Hôm nay,  

Những Học Trò “đặc Biệt”

31/08/202509:45:00(Xem: 1906)
YEU_THUONG_LA_TU_DO_BIASACH_Minh Nguyet
Minh họa Đinh Trường Chinh

 


Từ giữa tháng Tám, trước ngày Lễ Labour Day, các trung tâm shopping đã rầm rộ quảng cáo “On Sale” cho mùa “Back To School”. Các con tôi đã lớn, qua rồi cái thuở đi sắm backpacks, tập vở, giấy bút, lunch bags, áo quần, nhưng lòng tôi vẫn nao nao bâng khuâng nhớ về những kỷ niệm ấy. Cũng có lúc tôi lại nh ... chính tôi, ngày xưa là cô giáo trẻ khi còn ở Việt Nam, và nhất là những tháng ngày ở trại tỵ nạn Thailand, làm cô giáo “đặc biệt” có những học trò cũng rất “đặc biệt”.

 

Sau hơn hai năm gian nan đợi chờ, tôi đã may mắn đậu thanh lọc và chuyển về trại Transit chờ định cư. Nơi đây, tôi gặp lại vài Thầy giáo đã từng dạy English cho tôi khi mới nhập trại, họ gọi tôi vào trường ESL, phụ trách lớp English Vỡ Lòng cho người lớn tuổi.

 

Đúng như tên gọi, các “học trò” của tôi đều... lớn tuổi hơn tôi khá nhiều. Có người lớn hơn vài ba tuổi, chục tuổi hoặc hơn vài chục tuổi cũng có, nhờ vậy mà vui lắm! Họ, có khi là những người miền Tây sông nước, nói Tiếng Việt còn chưa rành, nay phải bập bẹ học Tiếng Anh, hoặc những người bận rộn cuộc sống bên Việt Nam, chưa bao giờ nói Tiếng Anh, nay tập hợp vào đây, là học trò của cô giáo trẻ măng . Kiến thức Tiếng Anh họ kém hơn cô giáo, nhưng kinh nghiệm đời, kinh nghiệm sống của họ thì bao la. Đôi lúc rảnh rang, cả lớp chuyển qua mục “Tâm Sự Đời Tôi”, những câu chuyện đời, chuyện thời cuộc đất nước sau 1975, chuyện vượt biển... nghe hoài không bao giờ chán.

 

Trong lớp, có vài học sinh nổi bật, dù là thành tích học tập hay bất cứ lãnh vực nào, cũng làm tôi nhớ nhiều. Đầu tiên là anh Hoàng, một trong những nhiếp ảnh gia ở trại. Lúc ấy, đâu phải ai muốn hành nghề chụp hình cũng được, mà phải “xã giao”, quen biết với ban quản lý trại (người Thái), các nhân vật trong Bộ Nội Vụ Thái (nắm quyền hành cao nhất ở trại) . Người chụp hình, sau khi chụp hình cho các khách hàng là đồng bào tỵ nạn, rồi đem các cuốn phim ra ngoài trại, đi rửa, rồi đem về giao hàng cho khách, tất cả những công việc đó đều do Trại cấp giấy phép đi ra đi vào cổng trại dễ dàng, rồi hàng tháng nộp tiền lệ phí, bao nhiêu thì vẫn là “bí mật nội bộ”.

 

Anh Hoàng, là người được tất cả mọi người xung quanh quý mến. Khác với những người hay “giao lưu” với lính Thái, nhóm điều hành Thái, thường bị người ta nhìn với ánh mắt dè dặt, nhưng Hoàng là người sống chân tình, khiêm nhường, vui vẻ, bản tính rộng rãi và dĩ hòa vi quý .

Hoàng, còn là... đại gia dễ thương. Hễ lớp có buổi liên hoan thì Hoàng luôn mang nhiều bánh trái đến, chụp hình cho cả lớp thoải mái, ai muốn chụp riêng cũng được. Hoàng tận tình hướng dẫn kiểu dáng, địa điểm, góc máy để cho ra những tấm hình đẹp nhứt . Riêng đối với cô giáo Loan, mỗi khi cần chụp hình để gửi cho thân nhân, Hoàng đưa tôi đi khắp trại, đến những nơi có cảnh đẹp, chụp xong, Hoàng luôn đề nghị chụp thêm “chân dung cô giáo” không lấy thêm tiền, Hoàng tặng cô giáo.

