Hôm nay,  

50 Năm, Tiếng Việt Trên Đất Mới

14/03/202500:00:00(Xem: 5542)

IMG_1841
KimLoan và Thiên Ân (áo đen) trong đêm văn nghệ Tết 2023 tại Arlington, Texas
 
Năm đó, tôi qua Arlington,Texas thăm gia đình, rồi ghé Dallas thăm người hàng xóm cũ thân thiết từ khi còn ở Việt Nam . Chú Thím ấy đón vợ chồng tôi nồng hậu như mọi khi, bữa ăn đặc sản món Huế như tôi yêu cầu, sau đó kéo nhau ra phòng khách ăn bánh uống trà . Rồi Thím gọi cháu ngoại:

- Thiên Ân ơi, ra đây ca hát cho hai bác Canada nghe đi con.

Cô bé hai, ba tuổi tung tăng ngoan ngoãn khoanh tay chào chúng tôi, rồi bạo dạn chạy ra giữa phòng, tay giả bộ cầm micro phone, rồi nhún nhảy tự nhiên hát một bài hát Tiếng Việt thật rõ ràng .

Cũng giống như một số gia đình Việt Nam ở hải ngoại, bé Thiên Ân được ông bà “babysit” nên Tiếng Việt là tiếng nói đầu đời. Nhờ có gene từ ba, mẹ có giọng hát hay nên mới mấy tuổi đầu mà bé hát rất hay, nhịp nhàng hết cả bài hát.
 
Rồi cứ như thế, khoảng vài năm tôi lại ghé thăm Chú Thím, lại được nghe bé Thiên Ân hát, rồi  bé lớn dần đến tuổi đi học, vẫn là giọng hát bạo dạn say mê. Tôi được chứng kiến giọng hát ấy, cô bé ấy trưởng thành theo thời gian.

Năm 8 tuổi bé tham gia chương trình Vstar Kids do Trung Tâm Thúy Nga và VietFace TV tổ chức và đã được vào vòng chung kết . Cũng từ cuộc thi đó, cái tên Celine Thiên Ân bắt đầu được biết đến rộng rãi trong cộng đồng Người Việt ở vùng Dallas –Grand PrairieTexas, mỗi lần có dịp đến Nam California Thiên Ân đều có mặt trong “Công Thành Show” và mùa Giáng Sinh nào cũng được mời hát Thánh Ca .

Thiên Ân Cờ Vàng
Thiên Ân trong ngày tốt nghiệp High School Hè 2024
 
Rồi Celine Thiên Ân bước qua tuổi niên thiếu, vào High School, tiếng hát càng bay xa và là giọng ca không thể thiếu trong các dịp Tết Trung Thu, Tết Nguyên Đán của cộng động Việt Nam vùng Dallas và lân cận. Em đã từng được mời hát Quốc Ca Mỹ mở màn trong trận bóng rổ NBA tại Dallas giữa hai đội Mavericks và Phoenix Suns với chiếc áo dài Việt Nam rực rõ trước hàng ngàn khán giả.

Mùa hè năm 2024, Celine Thiên Ân tốt nghiệp High School với danh dự là Valedictorian nên được chọn là đại diện học sinh Việt Nam tiến lên lễ đài. Tuyệt vời thay là hình ảnh một cô bé đẹp xinh, học giỏi, bước đi với lá cờ Vàng VNCH trên tay, tiêu biểu cho thế hệ tiếp nối Con Rồng Cháu Tiên trên đất Mỹ. Trong bài phát biểu ngày ra trường, Thiên Ân cũng dành ít phút để nói Tiếng Việt dành cho Ông Bà, người thân ngồi dưới khán đài, một cử chỉ đáng yêu và tự hào xiết bao.

Hiện nay Thiên Ân đang học năm Nhất Đại Học với ước mơ trở thành Nha Sĩ, và vẫn tiếp tục đam mê ca hát phục vụ cộng đồng Việt Nam.
 
Một cô gái trẻ khác tôi muốn nói đến là em Mê Linh Phạm, dù tôi không trực tiếp biết em nhưng tôi có trong nhóm Văn, Thơ Cô Gái Việt, Minh Châu Trời Đông chung với bác ruột của em. Nhờ vậy, chúng tôi được giới thiệu xem những youtubes em hát, những show em biểu diễn.

