Hôm nay,  

Bản Sanh: truyện 511 tới 520 / Jataka Tales: Stories 511–520

14/01/202612:12:00(Xem: 470)
blank

Bản Sanh: truyện 511 tới 520 / Jataka Tales: Stories 511–520

Nguyên bản: Pali

Anh dịch: H.T. Francis Ānandajoti Bhikkhu

Việt dịch và rút ngắn: Nguyên Giác
 

J511. Kimchanda Jātaka -- Giữ gìn ngày chay Bát quan trai

Tóm tắt: Những người cư sĩ giữ ngày trai giới Uposatha. Đức Phật kể một câu chuyện về một vị thầy tế lễ trong gia đình, người từng nhận hối lộ nhưng một lần đã giữ giới ăn chay nửa ngày. Do hành động đó, ông ta đã phải chịu những hậu quả nhất định khi tái sinh thành một loài ngạ quỷ (Peta).

.

Câu chuyện này được Đức Phật kể khi ngài đang trú ngụ tại Jetavana, liên quan đến việc giữ giới ăn chay (Uposatha precepts: tám giới ngày thọ Bát quan trai). Một lần nọ, một số cư sĩ nam và nữ đang giữ giới ăn chay đến nghe pháp và ngồi trong Chánh điện. Đức Phật, biết được hành động của họ, đã khen ngợi sự tuân thủ của họ và giải thích rằng ngay cả trong thời xa xưa, sự vinh quang lớn lao đã nảy sinh từ việc giữ giới ăn chay dù chỉ một phần. Theo yêu cầu của họ, ngài đã kể một câu chuyện trong quá khứ.

Ngày xưa, khi vua Brahmadatta trị vì công minh tại Benares, ông là một tín đồ sùng đạo, siêng năng giữ giới ăn chay, tuân thủ các giới luật đạo đức và thực hành bố thí. Ông khuyến khích các vị quan và thần dân của mình thực hiện các lời thề bố thí và giữ giới. Tuy nhiên, vị thầy tế lễ của gia đình ông lại tham lam, hám hối lộ, hay nói xấu và nổi tiếng với những phán quyết bất công.

Vào một ngày ăn chay, nhà vua triệu tập các vị quan và chỉ thị họ giữ giới ăn chay. Vị thầy tế lễ không thực sự giữ giới ăn chay, nhưng trong ngày đó ông vẫn tiếp tục nhận hối lộ và đưa ra những phán quyết sai trái. Sau đó, khi đến triều đình để tỏ lòng kính trọng, ông lại nói dối rằng mình đang giữ giới ăn chay. Mặc dù bị một trong các vị quan khiển trách, ông vẫn biện minh bằng cách quyết định kiêng ăn vào buổi tối và tuân thủ các giới luật đạo đức suốt đêm, tin rằng ít nhất mình cũng đã giữ được nửa ngày ăn chay. Ông trở về nhà và hành động theo đó.

Một lần khác, khi đang chủ trì phiên tòa, vị thầy tế lễ gặp một người phụ nữ trung thành với các giới luật đạo đức và cũng đang giữ giới ăn chay. Không thể rời khỏi tòa án, bà quyết định không vi phạm giới luật của mình. Khi thời gian ăn uống trôi qua, bà súc miệng để duy trì giới ăn chay. Lúc đó, một chùm xoài chín được mang đến cho vị thầy tế lễ. Quan sát hành động của người phụ nữ, ông đã đưa cho bà những quả xoài, khiến bà phá giới ăn chay. Đó là bản chất hỗn tạp trong hành động của ông ta.

Sau khi chết, vị thầy tế lễ được tái sinh thành một vị thần ở vùng núi Himalaya, tại một nơi tuyệt đẹp bên bờ một nhánh sông Hằng gọi là Kosiki. Ở đó có một khu rừng xoài rộng lớn, trải dài ba dặm, chứa một cung điện vàng lộng lẫy được trang bị một chiếc giường hoàng gia. Ông được tái sinh với vẻ ngoài lộng lẫy và rạng rỡ, được mười sáu nghìn tiên nữ hầu hạ, và tận hưởng sự xa hoa tột bậc suốt đêm. Niềm hạnh phúc này xuất phát từ việc ông ta tuân thủ một phần ngày ăn chay và hành động hào phóng khi tặng xoài.

Tuy nhiên, khi bình minh ló dạng, hình dạng thần thánh của ông ta biến mất. Sau đó, ông ta hiện ra với một thân hình khủng khiếp cao tám mươi cubit, rực cháy như một cái cây đang nở hoa rộ, với đôi bàn tay quái dị chỉ có một ngón mỗi bàn và móng tay to như cái xẻng. Bằng những móng tay đó, ông ta xé thịt từ lưng mình và ăn, kêu la đau đớn. Nỗi thống khổ này kéo dài suốt cả ngày và là hậu quả của những phán quyết sai trái, hối lộ và lời nói độc ác của ông ta. Khi mặt trời lặn, hình dạng khủng khiếp đó biến mất, và thân hình thần thánh của ông ta trở lại. Mỗi đêm, ông ta lại được hưởng những thú vui trên thiên đường, được các tiên nữ hầu hạ và sống trong khu vườn xoài. Như vậy, thông qua những hành động lẫn lộn của mình, ông ta trải nghiệm niềm vui vào ban đêm và nỗi đau khổ vào ban ngày.

Vào khoảng thời gian này, vua xứ Benares, nhận thức sâu sắc về những nguy hiểm của dục vọng, đã từ bỏ ngai vàng và sống cuộc đời khổ hạnh. Ông sống trong một túp lều lá bên bờ sông hạ lưu sông Hằng, sống nhờ vào những gì ông có thể thu thập được. Một ngày nọ, một quả xoài chín mọng có kích thước đáng kể từ khu rừng của thần linh rơi xuống sông và trôi dạt xuống hạ lưu đến nơi vị khổ hạnh sinh sống. Nhìn thấy quả xoài trôi nổi, ông vượt sông, lấy nó và mang về túp lều của mình. Ông chỉ ăn đủ để duy trì sự sống và giữ lại phần còn lại, ăn dần trong vài ngày.

Khi quả xoài cuối cùng đã hết, ông nhận ra rằng mình không còn có thể thưởng thức bất kỳ loại trái cây nào khác. Vì đã quá gắn bó với hương vị của nó, ông quyết định chỉ ăn xoài chín. Ông ngồi bên bờ sông, quyết tâm không đứng dậy cho đến khi một quả xoài khác xuất hiện. Trong sáu ngày, ông nhịn ăn ở đó, suy yếu vì đói, nóng và gió.

Ngày thứ bảy, một nữ thần sông, nhận thấy nguyên nhân nỗi khổ của ông, quyết định can thiệp. Bà hiểu rằng sự gắn bó của ông đã đẩy ông đến bờ vực cái chết và nếu không được giúp đỡ, ông sẽ chết. Hiện ra trên mặt sông, bà khiển trách ông, tiết lộ thân phận của mình là vị thần cai quản sông Hằng và nhắc nhở ông về sự ngu ngốc khi bám víu vào dục vọng, đặc biệt là sau khi đã từ bỏ cuộc sống trần tục. Bà giải thích rằng các loại trái cây khác nhau tự nhiên rơi xuống sông từ cả hai bờ, bao gồm cả xoài, và khuyên ông từ bỏ lòng tham và bảo toàn mạng sống.

