kim Loan
 

Gửi ý kiến của bạn
Vui lòng nhập tiếng Việt có dấu. Cách gõ tiếng Việt có dấu ==> https://youtu.be/ngEjjyOByH4
Tên của bạn
Email của bạn
)
Rõ ràng thằng bé đã thức. Nhưng khi An bước đến bên giường, mắt cu cậu nhắm tịt lại vờ như đang ngủ. An cù vào nách con : — Giả bộ này. Giả bộ này… / Bin uốn éo người, cười khanh khách. An xốc con dậy, hôn vào đôi má phúng phính: / — Con đánh răng rồi ti sữa cho ngoan nhé. Mẹ đi làm đây. / Bin choàng vòng tay nhỏ xíu quanh cổ mẹ, giọng ngọng nghịu: / — Mẹ ứ đii… / Bà đưa tay đỡ lấy cu Bin: / — Sang đây bà bế. Chiều mẹ lại về với Bin nào. / Chỉ nũng nịu với mẹ chút thôi, chứ Bin rất ngoan. Chưa bao giờ em khóc nhè, vòi vĩnh như những đứa trẻ khác. Sự hiểu chuyện của con, nhiều khi làm An nghe buốt lòng.
Chiếc ghế đá hầu như rất quen thuộc, dù nó cũng như mọi chiếc ghế khác trong công viên. Tháng Sáu. Bầy ve kêu inh ỏi. Chúng vô tư thật! Đoan ngồi xuống. Mấy buổi chiều nay, tan học, Đoan ghé khu vườn rộng lớn này, như một người trở về, cảm giác thật khó tả. Chợt nghe trong đầu vẳng lại lời của một bài thơ:
Cuộc đời trung úy Đỗ Lệnh Dũng, một sĩ quan VNCH, là biểu tượng bi tráng của lòng trung thành, khí phách giữa chiến tranh tàn khốc, và là minh chứng cho nỗi đau kéo dài của những người lính và thương phế binh miền Nam sau cuộc chiến.
Lớn hơn anh Hợp một tuổi, tháng 4 năm 1975, anh Đăng chưa xong năm thứ nhất về Cơ khí ở Phú Thọ, vận nước xoay chiều, ba anh cũng phải đi "học tập cải tạo" như hơn ba trăm ngàn Sĩ quan QLVNCH. Là con trai đầu lòng, anh Đăng bỏ cả ước mơ, bỏ trường về quê, điền vào chỗ trống của người chủ gia đình mà ba anh bỏ lại. Anh sinh viên kính trắng của Phú Thọ bỗng chốc trở thành phụ xe, lơ xe, cũng đổi đời như gần hai chục triệu người dân miền Nam.
Bây giờ trời đã tối, nhiều người đi ngủ sớm. Bọn trẻ học bài dưới bóng ngọn đèn dầu ở ngoại ô, ngọn đèn đường gần bờ sông. Trước hàng rào kẽm gai, một người lính mang súng đi đi lại lại, một đôi tình nhân đi chơi về muộn. Ngọn đèn hỏa châu sáng bừng góc trời một lát rồi tắt. Người yêu quê hương đã đi ra khỏi mảnh đất của những hận thù dai dẳng mà vẫn muốn trở về. Người nông dân muốn cày lại thửa ruộng của mình. Người thợ sửa đồng hồ muốn ngồi lại cái ghế vải nhỏ thấp của mình sau tủ kiếng bày đồng hồ cũ và mới. Lò bánh mì chiếu sáng nhấp nhô bóng những đứa trẻ bán bánh mì đứng trước cửa sổ với bao tải lớn đựng bánh nóng mới ra lò. Con chim về ngủ muộn biến mất trong bụi cây chỗ anh đứng.
Em nằm im lặng nghe đêm thở | Tháng Tư mở đôi mắt trong đêm | Anh ạ, em nghe Tháng Tư khóc | Tháng Tư nhỏ những giọt lệ đen.(tmt)
Con người ngậm kín cái tốt vào lòng. Để khỏi mua lấy vạ hiềm nghi ghen ghét. Tôi nhìn đứa bé từ sau lưng, sự rung động khẽ của đôi vai nhỏ bé, vẻ hạnh phúc của cái gáy nhỏ xíu măng tơ. Phút này qua phút khác, có lẽ lâu lắm, cho đến khi đứa bé bắt đầu thỏa mãn, bú chậm lại, nhưng nó vẫn ôm lấy bầu ngực của người đàn bà lạ, ngủ thiếp đi.