IMG_2315
KimLoan và con gái, Amanda Hồng Đào trong một dịp thiện nguyện Hội Heritage tại Edmonton, Canada
 
Nếu Celine Thiên Ân có giọng hát khỏe, nội lực phù hợp với những bài hát vui nhộn, thì Mê Linh “chuyên trị” dòng nhạc hơi kén người nghe, đó là nhạc thính phòng. Tôi tìm thêm youtubes để biết nhiều hơn về cô bé này, qua chương trình Ước Mơ Việt nghe em ca Giấc Mơ Hồi Hương với dáng dấp thanh mảnh, khuôn mặt xinh xắn, đúng là  Á Khôi Duyên Dáng Sinh Viên Liên Trường Nam California 2022.

Hãnh diện thay thế hế tiếp nối, đã và đang duy trì “tiếng nước tôi”, mà hai trường hợp Celine Thiên Ân và Mê Linh Phạm là ví dụ điển hình, và chắc chắn còn rất nhiều em trẻ khác, sinh trưởng trên đất Mỹ, nhưng mang dòng máu và tâm hồn Việt Nam đậm đà.

IMG_2317
Amanda Hồng Đào làm MC Tiếng Việt trong Hội Tết Trung Thu tại Edmonton, Canada
 
Giờ thì tôi xin chuyển hướng qua Canada, mà khỏi cần kiếm đâu xa, con gái tôi, Amanda cũng là một trường hợp có năng khiếu Tiếng Việt từ lúc còn bé xíu. Khi chưa đi học, ở nhà nói và nghe Tiếng Việt là chuyện đương nhiên, nhưng “nàng” biết cảm nhận ngôn ngữ nhạy bén. Hồi “nàng” 4-5 tuổi, vì còn biếng ăn nên vẫn bú sữa bình, hôm ấy “nàng” đang nằm vắt chân chữ ngũ trên sàn nhà, bú sữa, tôi có chuyện gì đó bực mình, nên lỡ miệng la mắng “nàng” và gọi là “mày” . Thế là “nàng” giận, quăng bình sữa vào góc nhà, rồi đứng giậm chân khóc lóc:

- Mẹ không được gọi con là “mày”, mẹ phải gọi con là “con”.

Tôi liền hờn mát, cao giọng:

- Ừ, thì “con”!

Nhưng “nàng” khóc to hơn:

- Không! Mẹ phải nói “con” nhẹ nhàng dịu dàng, không được lớn tiếng.
 
Lần này, tôi bật cười và ôm “nàng” xin lỗi.
 
Rồi “nàng” lớn lên, chín mười tuổi nghe nhạc Việt cùng ba cùng mẹ, biết hát ngon lành ngọt xớt nguyên cả bài hát“ hoa vẫn hồng trước sân nhà tôi/ chim vẫn hót trong vườn nhà tôi.” (tác giả Thanh Tùng), rồi  “mai tôi đi  chắc trời giăng mưa lũ/ mưa thì mưa chắc tôi không bước vội ..” (tác giả Nguyên Sa/Song Ngọc), và vài bài hát khác dù “nàng” đã đi học, tiếp xúc với ngôn ngữ và âm nhạc Phương Tây .
 
Có lần tôi gọi “nàng”:

- Đà ơi, Đà ơi

“Nàng” liền phụng phịu:

- Tên con là Amanda đẹp vậy, mẹ cứ gọi “Đà Đà” nghe xấu hoắc, y như bác Hai gọi chị Elly là “Lì”, gọi chị Tiffany là “Nì”, kỳ cục quá!

- Ủa ủa, mẹ gọi con bao năm nay con có nói gì đâu, sao bây giờ phản đối? Mà nè, trước khi chọn tên Amanda cho con, mẹ tính chọn tên Jennifer đấy, giờ còn muốn “Đà” hay muốn “Phờ”?

- Thì bây giờ con lớn rồi, con không muốn “Đà”, càng không muốn “Phờ”!  Hay mẹ gọi con là Đào, Hồng Đào, giống như cô Hồng Đào diễn hài trên chương trình Thúy Nga, con thích tên đó.
 
Ui chu choa ơi, có lẽ “nàng” là cô bé duy nhất, hoặc là cô bé đầu tiên, ở hải ngoại tự đặt tên Việt cho mình, và từ đó đến nay đi đâu gặp người Việt “nàng” cũng giới thiệu:

- Dạ, tên con là Amanda Hồng Đào.
 