Vị khổ hạnh suy ngẫm về lời nói của bà và cảnh báo bà rằng nếu ông chết vì sự bỏ mặc, lỗi sẽ thuộc về bà. Cảm động trước sự quyết tâm và kiên trì của ông, nữ thần đã nhượng bộ. Bà dẫn ông đến một khu rừng xoài mát mẻ và dễ chịu, đầy trái cây và đưa ông đến đó. Sau khi khuyến khích ông ăn cho đến khi no, bà rời đi.

Khi vị khổ hạnh đã lấy lại sức lực và đi lang thang trong khu rừng, ông nhìn thấy một chúng sinh phi nhơn đang đau khổ chịu đựng sự hành hạ ban ngày. Sau đó, vào lúc hoàng hôn, ông thấy cùng một chúng sinh phi nhơn đó được bao quanh bởi các tiên nữ và tận hưởng vẻ huy hoàng của thiên giới. Chúng sinh phi nhơn đó sau đó tiết lộ thân phận trước đây của mình là thầy tế lễ của gia đình nhà vua và giải thích nguyên nhân của sự luân phiên giữa niềm vui và nỗi khổ của mình. Niềm hạnh phúc mỗi đêm của ông ta xuất phát từ việc ông ta đã tuân thủ một phần ngày ăn chay, điều mà ông ta đã thực hiện theo lời khuyên của vị khổ hạnh trong kiếp trước, trong khi nỗi đau khổ ban ngày của ông ta lại là kết quả của những việc làm xấu xa mà ông ta đã gây ra khi còn làm quan tòa.

Vị khổ hạnh kể lại câu chuyện của mình và tuyên bố ý định trở về am thất. Chúng sinh phi nhơn đó, biết ơn công đức đã mang lại cho mình một phần hạnh phúc, hứa sẽ liên tục cung cấp xoài chín cho vị khổ hạnh. Bằng sức mạnh siêu nhiên của mình, ông đưa vị khổ hạnh trở về nơi ở và giữ lời hứa một cách trung thực sau đó.

Nhờ những quả xoài, vị khổ hạnh đã thực hành thiền định và đạt được những giai đoạn chuẩn bị cho sự phát triển tâm linh, cuối cùng được tái sinh vào cõi trời Brahma.

Sau khi kể xong câu chuyện này, Đức Phật đã tiết lộ những chân lý sâu sắc hơn cho các tín đồ tại gia. Kết quả là, một số người đạt được quả vị Sơ quả Nhập Lưu, một số người đạt được quả vị Nhị quả Nhất lưu, và một số người khác đạt được quả vị Tam quả Bất lai. Sau đó, Ngài xác định các nhân vật trong câu chuyện, giải thích rằng nữ thần sông chính là Uppalavannā, và vị khổ hạnh chính là Ngài trong một kiếp trước.

.... o ....

J511. Kimchanda Jātaka -- Observing the Uposatha Precepts

Summary: Laypeople observe the Uposatha precepts. The Buddha shares a story about a family priest who used to accept bribes but once observed half of a fast day. As a result of his actions, he received certain consequences when reborn as a Peta.

.

This story was told by the Buddha while he was dwelling at Jetavana, in connection with the observance of fast-days (Eight Uposatha Precepts). On one occasion, a number of lay brothers and sisters who were keeping a fast-day came to hear the teaching and were seated in the Hall of Truth. The Buddha, knowing their conduct, praised their observance and explained that even in ancient times great glory had arisen from keeping even a partial fast. At their request, he related a story of the past.

In former times, when Brahmadatta ruled righteously as king of Benares, he was a devout believer who diligently observed fast-days, upheld the moral precepts, and practiced generosity. He encouraged his ministers and subjects to undertake vows of charity and moral discipline. However, his family priest was corrupt, greedy for bribes, inclined to backbiting, and known for delivering unjust judgments.

On a certain fast-day, the king summoned his ministers and instructed them to observe the fast. The priest did not truly undertake the fast-day discipline, but during the day he continued to accept bribes and render false judgments. Later, when he came to court to pay his respects, he falsely claimed to be keeping the fast. Though reproached by one of the ministers, he justified himself by resolving to abstain from food in the evening and to observe the moral precepts through the night, thus believing that he would at least have kept half a fast-day. He returned home and acted accordingly.

On another occasion, while presiding at judgment, the priest encountered a woman who was faithful to the moral precepts and was also keeping a fast-day. Unable to leave the court, she resolved not to violate her observance. As the time for eating passed, she rinsed her mouth to maintain the fast. At that moment, a lump of ripe mangoes was brought to the priest. Observing the woman’s conduct, he gave her the mangoes, thereby causing her to break the fast. Such was the mixed nature of his deeds.

After his death, the priest was reborn as a spirit in the Himalayan region, in a beautiful place on the bank of a branch of the Ganges called the Kosiki. There stood a vast mango grove, three leagues in extent, containing a splendid golden palace furnished with a royal couch. He was reborn adorned and radiant, accompanied by sixteen thousand celestial nymphs, and enjoyed great splendor throughout the night. This happiness arose from his partial observance of the fast-day and his act of generosity in giving mangoes.

Yet with the approach of dawn, his divine form vanished. He then assumed a terrible body eighty cubits high, blazing like a tree in full flower, with monstrous hands bearing a single finger on each and nails as large as spades. With these nails he tore flesh from his own back and ate it, crying aloud in agony. This torment lasted throughout the day and was the result of his corrupt judgments, bribery, and malicious speech. At sunset, this dreadful form disappeared, and his divine body returned. Each night he again enjoyed celestial pleasures, attended by nymphs and dwelling in the mango grove. Thus, through his mixed actions, he experienced joy by night and suffering by day.

Around this time, the king of Benares, having become deeply aware of the dangers of desire, renounced his throne and adopted the ascetic life. He lived in a leaf hut on the banks of the lower Ganges, sustaining himself on whatever he could gather. One day, a ripe mango of remarkable size from the spirit’s grove fell into the river and was carried downstream to the place where the ascetic lived. Seeing it floating by, he crossed the river, retrieved it, and brought it back to his hermitage. He ate only enough to sustain life and preserved the remainder, consuming it gradually over several days.

When the mango was finally gone, he found that he could no longer enjoy any other fruit. Having become attached to its taste, he resolved to eat only ripe mangoes. He sat by the riverbank, determined not to rise until another mango appeared. For six days he fasted there, weakened by hunger, heat, and wind.

On the seventh day, a river goddess, perceiving the cause of his suffering, resolved to intervene. She understood that his attachment had driven him to the brink of death and that without help he would perish. Appearing above the river, she admonished him, revealing her identity as the presiding deity of the Ganges and reminding him of the folly of clinging to sensual desire, especially after having renounced worldly life. She explained that fruits of every kind naturally fell into the river from both banks, including mangoes, and urged him to abandon his craving and preserve his life.

The ascetic reflected on her words and warned her that if he were to die through neglect, blame would fall upon her. Moved by his resolve and endurance, the goddess relented. She led him to a cool and pleasant mango grove rich with fruit and transported him there. After encouraging him to eat until his hunger was satisfied, she departed.

When the ascetic had regained his strength and wandered through the grove, he saw the suffering spirit enduring his daytime torment. Later, at sunset, he saw the same being surrounded by nymphs and enjoying celestial splendor. The spirit then revealed his former identity as the king’s family priest and explained the cause of his alternating joy and misery. His nightly bliss arose from his partial observance of the fast-day, which had been undertaken at the ascetic’s urging in a former life, while his daytime torment resulted from the evil deeds he had committed while serving as a judge.

The ascetic related his own story in return and declared his intention to return to his hermitage. The spirit, grateful for the merit that had brought him some measure of happiness, promised to supply the ascetic continually with ripe mangoes. By his supernatural power, he returned the ascetic to his dwelling and faithfully kept his promise thereafter.