Biển đêm như vô thức một màu đen mênh mông, nhưng biển chứa toàn bộ lịch sử con người từ lúc còn là tế bào phôi sống cho đến khi biến thành DNA, rồi từ thú vật tiến lên con người. Lịch sử đó đầy ngập dữ liệu nhưng chôn sâu dưới đáy nước. Hồi tưởng chỉ là những con sóng nổi dập dìu, cho dù sóng lớn dữ dằn trong bão tố vẫn không mang được hết đáy nước lên trên mặt. Vì vậy, biển lúc nào cũng bí mật. Vô thức cũng bí mật. Càng gây thêm khó khăn để chứng minh sự thật vì vô thức có khả năng biến đổi dữ liệu hồi tưởng. Chỉ những người thiếu bản lãnh mới tin vào trí nhớ của mình và của người khác. Nhưng toàn bộ nhân loại sống và tạo ra ý nghĩa hầu hết dựa vào bộ nhớ. Một số ít người hiểu rõ điều này, nhưng không làm gì khác hơn, vì hồi tưởng tự động và tự nhiên xuất hiện dù không đầy đủ, kể cả, khi con người kêu gọi ký ức đến, nó cũng đến trên xe lăn, hoặc chống nạn, hoặc bò lết như kẻ tàn tật.
Chiến tranh là một nỗi đau dằn vặt của nhân loại vì không ai muốn nó xảy ra, nhưng chiến tranh vẫn cứ xảy đến như một điều kiện cần thiết biện minh cho sự tồn tại của thế giới con người. Ngày Ba mươi tháng 4 năm 1975 là một cột mốc đánh dấu một biến cố chính trị trong lịch sử chính trị thế giới, ngày cuộc chiến tranh Việt Nam (1954-1975) chấm dứt.
Năm mươi năm nhìn lại, sau ngày 30 tháng 04, 1975, cái dấu mốc lịch sử đau thương của đất nước Việt Nam, nói chung, và người dân miền Nam nói riêng. Sự thật lịch sử về ngày này đã được phơi bày rõ ràng trên mọi phương tiện truyền thông, tin tức, và trong thế giới sử. Ai cũng đã rõ, phe thắng trận, sai, phe thua trận, đúng. Điều này không cần bàn cãi nữa; cho dù kẻ chiến thắng cố tình viết lại lịch sử Việt Nam theo ý mình khi sức mạnh của họ nằm trên nòng súng. Phe thua cuộc lại là phe thắng được nhân tâm.
Tháng Tư chuếnh choáng. Say chẳng phải vì rượu dẫu chỉ nhấp môi hoặc thậm chí trong đám bạn có kẻ chẳng uống giọt nào. Nhưng họ vẫn say như thường. Những hồi ức tháng Tư lần lượt xuất hiện như một chất men nhưng không thể làm người ta quên mà chỉ là giây phút hiếm hoi nhắc nhớ để rồi quên. Quên tạm thời nỗi niềm chất chứa mà không làm sao quên hẳn.
Hai tên đeo băng đỏ đưa tôi đến một căn nhà nằm trên đường Tôn Thất Thuyết. Nay mới biết là cơ sở kinh tài của Việt Cộng. Vào bên trong, tôi thấy có một số người bị bắt trước ngồi trên băng ghế đặt ở góc một phòng lớn rộng rãi. Họ ngước mắt nhìn tôi có vẻ ái ngại. Tôi biết những người ngồi đó là thành phần đặc biệt nằm trong danh sách tìm bắt của chúng. Nhìn họ, tôi thấy mấy người quen quen. Hình như họ là viên chức Chính Phủ trong tỉnh. Tôi được đưa đến ngồi cạnh họ. Tất cả đều im lặng, không ai nói với ai lời nào ngay cả khi bất chợt nhìn thấy tôi. Có lẽ im lặng để che đậy cái lý lịch của mình, làm như không quen biết nhau, nếu có khai láo cũng không liên lụy đến người khác.