Vào tuổi niên thiếu từ cấp hai đến cấp ba, tôi cho Amanda tham gia sinh hoạt nơi Hội Người Việt, vào nhóm múa, từng làm MC tiếng Việt cho Hội Tết Trung Thu, và hát Quốc Ca Canada-Việt Nam trong một lần Hội Chợ Tết Cộng Đồng .

Đến Nhà Thờ , Amanda vào nhóm tình nguyện dạy Giáo Lý cho các em bé bằng cả Tiếng Việt và Tiếng Anh, cũng như ghi danh vào nhóm đọc sách Thánh bằng Tiếng Việt (Lời Chúa Cựu Ước) trong những dịp Lễ lớn.
 
Đến nay, khi tôi viết những dòng chữ này thì nàng đã lớn, bước vào tuổi 28 (nên tôi bỏ ngoặc kép ra khỏi chữ nàng). Nàng đang là Head Nurse trong một Children Hospital. Nhờ biết hai thứ tiếng (Việt và English) nên hễ trong bệnh viện có những trường hợp cần thông dịch là nàng được gọi đến giúp đỡ. (Cũng có nhiều chuyện cười ra nước mắt nhờ khả năng bilingual của nàng, tôi đã viết trong các chuyện “Biết Rồi Khổ Lắm ...” và “Đầu Năm Nhiều Chuyện” đăng trên Việt Báo mục Văn Học Nghệ Thuật).
 
Nàng mới vừa lấy chồng gần một năm nay, chồng nàng mang dòng máu Tàu và Tây, nhưng nàng vẫn cho chồng nghe một số bài nhạc Việt mà nàng yêu thích, rồi giải nghĩa từng câu hát cho chồng hiểu, có gì khó hơn thì nàng hỏi tôi:

- Mẹ ơi, “người từ trăm năm/ về khơi tình động/ người từ trăm năm/ về như dao nhọn/ dao vết ngọt đâm/ ta chết trầm ngâm” ...là sao hả mẹ?

Tôi cố vận dụng hết hiểu biết để giảng cả bài hát cho nàng, dù rằng khi Nguyễn Tất Nhiên làm bài thơ này rồi được Phạm Duy phổ nhạc “Thà Như Giọt Mưa” thì tôi còn là cô bé để tóc muỗm dừa, cởi trần tắm mưa ngoài đường.
 
Nhưng bài đó cũng chưa làm khó tôi như bài này:

- Mẹ ơi, “Lệ rưng rưng trên mắt người hôm qua,/Có bóng em lung linh quanh phím ngà/Em xa ta mà vóc dáng kiêu sa/Ta cúi đầu đi về mộ đời ta...” nói sao cho chồng con hiểu đây, ảnh thích điệu hòa âm nhạc này và giọng Quốc Khanh hay quá .

- Ừa, từ từ để mẹ nghĩ xem ...

Tiếc là nhạc sĩ Anh Bằng không còn chớ nếu còn, tôi cũng dám email tác giả hỏi nhờ giúp, như đã từng email nhạc sĩ Phạm Duy chỉ vì tôi và một anh trong ban Báo Chí Giáo Xứ từng tranh luận. Tôi nói rằng “tóc mai sợi vắn sợi dài/ lấy nhau chẳng đặng thương hoài ngàn năm” là từ ca dao Việt Nam, còn anh ấy là “fan cứng” của Phạm Duy cứ nhất quyết đó là câu thơ của Phạm Duy trong bài hát “Tóc Mai Sợi Vắn Sợi Dài”, và kết quả Phạm Duy trả lời là tôi đúng! (thuở đó Google chưa thịnh hành).
 
Nàng vẫn thích hỏi về Tiếng Việt, y như ngày xưa nàng có nhiều điệp khúc, mẹ ơi, tại sao là “chợ búa”, tại sao là “gà qué”, tại sao “buồn cười”, mẹ ơi, mẹ ơi và mẹ ơi ...

Còn tục ngữ, ca dao, dân ca... là cả một kho tàng, nhưng để giảng giải cho sự hay thắc mắc của nàng cũng là một vấn đề, cũng may lúc này đã có bá Google nên mọi chuyện dễ dàng hơn nhiều.
 