Sustained by the mangoes, the ascetic practiced meditation and attained the preparatory stages of spiritual development, ultimately destined for rebirth in the Brahma world.

Having completed this account, the Buddha revealed the deeper truths to the lay followers. As a result, some attained the First Path, others the Second, and others the Third. He then identified the characters of the story, explaining that the river goddess had been Uppalavannā, and that the ascetic had been himself in a former life.

.... o ....

J512. Kumbha Jātaka -- Hãy giữ giới và đi trên con đường không lỗi lầm.

Tóm tắt: Một số phụ nữ, bạn của Visākhā, đã uống rượu mạnh trong một lễ hội và sau đó cư xử không đúng mực trước mặt Đức Phật. Khi được hỏi, Đức Phật giải thích nguồn gốc của rượu mạnh và kể lại câu chuyện về việc Sakka đã cố gắng thuyết phục vua xứ Benares từ bỏ việc sử dụng rượu.

.

Câu chuyện này được Đức Phật kể lại khi Ngài đang trú ngụ tại Jetavana, liên quan đến năm trăm người phụ nữ là bạn của Visākhā và thường xuyên uống rượu mạnh.

Vào thời điểm đó ở Sāvatthī, một lễ hội uống rượu công cộng được tổ chức. Năm trăm người phụ nữ này, sau khi đã chuẩn bị rượu cho chồng và gia đình, quyết định rằng sau khi lễ hội kết thúc, họ cũng sẽ tự mình tổ chức lễ hội. Họ đến gặp Visākhā và bày tỏ ý định tham gia lễ hội. Tuy nhiên, Visākhā từ chối uống rượu mạnh, vì bà cho rằng lễ hội đó không phù hợp. Những người phụ nữ sau đó yêu cầu bà dâng lễ vật lên Đức Phật thay cho họ, để họ vẫn có thể tham gia vào lễ kỷ niệm. Visākhā đồng ý và cho họ ra về.

Sau khi tiếp đãi Đức Phật và dâng lễ vật hào phóng, Visākhā lên đường đến Jetavana vào buổi tối, tay cầm những vòng hoa thơm ngát và đi cùng năm trăm người phụ nữ, để nghe giáo pháp. Khi họ lên đường, những người phụ nữ đã rất thèm rượu. Trong khi đứng trong căn phòng có mái hiên, họ lén lút uống rượu mạnh rồi cùng Visākhā đến trước mặt Đức Phật.

Visākhā cúi đầu tỏ lòng kính trọng và ngồi xuống một cách cung kính ở một bên. Tuy nhiên, những người phụ nữ say rượu lại cư xử một cách vô lễ. Một số nhảy múa trước mặt Đức Phật, một số hát lớn, một số làm những cử chỉ không đứng đắn bằng tay và chân, và một số khác cãi nhau. Để khiến họ tỉnh ngộ, Đức Phật phát ra một tia sáng từ giữa hai lông mày, khiến toàn bộ hội chúng chìm vào bóng tối đột ngột. Kinh hãi và sợ hãi, những người phụ nữ tin rằng cái chết đã đến với họ, và tác dụng của rượu lập tức tan biến.

Đức Phật sau đó biến mất khỏi chỗ ngồi và đứng trên đỉnh núi Sineru. Từ đó, Ngài phát ra một tia sáng khác từ giữa hai lông mày, chiếu sáng rực rỡ như hàng nghìn mặt trăng mọc. Nhờ sự hiển thị phi thường này, những người phụ nữ đã tỉnh táo trở lại và suy ngẫm sâu sắc. Kết quả là, cả năm trăm người phụ nữ đều đạt được quả vị của Con đường thứ nhất.

Đức Phật sau đó trở lại và ngồi lại trên chỗ ngồi của Ngài dưới bóng mát của Căn phòng Thơm ngát. Sau đó, Visākhā đến gặp Đức Phật và hỏi về nguồn gốc của rượu mạnh và làm thế nào mà nó lại gây ra những tác hại nghiêm trọng đến phẩm giá con người và đạo đức. Đáp lại, Đức Phật kể một câu chuyện từ thời xa xưa.

Ngày xưa, khi Brahmadatta trị vì vương quốc Benares, có một người tiều phu tên là Sura sống ở vương quốc Kāsi. Một lần nọ, ông ta đi đến dãy Himalaya để tìm kiếm hàng hóa buôn bán. Ở đó, ông ta bắt gặp một cái cây kỳ lạ, cao bằng một người đàn ông giơ tay lên cao, rồi chia thành ba nhánh. Tại điểm giao nhau của các nhánh, có một cái hốc lớn như một cái chum rượu, chứa đầy nước mưa. Gần đó có hai cây myrobalan và một bụi cây tiêu, quả chín của chúng rơi xuống hốc đó. Lúa hoang cũng mọc gần đó, và những con vẹt ăn hạt lúa đã làm rơi những hạt lúa đã bóc vỏ vào cùng cái hốc đó.

Dưới sức nóng của mặt trời, nước trộn lẫn với trái cây và hạt lúa lên men và chuyển sang màu đỏ. Trong mùa nóng, từng đàn chim uống nước đó, say rượu, ngã xuống đất, ngủ một lúc rồi bay đi hót líu lo vui vẻ. Điều tương tự cũng xảy ra với chó rừng, khỉ và các loài động vật khác. Quan sát điều này, Sura kết luận rằng chất lỏng đó không phải là chất độc, vì không có sinh vật nào chết. Ông ta tự mình uống, say rượu và thèm ăn thịt. Ông ta đốt lửa, giết những con chim đã ngã xuống dưới gốc cây, nướng chúng và ở lại đó vài ngày, ăn uống và cử chỉ điên cuồng dưới tác động của rượu.

Không xa nơi đó, có một vị khổ hạnh tên là Varuṇa, người mà Sura thỉnh thoảng đến thăm. Sura quyết định chia sẻ thứ đồ uống đó với ông ta. Anh ta đổ chất lỏng lên men vào một ống tre, mang theo thịt nướng đến túp lều lá của vị khổ hạnh, và cả hai cùng nhau thưởng thức. Từ tên của hai người này, thứ đồ uống đó sau này được gọi là surā và vāruṇī.

Tin rằng mình đã phát hiện ra một thứ hàng hóa quý giá, họ đổ thứ đồ uống đó vào các ống tre và mang đến một ngôi làng gần đó, tự xưng là những người bán rượu. Nhà vua triệu họ đến và uống thứ rượu đó, say sưa trong nhiều ngày. Khi hết rượu, hai người lại lấy thêm từ dãy Himalaya nhiều lần. Cuối cùng, họ ghi nhớ tất cả các nguyên liệu và học cách sản xuất thứ đồ uống đó tại địa phương, bắt đầu bằng vỏ cây và thêm các thành phần khác.

Khi người dân thành phố uống thứ rượu này, họ trở nên lười biếng và vô kỷ luật, và thành phố suy tàn cho đến khi trông giống như một nơi hoang vắng. Hai người bỏ trốn và đến Benares, nơi họ lặp lại quá trình tương tự, gây ra sự tàn phá cho thành phố đó. Từ đó họ đến Saketa, và cuối cùng đến Sāvatthī.

Vào thời điểm đó, vua của Sāvatthī là Sabbamitta. Ông tiếp đón hai người một cách tử tế và cung cấp cho họ những nguyên liệu mà họ yêu cầu, bao gồm gạo xay và năm trăm chum. Rượu được ủ và cất giữ trong các chum. Để bảo vệ chúng, mèo được buộc vào mỗi chum. Khi rượu lên men và tràn ra ngoài, những con mèo uống rượu, say xỉn và nằm bất tỉnh. Chuột sau đó gặm tai, mũi, răng và đuôi của chúng.