 

Anh Hoàng lớn hơn tôi 6-7 tuổi, nên dù là cô giáo, tôi vẫn gọi anh xưng em, nhưng Hoàng rất trân trọng khi gọi cô Loan và xưng tên Hoàng ngọt xớt.

 

Hoàng có cô bé người yêu, tên Minh, rất xinh đẹp, đúng nghĩa “nhỏ bé” cả tuổi tác lẫn dáng người. Hoàng đậu thanh lọc, Minh rớt đang chờ “tái thanh lọc” vì hai người đã kịp có baby, nên chắc chắn Minh nếu không đậu “tái thanh lọc” ở trại, thì cũng sẽ về Việt Nam rồi đoàn tụ với Hoàng theo diện “fiancé có con”.

 

Lúc đó, thằng con trai của Hoàng-Minh mới 6-7 tháng tuổi, mang nét đẹp của bố mẹ, kháu khỉnh, bà con trong lô ai cũng muốn mượn thằng bé đem về nhà ẵm bồng nựng nịu hoặc tha đi khắp trại cho nhiều người nựng ké .Tôi cũng vậy, ngày cuối tuần rảnh rỗi không đi làm, tôi hay ghé qua nhà Hoàng-Minh để nựng thằng nhỏ.

 

Bữa đó chủ nhật, sau bữa cơm trưa, tôi đi lang thang ra quán sữa đậu nành giải khát cái nóng mùa hè, lúc đi ngang qua nhà Hoàng-Minh, thấy Minh đang ru con ngủ trên võng, cửa mở rộng, tôi liền theo thói quen, ghé đầu vào nhìn thằng nhỏ, Minh liền nhờ tôi:

 

-       Ôi chị đến đúng lúc quá, em đang chưa biết tìm ai, chị rảnh không?

-       Ừa, chị rảnh.

-       Vậy chị vào đưa võng ru bé ngủ giùm em nha, em chạy đi tìm anh Hoàng, từ sáng đến giờ ảnh đi nhậu chưa thấy về!

 

Tôi hiểu nỗi lo của Minh. Bởi như đã nói ở trên, Hoàng phải thường xuyên đi ăn nhậu xã giao với lính Thái để công việc chụp hình được êm xuôi thuận lợi. Nhậu thì phải có rượu bia, thuốc lá, về lâu về dài không tốt cho sức khỏe. Nhưng nguy hiểm hơn, là thỉnh thoảng còn có mấy em gái “hậu phương” người Lào, người Cam và người Việt trong trại cũng được các lính Thái mời nhậu chung vui, hỏi sao Minh không lo, không ghen!?

 

Tôi biểu Minh cứ đi tìm chồng, còn tôi bước vào nhà, nằm xuống sàn, ru thằng bé, gió hiu hiu buổi trưa hè, và nhà bên cạnh mở băng nhạc bolero buồn mênh mang,  làm tôi cũng thiu thiu một lúc rồi… ngủ luôn hồi nào không hay. Mãi đến khi nghe tiếng Hoàng - Minh gây lộn, tôi mới sực tỉnh nhưng không dám mở mắt động đậy vì “cuộc chiến” đang rất… gay cấn. Minh bù lu bù loa:

 

-       Anh đã hứa với em biết bao lần, sẽ bỏ bớt rượu chè thuốc lá để giữ gìn sức khỏe...

-       Anh biết mà, nhưng công việc phải thế, anh sẽ cố gắng bớt lại, được chưa?

-       Bớt gì mà bớt! Lần nào về cũng nồng nặc mùi rượu rồi ngủ vùi, đó là chưa kể mấy “em gái” đỏng đảnh tại bàn nhậu, ai tin tưởng được!

-       Xời ơi, em phải hiểu chồng mình chớ! Có cho vàng anh cũng không bao giờ đụng đến mấy nàng đó.