Vậy đó, hai mẹ con tôi "học hỏi lẫn nhau". Tôi dạy nàng hiểu sâu sắc hơn Tiếng Việt, nàng cũng giúp tôi chỉnh sửa trong chuyện nói, viết Tiếng Anh, và cả âm nhạc. Hồi nàng còn học Đại Học, mỗi sáng tôi lái xe đưa nàng ra bến xe điện ngầm để đến trường, lúc bài Hello của Adele đang nổi đình đám, nàng mở cho tôi nghe trên xe, hát theo, giải nghĩa những từ tôi chưa nghe kịp, riết tôi thuộc và yêu bài này hồi nào hổng hay. Hiện nay, mấy bài thịnh hành của Taylor Swift nàng cũng ngân nga, tiếc là nàng đã ở riêng với chồng, chớ không thì tôi cũng có thêm vài bài cho hợp phong trào với đám trẻ.
 
Mới đây trong bữa ăn sum họp cuối năm, tôi phải giải thích từng từ từng chữ cho nàng và thằng rể của tôi, một bài vui trên Facebook, đại khái rằng, tiếng Anh đơn giản nói về chữ “chết” là “die”, hoặc “pass away”, trong khi tiếng Việt mình thì ...bao la, đếm mệt nghỉ! Này nhé: chết- ngỏm củ tỏi- đi bán muối-chầu Diêm Vương- gặp ông bà ông vải- chán sống- thích ngắm gà khỏa thân- muốn ăn chuối cả nải- về cõi Niết Bàn- tiêu diêu miền cực lạc- được Chúa gọi về- ở nơi Suối Vàng –nghỉ ngơi nơi chín suối... Nàng và thằng rể cười thả ga, khen tiếng Việt mình độc đáo, phong phú, tuyệt vời!

IMG_1725
KimLoan,(áo đỏ, hàng dưới), khi còn dạy Tiếng Việt tại trường Việt Ngữ Edmonton
  
Thành quả của Celine Thiên Ân, Mê Linh Phạm, Amanda và nhiều trẻ Việt thế hệ thứ 3 tại hải ngoại, là một quá trình thấm nhuần Tiếng Việt từ khi mới ra đời, trong chiếc nôi ông bà cha mẹ họ hàng cùng dạy dỗ con cháu không quên tiếng nói cội nguồn, là những buổi học tại các trường Việt Ngữ khắp nơi của các Hội Người Việt, Chùa, Nhà Thờ Công Giáo, Hội Thánh Tin Lành .v.v..
 
Tôi cũng từng là cô giáo Việt Ngữ tại Hội Người Việt Edmonton một thời gian. Năm đầu tiên, tôi dạy lớp Một, có một cô gái trẻ dẫn đứa con gái lai chừng 7-8 tuổi đến ghi danh. Xong xuôi, cô ấy giới thiệu người chồng da trắng đứng bên cạnh:

- Chị ơi, cho em ghi danh ông xã em, Joshua vào học lớp Một cùng với con gái em luôn nha!

Tôi cười cười, vì nghĩ cô ấy nói đùa, nhưng cô ấy rất nghiêm túc:

- Em nói thiệt đó chị, vì hàng năm tụi em đều dzìa quê Tiền Giang thăm gia đình em, nên ảnh muốn học Tiếng Việt để còn nghe bên vợ nói chuyện. Vả lại, ảnh là người đưa con đến đây học, rồi ảnh vào học luôn, học xong ảnh lái đưa con về, khỏi mất công đón đưa.
 
Thế là lớp tôi có một “học sinh đặc biệt”. Chàng Canada này dễ thương lắm, giờ ra chơi, chàng thực tập Tiếng Việt với mấy “bạn” cùng lớp, nhiều phen cười bể bụng .

Mùa chuẩn bị Tết đến, lớp nào cũng chỉ học tiết đầu, sau giờ ra chơi là tập Văn Nghệ để trình diễn tại Hội Chợ Tết, vui hết biết. Bên đây tôi mở nhạc Trống Cơm tập cho lớp mình, bên kia là bài múa Nắng Xuân, dưới lầu thì tập kịch, Áo Dài show, còn mấy em không trong nhóm múa thì gom lại ... hợp ca Xuân Đã Về, cả trường chộn rộn, chàng “học trò” Canada ngồi xem chúng tôi tập dượt đầy thích thú, rồi chạy qua tiệm Bakery đầu đường mua bánh bồi dưỡng cho mọi người.
 