Các quan chức của nhà vua báo cáo rằng những con mèo đã chết vì uống rượu. Tin rằng chất đó là chất độc, nhà vua ra lệnh xử tử hai người. Khi bị hành quyết, họ kêu gọi được uống rượu mạnh. Nhà vua sau đó ra lệnh đập vỡ các chum. Tuy nhiên, sau khi tác dụng của rượu hết, những con mèo tỉnh lại và bắt đầu đi lại và chơi đùa. Điều này được báo cáo cho nhà vua, người kết luận rằng thứ đồ uống đó không phải là chất độc và quyết định tự mình uống thử.

Thành phố được trang hoàng, một gian lều được dựng lên trong sân cung điện, và nhà vua ngồi trên ngai vàng dưới một chiếc ô trắng, xung quanh là các cận thần, chuẩn bị uống rượu. Vào lúc đó, Sakka, vua của các vị thần, nhận thấy rằng nếu nhà vua uống rượu mạnh, toàn bộ Ấn Độ sẽ rơi vào cảnh suy tàn. Cầm một bình rượu trên tay, Sakka hóa thân thành một vị Bà-la-môn và xuất hiện giữa không trung trước mặt nhà vua.

Sakka giải thích chi tiết về những nguy hiểm và tác hại của rượu mạnh, mô tả cách nó hủy hoại đạo đức, dẫn đến hành vi vô liêm sỉ, bạo lực, mất mát tài sản, gia đình tan nát và tái sinh vào những cảnh khổ đau. Ông chỉ ra rằng rượu mạnh làm bại hoại tư tưởng, lời nói và hành động, và dẫn đến sự suy đồi ngay cả đối với những người khôn ngoan và quyền lực.

Nghe vậy, vua Sabbamitta hoàn toàn nhận ra nỗi khổ do chất gây say gây ra. Ông quyết tâm từ bỏ rượu mạnh, ca ngợi lời khuyên mà mình đã nhận được, và muốn thưởng cho vị Bà-la-môn. Sakka sau đó tiết lộ thân phận thần thánh của mình, từ chối mọi phần thưởng, và khuyên nhà vua hãy bằng lòng với thức ăn lành mạnh và hành vi chính đáng, tuân thủ giới luật và đi trên con đường không có lỗi lầm.

Sau khi đưa ra lời khuyên này, Sakka trở về cõi trời. Nhà vua đập vỡ tất cả các bình rượu, kiêng rượu, thực hành giới luật, thực hành bố thí và được định sẵn sẽ tái sinh lên cõi trời. Tuy nhiên, theo thời gian, việc uống rượu mạnh dần dần lan rộng khắp Ấn Độ.

Đức Phật kết thúc bài giảng này và xác định các kiếp trước, giải thích rằng vào thời điểm đó Ānanda chính là vua Sabbamitta, và chính Ngài là Sakka.

.... o ....

J512. Kumbha Jātaka -- Observe the precepts and walk the blameless path.

Summary: Some women, friends of Visākhā, consume strong drink at a festival and subsequently behave inappropriately in the presence of the Buddha. When questioned, the Buddha explains the origin of strong drink and recounts how Sakka attempted to persuade the king of Benares to refrain from its use.

.

This story was told by the Buddha while he was dwelling at Jetavana, in connection with five hundred women who were friends of Visākhā and who were accustomed to drinking strong drink.

At that time in Sāvatthī a public drinking festival was proclaimed. These five hundred women, after first providing intoxicating drink for their husbands and households, decided at the close of the festival that they themselves would also celebrate. They went to Visākhā and declared their intention to keep the feast. Visākhā, however, refused to drink strong drink, as she regarded the festival as improper. The women then asked her to make an offering to the Buddha on their behalf, so that they might still participate in the celebration. Visākhā agreed and sent them away.

After entertaining the Buddha and making a generous offering, Visākhā set out in the evening for Jetavana, holding fragrant garlands in her hands and accompanied by the five hundred women, in order to hear the teaching of the Dhamma. As they set out, the women were already eager for drink. While standing in the gabled chamber, they secretly consumed strong liquor and then accompanied Visākhā into the presence of the Buddha.

Visākhā paid her respects and sat down respectfully to one side. The intoxicated women, however, behaved disgracefully. Some danced in front of the Buddha, others sang loudly, some made indecent gestures with their hands and feet, and others quarreled among themselves. In order to shock them into awareness, the Buddha emitted a ray of light from his eyebrow, plunging the assembly into sudden darkness. Terrified and overcome by fear, the women believed death had come upon them, and the effects of the liquor immediately wore off.

The Buddha then disappeared from the seat on which he had been sitting and stood upon the summit of Mount Sineru. From there he emitted another ray of light from between his eyebrows, shining forth like the rising of a thousand moons. By this overwhelming display, the women were brought to clarity of mind and deep reflection. As a result, all five hundred women were established in the fruition of the First Path.

The Buddha then returned and sat again upon the Buddha-seat in the shade of the Perfumed Chamber. Afterward, Visākhā approached him and inquired about the origin of strong drink and how it came to cause such harm to human dignity and moral sensitivity. In response, the Buddha related a story of the past.

In former times, when Brahmadatta ruled as king of Benares, there lived in the kingdom of Kāsi a forester named Sura. He once traveled to the Himalayas in search of goods for trade. There he came upon a remarkable tree that grew to the height of a man with arms raised overhead and then divided into three branches. At the point where the branches met, there was a hollow as large as a wine jar, which filled with rainwater. Nearby grew two myrobalan trees and a pepper shrub, and their ripe fruits fell into the hollow. Wild rice also grew nearby, and parrots feeding on the grain dropped husked rice into the same hollow.

Through the heat of the sun, the water mixed with fruit and grain fermented and turned red in color. During the hot season, flocks of birds drank from it, became intoxicated, fell to the ground, slept for a while, and then flew away chirping happily. The same occurred with wild dogs, monkeys, and other animals. Observing this, Sura concluded that the liquid was not poison, since none of the creatures died. He drank from it himself, became intoxicated, and developed a craving for flesh. He lit a fire, killed the birds that had fallen at the foot of the tree, roasted them, and remained there for several days, eating and gesticulating wildly under the influence of the drink.

Not far from that place lived an ascetic named Varuṇa, whom Sura occasionally visited. Sura decided to share the drink with him. He filled a reed pipe with the fermented liquid, brought it along with roasted meat to the ascetic’s leaf hut, and together they consumed it. From the names of these two men, the drink later came to be known as surā and vāruṇī.

Believing they had discovered a valuable commodity, they filled reed pipes with the drink and carried them to a nearby village, announcing themselves as wine merchants. The king summoned them and drank the liquor, becoming intoxicated for several days. When the supply ran out, the men fetched more from the Himalayas several times. Eventually, they took note of all the ingredients and learned to manufacture the drink locally, beginning with the bark of the tree and adding the other components.

When the people of the city drank this liquor, they became idle and disorderly, and the city declined until it resembled a deserted place. The two men fled and went to Benares, where they repeated the same process, bringing ruin upon that city as well. From there they went to Saketa, and finally came to Sāvatthī.

At that time, the king of Sāvatthī was Sabbamitta. He received the men favorably and provided them with the ingredients they requested, including ground rice and five hundred jars. The liquor was brewed and stored in the jars. To guard them, cats were tied to each jar. When the liquor fermented and overflowed, the cats drank it, became intoxicated, and lay unconscious. Rats then gnawed their ears, noses, teeth, and tails.