Minh vẫn không tha, vẫn lải nhải càu nhàu, dù Hoàng luôn nhỏ nhẹ năn nỉ và luôn miệng xuýt xoa, nhắc nhở vợ:

-       Xuỵt! Em nói nho nhỏ thôi, để cô Loan ngủ, cô Loan nghe được thì kỳ lắm!!

 

Tôi cười thầm trong bụng, Hoàng đâu biết tôi đã dỏng tai nghe từ lúc “cuộc chiến” vừa... bắt đầu! Tôi đành tiếp tục... ngủ say thêm vài phút nữa, chợt thằng bé giật mình thức giấc, tôi có cớ bật dậy, rồi ẵm thằng nhỏ đi chơi để ba má nó có dịp làm lành với nhau.

 

Trong lớp, còn có anh Tú, thuộc nhóm người “già nhất lớp”, ngồi ở hàng ghế cuối cùng. Anh ấy ít nói, và qua vài chương trình “Tâm Sự Đời Tôi” của lớp, ai cũng biết quê anh miền Trà Vinh, gia đình từng là chủ xưởng đóng ghe, rồi tổ chức nhiều chuyến vượt biên thành công, mấy năm trước là chuyến chót cả gia đình cùng đi nhưng anh bị lọt lại, bây giờ anh mới qua được Thailand. Vừa xong tiết dạy, chị Kiều đồng nghiệp trường ESL gặp tôi, nháy mắt mỉm cười:

 

-       Loan nè, “trò” Tú lớp em...

-       Trò Tú sao hở chị?

-       Trò ấy muốn tặng cô giáo Loan mấy cái bánh Trung Thu nhân mùa Rằm Tháng 8 này, nhưng trò ấy ngại... Vì trò ấy có cảm tình đặc biệt với cô, nên nhờ chị nói trước giùm.

-       Trời! Chị nói trò Tú mang bánh đến cho cả lớp cùng ăn cho vui.

-        

Chị Kiều bây giờ mới nghiêm túc:

 

-       Chị thấy anh Tú cũng được lắm đó, ảnh vừa ra lính chưa đầy năm là bị “giải phóng” 1975, ảnh có tinh thần Quốc Gia, đang sinh hoạt trong nhóm Việt Nam Quốc Dân Đảng ở trại...

-       Thì em có nói gì đâu chị, ai chả biết ảnh dễ thương, mà thôi, chuyện tình cảm cứ để đấy tính sau chị ơi!

     

Đến ngày lớp liên hoan mừng Trung Thu, anh Tú mang đến góp vui hai hộp bánh có đủ bánh nướng và bánh dẻo. Cuối buổi tiệc, tôi chủ động theo anh Tú ra ngoài sân:

 

-       Cám ơn anh Tú đã tặng em một hộp bánh, và tặng lớp một hộp bánh, cả lớp hôm nay thiệt vui.

Anh Tú ngại ngùng:

 

-       Có gì đâu cô! Thú thiệt, nhiều khi tui cũng muốn mời cô đi uống cafe, ăn sáng, nhưng sợ... khoảng cách “Thầy-Trò” nên thôi.

       

Tôi đổi đề tài:

-       Nghe nói anh mới có tên đi Mỹ tuần sau, chúc mừng anh.

-       Ừa, danh sách mới có chiều qua, mà cô cũng đang chờ Mỹ phỏng vấn, phải không? Gia đình tôi cũng ở Texas, nếu có duyên thì chúng mình sẽ gặp lại nhau, nghen cô!

 

Chia tay anh Tú xong, tôi quay vào văn phòng, gặp ngay nụ cười “bí hiểm” của cô Kiều:

-       Ai biểu dạy lớp ESL cho ...người lớn mần chi!? Như chị đây, cứ dạy trẻ em thanh thiếu niên là trái tim tha hồ ngủ yên.

 

Tôi cười lớn:

-       Dạ chị, em xin hứa, nếu có kiếp sau qua trại tỵ nạn, em chỉ đi dạy tiếng Việt tiểu học!