Sau gần chục năm (dạy lớp Viêt Ngữ và trong Ban Chấp Hành của Hội), gia đình tôi dọn về phía Bắc, xa trung tâm nên tôi không còn tham gia sinh hoạt với Hội Người Việt. Thỉnh thoảng  đi chợ, hoặc đi đâu đó, gặp lại các em học trò cũ. Thực tình mà nói, ngoài những đứa vẫn nói Tiếng Việt khá rành rẽ, cũng có đứa nói lõm bõm, có đứa quên hẳn Tiếng Việt, trả hết cho Thầy Cô, nhưng vẫn cúi đầu chào Cô rất lễ phép, rồi cười ngượng nghịu khi tôi yêu cầu em phải trả lời cô bằng Tiếng Việt.

Có khi tôi nhận lời làm MC Hội Chợ Tết, lại được nhìn các em học sinh trường Việt Ngữ trong các tiết mục ca múa, lòng tôi lại bồi hồi nhớ về những kỷ niệm của một thời đã qua, cùng với Ban Giám Hiệu và các Thầy Cô khác, với một tâm huyết giữ gìn Tiếng Việt cho các thế hệ sau này, để các em sẽ như bài hát của Phạm Duy: “Tôi yêu tiếng nước tôi, từ khi mới ra đời người ơi, mẹ hiền ru những câu xa vời, à à ơi tiếng ru muôn đời ...”
 
Viết về đề tài dạy Tiếng Việt là rà trúng “đài”... “bệnh nghề nghiệp” ngày xưa, tôi có thể viết nhiều hơn nữa, nhưng xin được tạm dừng nơi đây để viết bài Thơ, dành tặng cho tất cả các Thầy Cô và các học trò Việt Ngữ ở khắp nơi hải ngoại:
 
CÁC EM LÀ NGƯỜI VIỆT NAM
 
Cô dạy các em học tiếng Việt Nam
Để các em nhớ cội nguồn dân tộc
Một đất nước rất xa nơi em sống
Bên bờ Thái Bình có tự ngàn năm
 
Em sẽ hiểu được bao nỗi nhọc nhằn
Những xương máu hy sinh bao thế hệ
Dân tộc Việt Nam mấy lần dâu bể
Khao khát cuộc đời hạnh phúc tự do
 
Học tiếng Việt Nam để biết quê Cha
Để tha thiết muốn hiểu về đất Mẹ
Em sẽ nghe câu ca dao thuở nhỏ
Cha mẹ ông bà đã thấm lời ru
 
Dù em có hiểu ý nghĩa hay chưa
Sự học hỏi vẫn là điều đáng quý
Các em là bầy chim non xa xứ
Nước Việt Nam em chỉ biết bằng lời
 
Các em sẽ có nhiều giấc mộng đời
Ở một nước văn minh và giàu đẹp
Lớp Việt Ngữ là nơi cô đã gặp
Những tâm hồn như giấy trắng thơ ngây
 
Cô và trò cùng tập đọc, vui vầy
Tiếng mẹ đẻ mà sao nghe ngọng nghịu
Có em nói tiếng Việt không ai hiểu
Dẫu vụng về, cố gắng, thương làm sao
 
Cũng có em nói tiếng Việt ngọt ngào
Như tiếng sáo líu lo và rành rẽ
Tự hào thay, những học trò bé nhỏ
Tiếng Việt trên môi thắm đượm tình quê
 
Cô và trò, trong lớp học, mộng mơ
Lũy tre xanh, cánh diều, đồng lúa chín
Kìa dòng sông trôi, con thuyền ghé bến
Đêm trăng thanh nghe gió hát êm đềm
 
Và những câu chuyện cổ tích, thần tiên
Lịch sử, địa lý dải đất hình chữ S
Học đi em, tiếng Việt mình rất đẹp
Để mai này xây dựng lại non sông
 
“Tiếng Việt còn, nước Việt còn”, em biết không?
Dù chúng ta xa quê hương vạn dặm
Cô hạnh phúc vì các em vẫn nhớ
Các em mãi là giòng giống Việt Nam
 