Kính chào quý vị,

Tôi là Derek Trần, dân biểu đại diện Địa Hạt 45, và thật là một vinh dự lớn lao khi được đứng nơi đây hôm nay, giữa những tiếng nói, những câu chuyện, và những tâm hồn đã góp phần tạo nên diện mạo văn học của cộng đồng người Mỹ gốc Việt trong suốt một phần tư thế kỷ qua.
Hai mươi lăm năm! Một cột mốc bạc! Một cột mốc không chỉ đánh dấu thời gian trôi qua, mà còn ghi nhận sức bền bỉ của một giấc mơ. Hôm nay, chúng ta kỷ niệm 25 năm Giải Viết Về Nước Mỹ của nhật báo Việt Báo.

Khi những người sáng lập giải thưởng này lần đầu tiên ngồi lại bàn thảo, họ đã hiểu một điều rất căn bản rằng: Kinh nghiệm tỵ nạn, hành trình nhập cư, những phức tạp, gian nan, và sự thành công mỹ mãn trong hành trình trở thành người Mỹ gốc Việt – tất cả cần được ghi lại. Một hành trình ý nghĩa không những cần nhân chứng, mà cần cả những người viết để ghi nhận và bảo tồn. Họ không chỉ tạo ra một cuộc thi; họ đã và đang xây dựng một kho lưu trữ. Họ thắp lên một ngọn hải đăng cho thế hệ sau để chuyển hóa tổn thương thành chứng tích, sự im lặng thành lời ca, và cuộc sống lưu vong thành sự hội nhập.

Trong những ngày đầu ấy, văn học Hoa Kỳ thường chưa phản ánh đầy đủ sự phong phú và đa dạng về kinh nghiệm của chúng ta. Giải thưởng Viết Về Nước Mỹ thực sự đã lấp đầy khoảng trống đó bằng sự ghi nhận và khích lệ vô số tác giả, những người đã cầm bút và cùng viết nên một thông điệp mạnh mẽ: “Chúng ta đang hiện diện nơi đây. Trải nghiệm của chúng ta là quan trọng. Và nước Mỹ của chúng ta là thế đó.”


Suốt 25 năm qua, giải thưởng này không chỉ vinh danh tài năng mà dựng nên một cộng đồng và tạo thành một truyền thống.
Những cây bút được tôn vinh hôm nay không chỉ mô tả nước Mỹ; họ định nghĩa nó. Họ mở rộng giới hạn của nước Mỹ, làm phong phú văn hóa của nước Mỹ, và khắc sâu tâm hồn của nước Mỹ. Qua đôi mắt họ, chúng ta nhìn thấy một nước Mỹ tinh tế hơn, nhân ái hơn, và sau cùng, chân thật hơn.

Xin được nhắn gửi đến các tác giả góp mặt từ bao thế hệ để chia sẻ tấm chân tình trên các bài viết, chúng tôi trân trọng cảm ơn sự can đảm của quý vị. Can đảm không chỉ là vượt qua biến cố của lịch sử; can đảm còn là việc ngồi trước trang giấy trắng, đối diện với chính mình, lục lọi ký ức đau thương sâu đậm, và gửi tặng trải nghiệm đó đến tha nhân. Quý vị là những người gìn giữ ký ức tập thể và là những người dẫn đường cho tương lai văn hóa Việt tại Hoa Kỳ.

Với Việt Báo: Xin trân trọng cảm ơn tầm nhìn, tâm huyết, và sự duy trì bền bỉ giải thưởng này suốt một phần tư thế kỷ.
Khi hướng đến 25 năm tới, chúng ta hãy tiếp tục khích lệ thế hệ kế tiếp—những blogger, thi sĩ, tiểu thuyết gia, nhà phê bình, nhà văn trẻ—để họ tìm thấy tiếng nói của chính mình và kể lại sự thật của họ, dù đó là thử thách hay niềm vui. Bởi văn chương không phải là một thứ xa xỉ; đó là sự cần thiết. Đó là cách chúng ta chữa lành, cách chúng ta ghi nhớ, và là cách chúng ta tìm thấy nơi chốn của mình một cách trọn vẹn.

Xin cảm ơn quý vị.

NHẬN TIN QUA EMAIL
Vui lòng nhập địa chỉ email muốn nhận.