 

Nói đến lớp Việt Ngữ, tôi có một gia đình cả vợ chồng và hai đứa con đều là học trò của tôi. Số là, biết tôi là cô giáo ở Việt Nam, một người bạn nhất quyết rủ tôi vào dạy Tiếng Việt. Tôi nể lời, thế là thời khóa biểu của tôi kín mít mỗi ngày: dạy lớp ESL từ 7 giờ sáng đến 8 giờ sáng, rồi chạy “show” qua trường Việt Ngữ từ 8 giờ cho đến 9 giờ 30 sáng, cuối cùng là chạy qua Văn Phòng Cao Ủy Định Cư làm cho đến 4 giờ chiều (có về nhà nghỉ trưa).

Tại trường Việt Ngữ có 4 khối lớp: Lớp A: Trẻ Mẫu Giáo-lớp 1-2/ Lớp B: Cho trẻ lớp 3-4-5/ Lớp C: Cho học sinh lớp 6- 7-8-9/ và Lớp D: Cho học sinh lớp 10-11-12.

Tôi phụ trách lớp B, tức là lớp 3-4-5, là vào lớp, tùy theo độ tuổi của mỗi em mà dạy Toán theo đúng trình độ, riêng môn Lịch Sử và Văn thì dạy chung.

 

Lớp của tôi, các em tuổi từ 9 đến 12  thiệt là dễ thương, tôi được làm đúng chuyên môn giảng dạy, đúng sở trường được đào tạo nên tha hồ tung hoành với các em nơi môi trường tỵ nạn. Trong lớp có hai anh em thằng Lụm và con Đẹp, lanh lợi y chang như ba má nó là anh chị Hải, là học trò lớp ESL của tôi.

 

Họ là dân miền quê Kiên Giang, qua trại là “con bà phước” tức là không có thân nhân nước ngoài viện trợ, nên họ buôn bán hàng rong, với mâm chuối chiên, chuối nướng bọc nếp chan nước dừa.

 

Chiều hôm đó tôi đang đi lang thang kiếm đồ ăn vặt, từ xa thấy chị Hải đang đứng chống nạnh đôi co với bạn hàng bên cạnh. Anh Hải đứng kế bên cố ngăn cản vợ, nhưng chị càng giận dữ:

 

-       Tui nói cho nghe, đi qua trại là để định cư xứ phương tây, chứ không phải sống chết nơi này, nên đừng có mà tranh giành bon chen, đừng chơi xấu với tui.

 

Công bằng mà nói, chị Hải lanh lợi, là người biết trước biết sau, trong lớp học không gây hấn, mất lòng bất cứ ai. Chị và chồng rất siêng học, có khi buổi tối gần giờ giới nghiêm, tôi đi dạo trong trại, ngang qua nhà thấy anh chị thắp đèn làm bài tập, chị bảo cả ngày lo buôn bán nên chỉ có ban đêm mới rảnh học bài. Nay thấy chị đang vì miếng cơm manh áo mà gây lộn, tôi chẳng hiểu ất giáp gì, tính bỏ đi hướng khác thì thằng Lụm con Đẹp nhìn thấy tôi, chúng khoanh tay cúi đầu chào, rồi la lớn:

-       Má ơi, má ơi, cô giáo tới kìa!!!

  

Ai ngờ, câu nói đó lại có tác dụng ngay lập tức, anh Hải khỏi phải ra sức ngăn cản, chị liền dừng cuộc cãi vã, quay qua tôi, dịu giọng: “Cô giáo ngồi chơi! Ăn chuối nướng hen?!” nhưng vẫn không quên quăng cho “đối thủ” câu cuối: “Nay có cô giáo nên tui bỏ qua, lần sau đừng trách tui!”.