The king’s officers reported that the cats had died from drinking the liquor. Believing the substance to be poison, the king ordered the two men to be executed. As they were put to death, they cried out for strong drink. The king then commanded that the jars be broken. However, once the effects of the liquor wore off, the cats recovered and began to walk and play. This was reported to the king, who concluded that the drink was not poison and decided to consume it himself.

The city was decorated, a pavilion was erected in the palace courtyard, and the king sat upon a royal throne beneath a white umbrella, surrounded by his courtiers, preparing to drink. At that moment, Sakka, the king of the gods, perceived that if the king drank strong liquor, the whole of India would fall into ruin. Taking a jar of liquor in his hand, Sakka descended in the guise of a brahmin and appeared in the air before the king.

Sakka explained the dangers and evils of strong drink in detail, describing how it destroys moral conduct, leads to shameless behavior, violence, loss of wealth, family ruin, and rebirth in states of suffering. He showed that strong drink corrupts thought, speech, and action, and brings about downfall even among the wise and powerful.

Hearing this, King Sabbamitta fully recognized the misery caused by intoxicants. He resolved to abandon strong drink, praised the admonition he had received, and wished to reward the brahmin. Sakka then revealed his divine identity, declined all rewards, and urged the king to remain content with wholesome food and righteous conduct, to observe the precepts, and to walk the blameless path.

Having delivered this admonition, Sakka returned to his heavenly abode. The king broke all the drinking vessels, abstained from intoxicants, undertook the moral precepts, practiced generosity, and became destined for rebirth in heaven. Nevertheless, over time, the drinking of strong drink gradually spread throughout India.

The Buddha concluded this teaching and identified the past lives, explaining that at that time Ānanda had been the king Sabbamitta, and that he himself had been Sakka.

.... o ....

J513. Jayaddisa Jātaka -- Câu chuyện về một vị hoàng tử hiếu thảo và sẵn sàng hy sinh cả tính mạng vì cha mẹ.

Tóm tắt: Một vị sư chăm sóc cha mẹ già nghèo khó, những người không còn ai khác để nương tựa. Đức Phật kể một câu chuyện về một cậu bé được một nữ thần Yakkhini nhận nuôi và sống sót bằng cách ăn thịt người. Một ngày nọ, cậu bé bắt được một vị vua, nhưng con trai của nhà vua đã thuyết phục cậu rằng cậu là người và khuyên cậu từ bỏ những thói quen xấu xa.

.

Câu chuyện này được Đức Phật kể về một vị tỳ kheo hiếu thảo với mẹ. Hoàn cảnh mở đầu tương tự như câu chuyện về Sama. Nhân dịp này, Đức Phật giải thích rằng các bậc hiền triết thời xưa thậm chí đã từ bỏ quyền lực vương giả, biểu tượng bằng chiếc dù trắng với vòng hoa vàng, để chăm sóc cha mẹ. Với lời dạy này, Ngài kể một câu chuyện trong quá khứ.

Thời xa xưa, tại Kampilla, thành phố của Bắc Pañcāla, có một vị vua tên là Pañcāla. Hoàng hậu của ông mang thai và sinh ra một người con trai. Trong kiếp trước, một phi tần đối địch trong hậu cung, vì ghen tuông, đã thốt ra lời nguyền độc ác rằng một ngày nào đó bà ta sẽ ăn thịt con của hoàng hậu. Do ý định thù hận này, bà ta tái sinh thành một nữ yêu tinh. Nắm lấy cơ hội, bà ta bắt cóc đứa trẻ ngay trước mắt hoàng hậu và ăn thịt nó. Số phận tương tự cũng xảy ra với đứa con thứ hai.

Khi hoàng hậu mang thai lần thứ ba, lính canh được bố trí nghiêm ngặt xung quanh cung điện. Tuy nhiên, nữ yêu tinh lại xuất hiện và bắt cóc đứa trẻ. Trước khi kịp ăn thịt đứa bé, hoàng hậu đã báo động, và binh lính vội vàng đuổi theo. Buộc phải bỏ chạy, nữ yêu tinh trốn trong một cống thoát nước. Đứa trẻ nhầm nữ yêu tinh là mẹ mình, nên bú sữa từ nữ yêu tinh. Tình mẫu tử trỗi dậy trong lòng bà ta, và thay vì làm hại đứa bé, bà ta đưa nó đến một nghĩa địa, giấu nó trong một hang đá và nuôi dưỡng nó ở đó. Bà ta cho nó ăn thịt người, và khi lớn lên, nó sống với niềm tin rằng mình là con của một nữ yêu tinh. Mặc dù vẫn giữ hình dạng con người, bà ta đã cho nó một loại rễ cây thần kỳ giúp nó che giấu hình dạng thật của mình.

Sau đó, nữ yêu tinh đi phục vụ Vessavaṇa, vị vua vĩ đại của các yêu tinh, và chết ở đó. Sau khi bà ta chết, hoàng hậu sinh ra người con trai thứ tư. Vì nữ yêu tinh đã biến mất, đứa trẻ này sống sót. Vì được sinh ra chiến thắng mối đe dọa đã cướp đi sinh mạng của các anh trai mình, cậu bé được đặt tên là Jayaddisa, nghĩa là Người chiến thắng. Khi đến tuổi trưởng thành và hoàn thành việc học, cậu lên ngôi và cai trị vương quốc. Sau đó, hoàng hậu sinh ra một người con trai, chính là Bồ Tát, được đặt tên là Alīnasattu. Khi hoàng tử lớn lên và được giáo dục đầy đủ, cậu được bổ nhiệm làm thái tử. Trong khi đó, người con trai được nữ quỷ nuôi dưỡng đã đánh mất rễ cây thần kỳ do sự bất cẩn và không còn có thể che giấu hình dạng của mình nữa. Sống công khai trong nghĩa địa, hắn ăn thịt người. Những người nhìn thấy hắn đều kinh hãi và báo cáo sự việc cho vua Jayaddisa, cảnh báo rằng kẻ ăn thịt người cuối cùng sẽ tiến vào thành phố. Nhà vua ra lệnh bắt giữ hắn, và lính canh có vũ trang được bố trí xung quanh thành phố. Khi kẻ ăn thịt người lao vào giữa đám đông vì sợ chết, những người lính hoảng loạn và bỏ chạy. Hắn trốn thoát vào rừng, nơi hắn trú ngụ dưới một cây đa gần đường quốc lộ. Từ đó, hắn săn mồi những người đi đường, kéo họ vào rừng và giết chết họ.

Một lần nọ, một vị Bà La Môn đi trên con đường đó dẫn đầu một đoàn xe gồm năm trăm chiếc, sau khi đã trả tiền cho những người bảo vệ rừng để được đi lại an toàn. Kẻ ăn thịt người tấn công, làm cho đoàn xe tan tác. Khi hắn tóm lấy vị Bà La Môn, hắn bị thương bởi một mảnh gỗ và bị những người bảo vệ rừng truy đuổi, buộc hắn phải thả nạn nhân và rút lui về nơi trú ngụ của mình.

Bảy ngày sau, vua Jayaddisa tuyên bố một cuộc săn bắn hoàng gia. Vào ngày khởi hành, một vị Bà La Môn tên là Nanda đến từ Takkasilā, người nuôi dưỡng cha mẹ mình, đến triều đình với những bài thơ quý giá. Nhà vua lắng nghe, ban thưởng cho ông và sắp xếp cho ông một nơi ở. Trong cuộc săn bắn, một con nai chạy về phía nhà vua, khiến ông phải đuổi theo nó vài dặm trước khi giết chết nó. Khi trở về, mang theo xác con nai, ông nghỉ ngơi dưới một gốc cây, không biết rằng đó là nơi trú ngụ của kẻ ăn thịt người.