Edmonton, Tháng 3/2025
KIM LOAN
 

Gửi ý kiến của bạn
Vui lòng nhập tiếng Việt có dấu. Cách gõ tiếng Việt có dấu ==> https://youtu.be/ngEjjyOByH4
Tên của bạn
Email của bạn
)
Truyện đầu tiên kể nơi đây là kể về một tiền kiếp của Đức Phật Thích Ca. Khi đó, ngài được gọi là một vị Bồ Tát. Ngày xưa rất là xưa, có hai người thợ săn, là hai vị thủ lĩnh của hai ngôi làng gần nhau. Hai vị trưởng làng đã lập một giao ước rằng nếu con của họ tình cờ khác giới tính, họ sẽ sắp xếp cho hai đứa con này kết hôn với nhau. Đó là một thời phần lớn hôn nhân là do sắp xếp của ba mẹ. Một vị trưởng làng có một cậu con trai được đặt tên là Dukūlakumāra, vì cậu bé được sinh ra trong một tấm vải bọc đẹp; vị trưởng làng kia có một cô con gái tên là Pārikā, vì cô bé được sinh ra ở bên kia con sông. Khi chàng trai và cô gái lớn lên, cha mẹ hai bên đã kết hôn cho hai người con này. Tuy nhiên, chàng trai Dukūlakumāra và cô gái Pārikā đã có nhiều kiếp tu, cùng giữ hạnh trong sạch, cho nên cô dâu và chú rể cùng cam kết bí mật với nhau rằng hai người sẽ ở chung nhà như vợ chồng, sẽ yêu thương nhau như vợ chồng nhưng sẽ không làm mất hạnh trong sạch của nhau.
Rõ ràng thằng bé đã thức. Nhưng khi An bước đến bên giường, mắt cu cậu nhắm tịt lại vờ như đang ngủ. An cù vào nách con : — Giả bộ này. Giả bộ này… / Bin uốn éo người, cười khanh khách. An xốc con dậy, hôn vào đôi má phúng phính: / — Con đánh răng rồi ti sữa cho ngoan nhé. Mẹ đi làm đây. / Bin choàng vòng tay nhỏ xíu quanh cổ mẹ, giọng ngọng nghịu: / — Mẹ ứ đii… / Bà đưa tay đỡ lấy cu Bin: / — Sang đây bà bế. Chiều mẹ lại về với Bin nào. / Chỉ nũng nịu với mẹ chút thôi, chứ Bin rất ngoan. Chưa bao giờ em khóc nhè, vòi vĩnh như những đứa trẻ khác. Sự hiểu chuyện của con, nhiều khi làm An nghe buốt lòng.
Chiếc ghế đá hầu như rất quen thuộc, dù nó cũng như mọi chiếc ghế khác trong công viên. Tháng Sáu. Bầy ve kêu inh ỏi. Chúng vô tư thật! Đoan ngồi xuống. Mấy buổi chiều nay, tan học, Đoan ghé khu vườn rộng lớn này, như một người trở về, cảm giác thật khó tả. Chợt nghe trong đầu vẳng lại lời của một bài thơ:
Cuộc đời trung úy Đỗ Lệnh Dũng, một sĩ quan VNCH, là biểu tượng bi tráng của lòng trung thành, khí phách giữa chiến tranh tàn khốc, và là minh chứng cho nỗi đau kéo dài của những người lính và thương phế binh miền Nam sau cuộc chiến.
Lớn hơn anh Hợp một tuổi, tháng 4 năm 1975, anh Đăng chưa xong năm thứ nhất về Cơ khí ở Phú Thọ, vận nước xoay chiều, ba anh cũng phải đi "học tập cải tạo" như hơn ba trăm ngàn Sĩ quan QLVNCH. Là con trai đầu lòng, anh Đăng bỏ cả ước mơ, bỏ trường về quê, điền vào chỗ trống của người chủ gia đình mà ba anh bỏ lại. Anh sinh viên kính trắng của Phú Thọ bỗng chốc trở thành phụ xe, lơ xe, cũng đổi đời như gần hai chục triệu người dân miền Nam.