 

Suốt buổi ngồi tiếp tôi ăn, chị Hải phân bày lý do sự xung đột, là vì chị bị ép uổng nhiều quá, không nhịn được nữa. Nhìn mồ hôi lấm tấm trên khuôn mặt chị, thỉnh thoảng cười mắc cỡ, y chang như nụ cười hồi Tết, vợ chồng chị gói bánh tét bán, tôi đặt mua hai cái cúng giao thừa. Đến khi tôi ghé lấy, chị tặng tôi thêm 1 cái, nói là “gia đình học trò tết riêng cô giáo”. Tôi dứt khoát không nhận, lấy thêm tiền ra đưa, chị cũng dứt khoát không chịu, giằng qua kéo lại, cuối cùng tôi bèn lấy tiền đó lì xì cho thằng Lụm con Đẹp chị mới cười bẽn lẽn chịu thua.

 

Vậy đó, những học trò “đặc biệt” một thời của tôi, mỗi khi nhớ lại là cảm xúc dâng tràn vì những ân tình chúng tôi dành cho nhau nơi mảnh đất tạm dung ấy.

 

Tôi vô cùng biết ơn truyền thống “tôn sư trọng đạo” của dân tộc, tổ tiên mình để lại, mà câu “nhất tự vi sư, bán tự vi sư” đã in sâu trong giao tiếp của bao thế hệ người Việt Nam, cụ thể là người VNCH. Thế nên ở trại, dù có học trò lớn tuổi, họ vẫn trân trọng gọi tôi là “cô” xưng “em” hoặc xưng  “tui” ngọt ngào thân mến. Còn các em trong lớp Việt Ngữ thì khỏi nói, chúng sợ cô giáo một phép, dù chỉ là lớp học tỵ nạn, vì vẫn có mấy bà má ông bố hồn nhiên nói với tôi:

 

-       Nó mà hư, cô cứ thoải mái guýnh nó giùm tui nha!

 