Con quái vật ăn thịt người bắt giữ nhà vua, định nuốt chửng ông. Nhà vua, nhớ lại lời hứa chưa thực hiện với đạo sĩ Nanda, xin phép được trở về một thời gian ngắn để giữ lời hứa. Cảm động trước quyết tâm giữ gìn danh dự của nhà vua ngay cả khi phải trả giá bằng tính mạng, con quái vật thả ông ra với điều kiện ông phải quay lại vào ngày hôm sau. Nhà vua cẩn thận đánh dấu đường đi và trở về thành phố an toàn.

Ở đó, ông ban thưởng hậu hĩnh cho đạo sĩ và cho người hộ tống ông về nhà. Ngày hôm sau, nhà vua chuẩn bị trở lại khu rừng. Trước khi đi, ông giao lại vương quốc cho con trai Alīnasattu và giải thích nghĩa vụ của mình. Hoàng tử, vì lòng hiếu thảo với cha, nhất quyết muốn thế chỗ cha mình. Mặc dù nhà vua phản đối, cuối cùng ông cũng chấp nhận quyết tâm của con trai.

Hoàng tử từ biệt cha mẹ, chị gái, vợ và triều đình, rồi dũng cảm lên đường vào rừng. Sự ra đi của chàng khiến gia đình vô cùng đau buồn. Theo chỉ dẫn của cha, hoàng tử đến được nơi ở của con quái vật ăn thịt người. Con quái vật, quan sát chàng từ xa, nhận ra rằng con trai đã đến thay thế cha.

Khi hoàng tử xuất hiện, tuyên bố sẵn sàng chết vì cha mẹ, con quái vật kinh ngạc trước lòng hiếu thảo không sợ hãi đó. Nó thử thách quyết tâm của hoàng tử, nhưng chàng không hề nao núng. Sự sẵn sàng hy sinh tính mạng mà không sợ hãi của chàng cho thấy một phẩm chất đạo đức cao thượng khiến con quái vật phải khuất phục. Nhận ra rằng mình không thể làm hại một người chính trực như vậy, con quái vật đã thả chàng ra.

Hoàng tử sau đó dạy cho con quái vật năm giới luật đạo đức. Suy nghĩ thêm, chàng nhận ra những dấu hiệu cho thấy sinh vật trước mặt không thực sự là một con quái vật mà là một con người có số phận phức tạp. Chàng nhận ra rằng đây chắc chắn là người anh trai thất lạc của cha mình, người được nữ quái vật nuôi dưỡng chứ không phải bị ăn thịt. Để xác nhận điều này, chàng đưa anh ta đến gặp một đạo sĩ có khả năng nhìn thấu tương lai. Vị đạo sĩ ngay lập tức tuyên bố mối quan hệ huyết thống của họ. Cuối cùng, con quái vật từ bỏ bạo lực và chọn cuộc sống khổ hạnh, được thụ giới.

Hoàng tử trở về Kampilla an toàn, nơi hành động anh hùng của chàng được người dân ca ngợi. Vua Jayaddisa đến gặp ông, và sau khi nghe toàn bộ câu chuyện, nhà vua biết được rằng kẻ ăn thịt người đó chính là anh trai ruột của mình. Nhà vua mời anh trai cai trị, nhưng ông từ chối. Thay vào đó, nhà vua thành lập một khu định cư gần am thất, cung cấp sự hỗ trợ cho các đạo sĩ, và thành lập một ngôi làng mà sau này phát triển thành thị trấn Cullakammasadamma. Nơi kẻ ăn thịt người được thuần hóa được gọi là Mahākammasadamma.

Sau khi kể xong câu chuyện, Đức Phật đã tiết lộ Chân lý. Kết thúc bài giảng, vị tỳ kheo hiếu thảo với mẹ đã chứng đắc quả vị Sơ quả. Sau đó, Đức Phật đã tiết lộ những kiếp trước: cha và mẹ là thành viên của hoàng tộc, vị đạo sĩ là Sāriputta, kẻ ăn thịt người là Aṅgulimāla, em gái là Uppalavaṇṇā, hoàng hậu là mẹ của Rāhula, hoàng tử Alīnasattu chính là Đức Phật.

.... o ....

J513. Jayaddisa Jātaka -- The story of a prince who was filial and willing to sacrifice his life for his parents.

Summary: One monk cares for his parents who have fallen into poverty and have no one else to support them. The Buddha shares a story about a boy who was adopted by a Yakkhini and survived by eating human flesh. One day, the boy captured a king, but the king’s son convinced him that he was human and persuaded him to abandon his evil ways.

.

This story was told by the Buddha concerning a monk who supported his mother. The introductory circumstances were similar to those related in the Sama Birth. On this occasion, the Buddha explained that sages of ancient times had even renounced royal power, symbolized by the white umbrella with its golden wreath, in order to care for their parents. With this teaching, he related a story of the past.

In ancient times there ruled in Kampilla, the city of the Northern Pañcālas, a king named Pañcāla. His queen conceived and bore a son. In a former existence, a rival consort in the royal harem, consumed by jealousy, had uttered a malicious wish that she might one day devour the queen’s offspring. As a result of this hateful intention, she was reborn as an ogress. Seizing her opportunity, she carried off the child before the queen’s very eyes and devoured him. The same fate befell a second child.

When the queen conceived a third time, strict guards were posted around the palace. Nevertheless, the ogress again appeared and seized the infant. Before she could devour him, the queen raised an alarm, and soldiers rushed in pursuit. Forced to flee, the ogress hid in a sewer. The child, mistaking the ogress for his mother, suckled at her breast. A maternal affection arose in her heart, and instead of harming him, she carried him to a cemetery, hid him in a rock cave, and raised him there. She fed him human flesh, and as he grew up he lived believing himself to be the son of an ogress. Although he retained a human form, she gave him a magical root that enabled him to conceal his appearance.

Later, the ogress departed to serve Vessavaṇa, the great king of spirits, and died there. After her death, the queen gave birth to a fourth son. Because the ogress was gone, this child survived. As he had been born victorious over the threat that had claimed his brothers, he was named Jayaddisa, meaning Victor. When he came of age and completed his education, he ascended the throne and ruled the kingdom. In time, his queen gave birth to a son, the Bodhisatta, who was named Alīnasattu. When the prince grew up and was fully educated, he was appointed viceroy.

Meanwhile, the son raised by the ogress lost the magical root through carelessness and could no longer conceal his form. Living openly in the cemetery, he devoured human flesh. People who saw him were terrified and reported the matter to King Jayaddisa, warning that the man-eater would eventually enter the city. The king ordered his capture, and armed guards were posted around the city. When the man-eater rushed among them in fear of death, the soldiers panicked and fled. He escaped into the forest, where he settled beneath a banyan tree near a highway. From there he preyed upon travelers, dragging them into the woods and killing them.

A brahmin once traveled that road at the head of a caravan of five hundred wagons, having paid the forest wardens for safe passage. The man-eater attacked, scattering the caravan. As he seized the brahmin, he was wounded by a splinter and pursued by forest guards, forcing him to drop his victim and retreat to his dwelling place.

Seven days later, King Jayaddisa proclaimed a royal hunt. On the day of departure, a brahmin named Nanda from Takkasilā, who supported his parents, arrived at court with valuable verses. The king listened, rewarded him, and assigned him a dwelling. During the hunt, a deer escaped toward the king, prompting him to pursue it for several leagues before killing it. As he returned, carrying the carcass, he rested beneath a tree, unaware that it was the dwelling place of the man-eater.