Bây giờ trời đã tối, nhiều người đi ngủ sớm. Bọn trẻ học bài dưới bóng ngọn đèn dầu ở ngoại ô, ngọn đèn đường gần bờ sông. Trước hàng rào kẽm gai, một người lính mang súng đi đi lại lại, một đôi tình nhân đi chơi về muộn. Ngọn đèn hỏa châu sáng bừng góc trời một lát rồi tắt. Người yêu quê hương đã đi ra khỏi mảnh đất của những hận thù dai dẳng mà vẫn muốn trở về. Người nông dân muốn cày lại thửa ruộng của mình. Người thợ sửa đồng hồ muốn ngồi lại cái ghế vải nhỏ thấp của mình sau tủ kiếng bày đồng hồ cũ và mới. Lò bánh mì chiếu sáng nhấp nhô bóng những đứa trẻ bán bánh mì đứng trước cửa sổ với bao tải lớn đựng bánh nóng mới ra lò. Con chim về ngủ muộn biến mất trong bụi cây chỗ anh đứng.
Em nằm im lặng nghe đêm thở | Tháng Tư mở đôi mắt trong đêm | Anh ạ, em nghe Tháng Tư khóc | Tháng Tư nhỏ những giọt lệ đen.(tmt)
Con người ngậm kín cái tốt vào lòng. Để khỏi mua lấy vạ hiềm nghi ghen ghét. Tôi nhìn đứa bé từ sau lưng, sự rung động khẽ của đôi vai nhỏ bé, vẻ hạnh phúc của cái gáy nhỏ xíu măng tơ. Phút này qua phút khác, có lẽ lâu lắm, cho đến khi đứa bé bắt đầu thỏa mãn, bú chậm lại, nhưng nó vẫn ôm lấy bầu ngực của người đàn bà lạ, ngủ thiếp đi.
Biển đêm như vô thức một màu đen mênh mông, nhưng biển chứa toàn bộ lịch sử con người từ lúc còn là tế bào phôi sống cho đến khi biến thành DNA, rồi từ thú vật tiến lên con người. Lịch sử đó đầy ngập dữ liệu nhưng chôn sâu dưới đáy nước. Hồi tưởng chỉ là những con sóng nổi dập dìu, cho dù sóng lớn dữ dằn trong bão tố vẫn không mang được hết đáy nước lên trên mặt. Vì vậy, biển lúc nào cũng bí mật. Vô thức cũng bí mật. Càng gây thêm khó khăn để chứng minh sự thật vì vô thức có khả năng biến đổi dữ liệu hồi tưởng. Chỉ những người thiếu bản lãnh mới tin vào trí nhớ của mình và của người khác. Nhưng toàn bộ nhân loại sống và tạo ra ý nghĩa hầu hết dựa vào bộ nhớ. Một số ít người hiểu rõ điều này, nhưng không làm gì khác hơn, vì hồi tưởng tự động và tự nhiên xuất hiện dù không đầy đủ, kể cả, khi con người kêu gọi ký ức đến, nó cũng đến trên xe lăn, hoặc chống nạn, hoặc bò lết như kẻ tàn tật.
Chiến tranh là một nỗi đau dằn vặt của nhân loại vì không ai muốn nó xảy ra, nhưng chiến tranh vẫn cứ xảy đến như một điều kiện cần thiết biện minh cho sự tồn tại của thế giới con người. Ngày Ba mươi tháng 4 năm 1975 là một cột mốc đánh dấu một biến cố chính trị trong lịch sử chính trị thế giới, ngày cuộc chiến tranh Việt Nam (1954-1975) chấm dứt.
Năm mươi năm nhìn lại, sau ngày 30 tháng 04, 1975, cái dấu mốc lịch sử đau thương của đất nước Việt Nam, nói chung, và người dân miền Nam nói riêng. Sự thật lịch sử về ngày này đã được phơi bày rõ ràng trên mọi phương tiện truyền thông, tin tức, và trong thế giới sử. Ai cũng đã rõ, phe thắng trận, sai, phe thua trận, đúng. Điều này không cần bàn cãi nữa; cho dù kẻ chiến thắng cố tình viết lại lịch sử Việt Nam theo ý mình khi sức mạnh của họ nằm trên nòng súng. Phe thua cuộc lại là phe thắng được nhân tâm.
Tháng Tư chuếnh choáng. Say chẳng phải vì rượu dẫu chỉ nhấp môi hoặc thậm chí trong đám bạn có kẻ chẳng uống giọt nào. Nhưng họ vẫn say như thường. Những hồi ức tháng Tư lần lượt xuất hiện như một chất men nhưng không thể làm người ta quên mà chỉ là giây phút hiếm hoi nhắc nhớ để rồi quên. Quên tạm thời nỗi niềm chất chứa mà không làm sao quên hẳn.