Edmonton, Tháng 9/2025

KIM LOAN

Gửi ý kiến của bạn
Vui lòng nhập tiếng Việt có dấu. Cách gõ tiếng Việt có dấu ==> https://youtu.be/ngEjjyOByH4
Tên của bạn
Email của bạn
)
Trong cuộc đời, ắt hẳn bạn đã nhiều lần bước trên lối mòn giữa một cánh đồng cỏ hay trong một khu rừng? Thoạt đầu, lối mòn ấy cũng đầy hoa hoang cỏ dại như chung quanh, nhưng những bước chân người dẫm lên qua ngày tháng đã tạo thành một con đường bằng phẳng. Ký ức chúng ta cũng tương tự như lối mòn ấy. Những trải nghiệm với cảm xúc mạnh mẽ trong quá khứ được nhớ đi nhớ lại như những bước chân đi trên lối mòn góp phần hình thành ký ức, và cả con người chúng ta. Người Mỹ gọi loại ký ức này là “core memory” mà ta có thể dịch ra Việt ngữ là ký ức cốt lõi. Với tôi, ký ức cốt lõi ấy là những gì xẩy ra cho tôi và gia đình trong quãng thời gian kể từ khi thị xã Ban Mê Thuột thất thủ ngày 12 tháng Ba năm 1975, kéo theo sự sụp đổ của miền Nam Việt Nam chưa đến bẩy tuần sau đó. Tôi vẫn nhớ, và nhớ rất rõ.
Vốn là một quân nhân, sau khi triệt thoái từ miền Trung về Saigon, tôi được bổ xung cho một đơn vị pháo binh đang hành quân ở vùng Củ Chi, Tỉnh Tây Ninh, yểm trợ sư đoàn 25 Bộ BinhB. Khoảng ba tuần trước khi mất nước tôi bị thương ở chân. Nằm trong quân y viện Tây Ninh vài ngày, bác sĩ cho về nhà dưỡng thương một tháng ở Saigon.
Ngày xưa, thông thường, chồng của cô giáo được gọi là thầy, cũng như vợ của thầy giáo được gọi là cô. Cho dù người chồng hoặc vợ không làm việc trong ngành giáo dục. Nhưng trường hợp cô giáo tôi, cô Đỗ Thị Nghiên, trường Nữ Tiểu Học Quảng Ngãi thì khác. Chồng của cô, thầy Nguyễn Cao Can, là giáo sư dạy trường Nữ Trung Học Quảng Ngãi. Cô Đỗ Thị Nghiên dạy lớp Bốn, trường Nữ Tiểu Học. Trong mắt nhìn của tôi, của con bé mười tuổi thuở ấy, cô Nghiên là một cô giáo rất đặc biệt. Cô nói giọng bắc, giọng nói trầm bổng, du dương. Tóc cô ngắn, ôm tròn khuôn mặt. Da cô trắng nõn nà. Có lần ngoài giờ học, trên đường phố của thị xã Quảng Ngãi, tôi thấy hai vợ chồng thầy Can, cô Nghiên đèo nhau trên xe gắn máy. Cô mặc jupe, mang kính mát, ngồi một bên, tréo chân, khép nép dựa vai thầy. Ấn tượng để lại trong trí của con bé tiểu học là hình ảnh của đôi vợ chồng sang trọng, thanh lịch, tân thời, cùng mang thiên chức cao cả: dạy dỗ lũ trẻ con nên người.
Tháng Tư này tròn 50 năm biến cố tang thương của miền Nam Việt Nam, những người Việt hải ngoại, đời họ và thế hệ con cháu đã trưởng thành và thành công trên xứ người về mọi mặt học vấn cũng như công ăn việc làm. Họ đang hưởng đời sống ấm no tự do hạnh phúc đúng nghĩa không cần ai phải tuyên truyền nhồi sọ. Nhưng trong lòng họ vẫn còn bao nhiêu kỷ niệm thân thương nơi chốn quê nhà.
Có một buổi trưa, hai đứa đang thưởng thức bò bía, đậu đỏ bánh lọt ở chùa Xá Lợi, góc Bà Huyện Thanh Quan và Ngô Thời Nhiệm (?), thì gặp một "cái bang". Đầu đội khăn rằn, đeo mắt kiếng cận nặng, cổ quấn vài ba chiếc khăn đủ màu và ông còn dẫn theo hai con chó, vừa đi vừa múa tay múa chân như người say rượu. Chừng như ông không cần thấy ai, chung quanh chỉ có ông và hai con chó. Người đàn ông "cái bang" đó là nhà thơ, nhà văn, nhà biên khảo nổi tiếng của Việt Nam: Bùi Giáng. Hai con chó vừa đi vừa sủa vang, khiến một số nữ sinh Gia Long đang đứng quanh xe bò bía, vội vã chạy né qua bên kia đường. T
Một ngày nọ, ngài gặp một bà mẹ, bà ôm một đứa con vừa mất vừa đi vừa khóc lóc thảm thiết, ai cũng mũi lòng thương, thông cảm vì mất con là nỗi đau khổ nhứt trong cuộc đời… người ta mách bảo là bà nên gặp Sa Môn Cồ Đàm, bà sung sướng bế con đã mất đi ngay và gặp phật, xin phật dùng phép thần thông cứu sống con bà. Xung quanh phật, các tì kheo đang ngồi cầu nguyện cho chúng sanh được giải thoát và cũng cầu nguyện cho các chúng sanh còn tại thế sẽ may mắn mà gặp được giáo pháp của Như Lai. Rồi người mẹ đau khổ cũng được gặp phật.