The man-eater seized the king, intending to devour him. The king, recalling his unfulfilled promise to reward the brahmin Nanda, requested leave to return briefly in order to keep his word. Struck by the king’s resolve to preserve his honor even at the cost of his life, the man-eater released him on the condition that he would return the next day. The king marked the way carefully and returned safely to the city.

There he honored the brahmin with a generous reward and sent him home under escort. On the following day, the king prepared to return to the forest. Before departing, he entrusted the kingdom to his son Alīnasattu and explained his obligation. The prince, moved by devotion to his father, insisted on taking his place. Though the king resisted, he finally accepted his son’s resolve.

The prince bade farewell to his parents, sister, wife, and the court, and set out fearlessly for the forest. His departure overwhelmed his family with grief. Guided by his father’s instructions, the prince reached the dwelling of the man-eater. The creature, observing him from afar, realized that the son had come in place of the father.

When the prince presented himself, declaring his readiness to die for his parents, the man-eater was astonished by such fearless devotion. He tested the prince’s resolve, but the youth did not waver. His willingness to sacrifice his life without fear revealed a purity of virtue that overwhelmed the man-eater. Realizing that he could not harm one so righteous, the man-eater released him.

The prince then instructed the man-eater in the five moral precepts. Reflecting further, he recognized signs that the being before him was not truly an ogre but a human with a mixed destiny. He realized that this must be his father’s lost elder brother, cherished rather than devoured by the ogress. To confirm this, he brought him to an ascetic endowed with supernatural vision. The ascetic immediately declared their shared lineage. Convinced at last, the man-eater renounced violence and chose the ascetic life, receiving ordination.

The prince returned safely to Kampilla, where his heroic deed was celebrated by the people. King Jayaddisa went to meet him, and upon hearing the full account, learned that the man-eater was indeed his elder brother. The king invited him to rule, but he declined. Instead, the king established a settlement near the hermitage, provided support for ascetics, and founded a village that later grew into the town of Cullakammasadamma. The place where the man-eater had been tamed became known as Mahākammasadamma.

Having completed the story, the Buddha revealed the Truths. At the conclusion of the teaching, the monk who supported his mother attained the fruition of the First Path. The Buddha then identified the past lives: the father and mother had been members of the royal household, the ascetic had been Sāriputta, the man-eater had been Aṅgulimāla, the younger sister had been Uppalavaṇṇā, the queen consort had been the mother of Rāhula, Prince Alīnasattu had been the Buddha himself.

.... o ....

J514. Chaddanta Jātaka -- Chuyện voi sáu ngà cho phép người thợ săn chặt hết tất cả ngà.

Tóm tắt: Một nữ tu nhớ lại rằng trong kiếp trước, bà từng là vợ của Bồ Tát và đã gây hại cho ngài. Sau đó, Đức Phật kể một câu chuyện về một vị hoàng hậu cảm thấy bị xúc phạm. Khi nhà vua tái sinh thành một con voi sáu ngà, bà đã sai một người thợ săn đến lấy ngà của con voi, dẫn đến cái chết của người thợ săn. Tuy nhiên, sau khi nhận được ngà voi, hoàng hậu vô cùng đau buồn và cuối cùng cũng qua đời.

.

Câu chuyện này được Đức Phật kể lại khi ngài đang cư ngụ tại Jetavana, liên quan đến một nữ tu sĩ trẻ. Ở Sāvatthī có một cô gái thuộc gia đình danh giá, sau khi nhận thức rõ nỗi khổ đau vốn có trong cuộc sống gia đình, đã từ bỏ thế tục và xuất gia tu hành. Một ngày nọ, cô cùng các ni sư khác đến nghe pháp khi Đức Phật đang ngồi trên một ngai vàng lộng lẫy. Khi nhìn thấy dung mạo của ngài, với vẻ đẹp phi thường do vô lượng công đức tạo nên, một ý nghĩ về mối liên hệ trong quá khứ chợt nảy sinh trong tâm trí cô. Ngay lúc đó, nhờ sự chín muồi của các căn, ký ức về những kiếp sống trước hiện lên trong tâm trí cô. Cô nhớ lại rằng vào thời của voi Chaddanta vĩ đại, chính cô từng là một trong những người vợ của ngài. Ban đầu, ký ức đó khiến cô tràn ngập niềm vui, nhưng khi suy nghĩ kỹ hơn, cô nhớ lại rằng mình đã từng oán hận ngài và là nguyên nhân gây ra cái chết của ngài. Ký ức này khuấy động nỗi hối hận sâu sắc, và không thể kiềm chế cảm xúc, cô đã khóc nức nở.

Thấy vậy, Đức Phật mỉm cười. Khi các vị tỳ kheo hỏi lý do ngài mỉm cười, ngài giải thích rằng nữ tu sĩ trẻ đã bị nỗi buồn xâm chiếm khi nhớ lại một lỗi lầm trong quá khứ mà cô đã gây ra cho ngài. Sau đó, ngài kể một câu chuyện từ kiếp trước.

Trong quá khứ xa xưa, gần hồ Chaddanta ở dãy Himalaya, có tám nghìn con voi hoàng gia được ban cho sức mạnh siêu nhiên, có thể bay trên không trung. Trong số đó, Bồ Tát được sinh ra là con trai của vị thủ lĩnh của chúng. Ngài có màu trắng tinh khiết, chân và mặt màu đỏ, và khi trưởng thành, ngài đạt đến kích thước khổng lồ, cao tám mươi tám thước và dài một trăm hai mươi thước. Vòi của ngài giống như một sợi dây bạc, và ngà của ngài rất lớn, tỏa ra ánh sáng sáu màu. Ngài trở thành thủ lĩnh của đàn voi tám nghìn con và tận tâm tôn kính các vị Phật độc giác.

Ngài có hai người vợ chính, Cullasubhaddā và Mahāsubhaddā. Cùng với đàn voi của mình, ngài sống trong một hang động vàng trong mùa mưa và trong mùa nóng thì ở dưới một cây đa khổng lồ bên hồ Chaddanta. Hồ nước ấy có vẻ đẹp và sự hùng vĩ phi thường, được bao quanh bởi những vòng hoa súng, hoa sen, cây cối, lùm cây, rừng rậm, bụi tre, và được bao bọc bởi bảy ngọn núi đồng tâm, trong đó ngọn núi trong cùng là Núi Vàng, tỏa sáng rực rỡ đến nỗi hồ nước lấp lánh như mặt trời mọc.

Một ngày nọ, khi những cây sala nở rộ, vua voi cùng đàn voi của mình đến thưởng ngoạn khu rừng. Khi ông ta đập vào một cây sala đang nở hoa, những cành cây khô, lá khô và kiến ​​rơi xuống Cullasubhaddā, người đứng ở phía ngược gió, trong khi hoa và phấn hoa rơi xuống Mahāsubhaddā, người đứng ở phía xuôi gió. Cullasubhaddā cảm thấy oán giận, cho rằng mình bị bỏ rơi. Vào một dịp khác, khi đang tắm ở hồ Chaddanta, những con voi đã trang điểm cho vua và các hoàng hậu bằng hoa sen. Một bông sen bảy cánh tuyệt đẹp được dâng lên vua voi, và ông ta đã tặng nó cho Mahāsubhaddā. Thấy vậy, Cullasubhaddā lại càng thêm oán hận.