Kính chào quý vị,

Tôi là Derek Trần, dân biểu đại diện Địa Hạt 45, và thật là một vinh dự lớn lao khi được đứng nơi đây hôm nay, giữa những tiếng nói, những câu chuyện, và những tâm hồn đã góp phần tạo nên diện mạo văn học của cộng đồng người Mỹ gốc Việt trong suốt một phần tư thế kỷ qua.
Hai mươi lăm năm! Một cột mốc bạc! Một cột mốc không chỉ đánh dấu thời gian trôi qua, mà còn ghi nhận sức bền bỉ của một giấc mơ. Hôm nay, chúng ta kỷ niệm 25 năm Giải Viết Về Nước Mỹ của nhật báo Việt Báo.

Khi những người sáng lập giải thưởng này lần đầu tiên ngồi lại bàn thảo, họ đã hiểu một điều rất căn bản rằng: Kinh nghiệm tỵ nạn, hành trình nhập cư, những phức tạp, gian nan, và sự thành công mỹ mãn trong hành trình trở thành người Mỹ gốc Việt – tất cả cần được ghi lại. Một hành trình ý nghĩa không những cần nhân chứng, mà cần cả những người viết để ghi nhận và bảo tồn. Họ không chỉ tạo ra một cuộc thi; họ đã và đang xây dựng một kho lưu trữ. Họ thắp lên một ngọn hải đăng cho thế hệ sau để chuyển hóa tổn thương thành chứng tích, sự im lặng thành lời ca, và cuộc sống lưu vong thành sự hội nhập.

Trong những ngày đầu ấy, văn học Hoa Kỳ thường chưa phản ánh đầy đủ sự phong phú và đa dạng về kinh nghiệm của chúng ta. Giải thưởng Viết Về Nước Mỹ thực sự đã lấp đầy khoảng trống đó bằng sự ghi nhận và khích lệ vô số tác giả, những người đã cầm bút và cùng viết nên một thông điệp mạnh mẽ: “Chúng ta đang hiện diện nơi đây. Trải nghiệm của chúng ta là quan trọng. Và nước Mỹ của chúng ta là thế đó.”


Suốt 25 năm qua, giải thưởng này không chỉ vinh danh tài năng mà dựng nên một cộng đồng và tạo thành một truyền thống.
Những cây bút được tôn vinh hôm nay không chỉ mô tả nước Mỹ; họ định nghĩa nó. Họ mở rộng giới hạn của nước Mỹ, làm phong phú văn hóa của nước Mỹ, và khắc sâu tâm hồn của nước Mỹ. Qua đôi mắt họ, chúng ta nhìn thấy một nước Mỹ tinh tế hơn, nhân ái hơn, và sau cùng, chân thật hơn.

Xin được nhắn gửi đến các tác giả góp mặt từ bao thế hệ để chia sẻ tấm chân tình trên các bài viết, chúng tôi trân trọng cảm ơn sự can đảm của quý vị. Can đảm không chỉ là vượt qua biến cố của lịch sử; can đảm còn là việc ngồi trước trang giấy trắng, đối diện với chính mình, lục lọi ký ức đau thương sâu đậm, và gửi tặng trải nghiệm đó đến tha nhân. Quý vị là những người gìn giữ ký ức tập thể và là những người dẫn đường cho tương lai văn hóa Việt tại Hoa Kỳ.

Với Việt Báo: Xin trân trọng cảm ơn tầm nhìn, tâm huyết, và sự duy trì bền bỉ giải thưởng này suốt một phần tư thế kỷ.
Khi hướng đến 25 năm tới, chúng ta hãy tiếp tục khích lệ thế hệ kế tiếp—những blogger, thi sĩ, tiểu thuyết gia, nhà phê bình, nhà văn trẻ—để họ tìm thấy tiếng nói của chính mình và kể lại sự thật của họ, dù đó là thử thách hay niềm vui. Bởi văn chương không phải là một thứ xa xỉ; đó là sự cần thiết. Đó là cách chúng ta chữa lành, cách chúng ta ghi nhớ, và là cách chúng ta tìm thấy nơi chốn của mình một cách trọn vẹn.

Xin cảm ơn quý vị.

NHẬN TIN QUA EMAIL
Vui lòng nhập địa chỉ email muốn nhận.