Cuối tháng Ba, những cơn gió nóng tràn về thành phố. Một hai trận mưa lạc loài đến sớm rồi thôi. Không khí ngột ngạt. Mùi đất nồng khó chịu. Như một cô gái uể oải trong cơn bệnh, thành phố trông mệt mỏi, rạc rời. Đoan đi vào Câu lạc bộ của trường. Bình thường, cứ đến thứ Sáu là không khí chuẩn bị cho chiều văn nghệ thứ Bảy lại nhộn nhịp. Nhưng hôm nay, như có một cái gì kéo mọi thứ chùng xuống. Chị Thuận, người phụ trách Câu lạc bộ, mỉm cười khi thấy Đoan, nhưng là một nụ cười kém tươi. Chị vẫn câu chào hỏi thường lệ: “Em uống gì không?” “Dạ, chị cho em nước chanh.” Chị Thuận pha ly nước chanh đặc biệt, nóng, ít đường, mang đến để trước mặt Đoan, và kéo ghế ngồi xuống bên Đoan. Hình như không có gì để bắt chuyện, chị Thuận nhìn ra sân, nói nhỏ:
Tôi khép cánh cửa phòng ngủ, rón rén bước ra, sợ gây tiếng động làm thằng cháu nội lại giật mình thức giấc; thằng bé đã mười tháng tuổi, biết làm đủ thứ trò như con khỉ con, chiếc mũi bé xíu của nó chun lại, đôi môi dầy cong lên, mỗi khi bà nội bảo nó làm xấu, thật dễ thương, canh nó hơi mệt vì phải chơi cho nó đừng chán, lèo nhèo, nhưng chơi nhiều thì sức bà nội có hạn, làm sao chạy theo nó cả ngày được!
Những cái mặt hướng về phía trước. Những cái đầu hơi cúi, những cái lưng hơi còng có lẽ bởi sức nặng của chiếc ba lô đeo sau lưng, hay tại - nói một cách màu mè, văn vẻ, đầy giả dối là - gánh nặng của đời sống. Trước mặt tối đen. Bên phải là những cánh cửa cuộn bằng tôn đóng kín. Những cánh cửa lạnh lùng, vô cảm; lầm lì từ khước, âm thầm xua đuổi. Dưới chân là nền xi măng. Cứng và lạnh. Không thể là nơi tạm dừng chân, nghỉ mệt. Sâu vào phía sát vách là nền lót những viên gạch vuông. Không một cọng rác. Không một bóng chó hoang, mèo lạc. Không cả những hình hài vô gia cư bó gối vẩn vơ nhìn nhân gian qua lại.
Đức hạnh cao quý thể hiện thành tâm vô phân biệt. Tâm vô phân biệt tạo thành một sự bình đẳng tuyệt đối trong giáo pháp của đức phật. Giáo pháp thâm sâu vi diệu của Như Lai thì không phải ai cũng hiểu hết, cũng ngộ được điều đó đa phần các vị đại trí thấu đạt. Còn lòng từ bi của phật thì lan tỏa vô phân biệt như ánh sáng mặt trời soi sáng khắp nơi nơi, như mưa rơi tắm mát đại ngàn. Những lời giảng dậy trên đây được dẫn chứng nhiều và rõ nhứt là ở phật giáo Tây Tạng.
Anh Hai của tôi, sau chuyến vượt biên thất bại, bị giam ở nhà tù Bình Đại Bến Tre chín tháng, khi trở lại trường Phan Thanh Giản, Cần Thơ mới biết đã bị cắt hộ khẩu, mất việc làm, bèn quay về Sài Gòn sống tạm với gia đình, chờ cơ hội vượt biên tiếp theo. Một hôm, anh bị cơn sốt rét tái phát hành hạ, (hậu quả của những ngày trong trại giam), cần phải đến bệnh viện chữa trị, nhưng hộ khẩu không có, anh bèn mượn cái Sổ Sức Khỏe của thằng cháu (con bà chị họ ở kế bên nhà), để đi khám bệnh
Năm đó, tôi qua Arlington,Texas thăm gia đình, rồi ghé Dallas thăm người hàng xóm cũ thân thiết từ khi còn ở Việt Nam . Chú Thím ấy đónvợ chồng tôi nồng hậu như mọi khi, bữa ăn đặc sản món Huế như tôi yêu cầu, sau đó kéo nhau ra phòng khách ăn bánh uống trà . Rồi Thím gọi cháu ngoại: - Thiên Ân ơi, ra đây ca hát cho hai bác Canada nghe đi con.-Cô bé hai, ba tuổi tung tăng ngoan ngoãn khoanh tay chào chúng tôi, rồi bạo dạn chạy ra giữa phòng, tay giả bộ cầm micro phone, rồi nhún nhảy tự nhiên hát một bài hát Tiếng Việt thật rõ ràng .


Kính chào quý vị,

Tôi là Derek Trần, dân biểu đại diện Địa Hạt 45, và thật là một vinh dự lớn lao khi được đứng nơi đây hôm nay, giữa những tiếng nói, những câu chuyện, và những tâm hồn đã góp phần tạo nên diện mạo văn học của cộng đồng người Mỹ gốc Việt trong suốt một phần tư thế kỷ qua.
Hai mươi lăm năm! Một cột mốc bạc! Một cột mốc không chỉ đánh dấu thời gian trôi qua, mà còn ghi nhận sức bền bỉ của một giấc mơ. Hôm nay, chúng ta kỷ niệm 25 năm Giải Viết Về Nước Mỹ của nhật báo Việt Báo.

Khi những người sáng lập giải thưởng này lần đầu tiên ngồi lại bàn thảo, họ đã hiểu một điều rất căn bản rằng: Kinh nghiệm tỵ nạn, hành trình nhập cư, những phức tạp, gian nan, và sự thành công mỹ mãn trong hành trình trở thành người Mỹ gốc Việt – tất cả cần được ghi lại. Một hành trình ý nghĩa không những cần nhân chứng, mà cần cả những người viết để ghi nhận và bảo tồn. Họ không chỉ tạo ra một cuộc thi; họ đã và đang xây dựng một kho lưu trữ. Họ thắp lên một ngọn hải đăng cho thế hệ sau để chuyển hóa tổn thương thành chứng tích, sự im lặng thành lời ca, và cuộc sống lưu vong thành sự hội nhập.

Trong những ngày đầu ấy, văn học Hoa Kỳ thường chưa phản ánh đầy đủ sự phong phú và đa dạng về kinh nghiệm của chúng ta. Giải thưởng Viết Về Nước Mỹ thực sự đã lấp đầy khoảng trống đó bằng sự ghi nhận và khích lệ vô số tác giả, những người đã cầm bút và cùng viết nên một thông điệp mạnh mẽ: “Chúng ta đang hiện diện nơi đây. Trải nghiệm của chúng ta là quan trọng. Và nước Mỹ của chúng ta là thế đó.”


Suốt 25 năm qua, giải thưởng này không chỉ vinh danh tài năng mà dựng nên một cộng đồng và tạo thành một truyền thống.
Những cây bút được tôn vinh hôm nay không chỉ mô tả nước Mỹ; họ định nghĩa nó. Họ mở rộng giới hạn của nước Mỹ, làm phong phú văn hóa của nước Mỹ, và khắc sâu tâm hồn của nước Mỹ. Qua đôi mắt họ, chúng ta nhìn thấy một nước Mỹ tinh tế hơn, nhân ái hơn, và sau cùng, chân thật hơn.

Xin được nhắn gửi đến các tác giả góp mặt từ bao thế hệ để chia sẻ tấm chân tình trên các bài viết, chúng tôi trân trọng cảm ơn sự can đảm của quý vị. Can đảm không chỉ là vượt qua biến cố của lịch sử; can đảm còn là việc ngồi trước trang giấy trắng, đối diện với chính mình, lục lọi ký ức đau thương sâu đậm, và gửi tặng trải nghiệm đó đến tha nhân. Quý vị là những người gìn giữ ký ức tập thể và là những người dẫn đường cho tương lai văn hóa Việt tại Hoa Kỳ.

Với Việt Báo: Xin trân trọng cảm ơn tầm nhìn, tâm huyết, và sự duy trì bền bỉ giải thưởng này suốt một phần tư thế kỷ.
Khi hướng đến 25 năm tới, chúng ta hãy tiếp tục khích lệ thế hệ kế tiếp—những blogger, thi sĩ, tiểu thuyết gia, nhà phê bình, nhà văn trẻ—để họ tìm thấy tiếng nói của chính mình và kể lại sự thật của họ, dù đó là thử thách hay niềm vui. Bởi văn chương không phải là một thứ xa xỉ; đó là sự cần thiết. Đó là cách chúng ta chữa lành, cách chúng ta ghi nhớ, và là cách chúng ta tìm thấy nơi chốn của mình một cách trọn vẹn.

Xin cảm ơn quý vị.

NHẬN TIN QUA EMAIL
Vui lòng nhập địa chỉ email muốn nhận.