Sau đó, trong khi Bồ Tát đang đãi năm trăm vị Phật độc giác bằng những món quà trái cây và hoa sen tuyệt hảo, Cullasubhaddā đã dâng những loại trái cây dại và, ôm giữ lòng oán hận, đã lập lời thề. Nàng nguyện được tái sinh thành một công chúa có quyền lực để gây ra cái chết cho vua voi và chiếm đoạt ngà voi của ông ta. Sau đó, nàng từ chối ăn uống, suy nhược và chết. Nàng được tái sinh thành Subhaddā, con gái của hoàng hậu trong vương quốc Maddā. Khi đến tuổi trưởng thành, nàng kết hôn với vua xứ Benares và trở thành người đứng đầu trong số mười sáu nghìn hoàng hậu của ông ta. Nhớ lại kiếp trước, nàng quyết tâm thực hiện lời thề cũ của mình.

Giả vờ bị bệnh, nàng thu hút sự chú ý của nhà vua và khiến tất cả thợ săn trong vương quốc phải tập hợp lại. Trong số đó, nàng nhận thấy một thợ săn mạnh mẽ và đáng sợ tên là Sonuttara, người từng thù địch với vua voi. Nàng chọn hắn và tiết lộ nơi ở của Chaddanta, chỉ đường cho hắn đến dãy Himalaya phía bắc. Nàng cung cấp cho hắn lương thực, dụng cụ, vũ khí và tất cả những thứ cần thiết cho cuộc hành trình.

Sonuttara bắt đầu một cuộc hành trình dài và gian khổ, vượt qua rừng rậm, đầm lầy, sông ngòi, núi non và những vùng đất hoang vắng. Bằng kỹ năng, sức mạnh và sự kiên trì, hắn đã vượt qua bảy ngọn núi lớn và đến vùng hồ Chaddanta. Sau nhiều năm du hành, hắn nghiên cứu thói quen của vua voi và đào một cái hố bí mật ở nơi Chaddanta thường đứng khi tắm. Hóa trang thành một đạo sĩ, hắn chờ đợi với một mũi tên tẩm độc.

Khi vua voi đến gần, Sonuttara bắn hắn bằng mũi tên tẩm độc. Mặc dù bị thương nặng và đau đớn tột cùng, Đức Phật tương lai vẫn kiềm chế mọi cơn giận. Sau khi biết rằng hành động này do Subhaddā xúi giục, ngài hiểu rằng ý định của nàng là muốn tiêu diệt ngài chứ không chỉ đơn thuần là muốn lấy ngà voi. Chịu đựng nỗi đau không thể chịu nổi với sự kiên nhẫn tuyệt vời, ngài cho phép người thợ săn lấy ngà voi. Vì không đủ sức làm một mình, Sonuttara đã được chính vua voi giúp đỡ, giúp hắn cắt ngà voi.

Đức Phật tương lai dâng tặng ngà voi không phải vì sự gắn bó hay tham vọng quyền lực thế tục hay thần thánh, mà là một hành động bố thí tối thượng, chỉ hướng đến sự toàn trí. Ngài cho Sonuttara con đường an toàn và tiễn hắn đi. Sau khi người thợ săn rời đi, vua voi chết vì vết thương.

Đàn voi trở về và thấy chủ nhân của mình đã chết, chúng vô cùng thương tiếc. Cùng với Subhaddā, chúng tìm đến các vị Phật độc giác, những người từng là bạn đồng hành của ngài. Các vị Phật độc giác đến, và thi thể của con voi được tôn kính và hỏa táng với sự kính trọng. Sau đó, đàn voi trở về nơi ở của chúng.

Sonuttara đến Benares trong vòng bảy ngày và dâng ngà voi cho Hoàng hậu Subhaddā. Khi nhìn thấy chúng, nàng vô cùng đau buồn khi ký ức về người chồng cũ ùa về. Nỗi đau của nàng quá lớn đến nỗi trái tim nàng tan vỡ, và nàng chết ngay trong ngày hôm đó. Sau khi kể xong câu chuyện, Đức Phật đã chỉ ra mối liên hệ giữa các nhân vật trong câu chuyện. Ngài giải thích rằng vị vua voi trong kiếp trước chính là Ngài, người thợ săn Sonuttara chính là Devadatta, và hoàng hậu Subhaddā sau này đã tái sinh thành vị nữ tu sĩ. Sau khi nghe bài thuyết pháp, nhiều người đã đạt được quả vị Dự Lưu, và cuối cùng, chính vị nữ tu sĩ ấy, nhờ trí tuệ, đã đạt được sự giải thoát hoàn toàn.

.... o ....

J514. Chaddanta Jātaka -- The story of a six-tusked elephant who allowed the hunter to cut all its tusks.

Summary: One nun recalls that in a past life she was the wife of the Bodhisatta and had caused him harm. The Buddha then shares a story about a queen who felt insulted. When the king was reborn as a six-tusked elephant, she sent a hunter to remove his tusks, resulting in the hunter's death. However, upon receiving the tusks, the queen grieved deeply and eventually died.

.

This story was told by the Buddha while he was residing at Jetavana, in connection with a young female novice. In Sāvatthī there lived a girl of good family who, having clearly perceived the suffering inherent in household life, renounced the world and entered the ascetic life. One day she went together with other nuns to hear the Dhamma while the Buddha was seated on a magnificent throne. As she observed his person, endowed with extraordinary beauty born of immeasurable merit, a thought arose in her mind concerning past associations. At that moment, through the ripening of her faculties, the memory of former lives arose within her. She recalled that in the time of Chaddanta, the great elephant, she herself had once been one of his consorts. The recollection at first filled her with joy, but as she reflected further, she remembered that she had harbored resentment toward him and had been the cause of his death. This memory stirred deep remorse, and unable to restrain her emotions, she wept openly.

Seeing this, the Buddha smiled. When the monks inquired as to the reason for his smile, he explained that the young nun had been overcome with sorrow upon recalling a past misdeed she had committed against him. He then related a story from a former life.

In the distant past, near Lake Chaddanta in the Himalayas, there dwelt eight thousand royal elephants endowed with supernatural powers, able to move through the air. Among them was born the Bodhisatta as the son of their chief. He was pure white in color, with red feet and face, and when fully grown he reached an immense size, measuring eighty-eight cubits in height and one hundred and twenty cubits in length. His trunk resembled a silver rope, and his tusks were enormous, radiant with six-colored rays. He became the leader of the herd of eight thousand elephants and was devoted to honoring pacceka buddhas.

He had two chief queens, Cullasubhaddā and Mahāsubhaddā. Together with his herd, he lived in a golden cave during the rainy season and in the hot season stayed beneath a vast banyan tree by Lake Chaddanta. The lake itself was of extraordinary beauty and grandeur, surrounded by successive rings of lilies, lotuses, plants, groves, forests, bamboo thickets, and encircled by seven concentric mountains, the innermost of which was Golden Mountain, shining with such brilliance that the lake glowed like the rising sun.

One day, when the sal trees were in full bloom, the elephant king went with his herd to enjoy the grove. As he struck a flowering sal tree, debris of dry twigs, dead leaves, and ants fell upon Cullasubhaddā, who stood to windward, while flowers and pollen fell upon Mahāsubhaddā, who stood to leeward. Cullasubhaddā conceived resentment, believing herself neglected. On another occasion, while bathing in Lake Chaddanta, the elephants adorned the king and then the queens with lotus flowers. A magnificent seven-shoot lotus was offered to the elephant king, who gave it to Mahāsubhaddā. Seeing this, Cullasubhaddā again conceived bitterness.

Later, while the Bodhisatta was entertaining five hundred pacceka buddhas with exquisite offerings of fruits and lotus preparations, Cullasubhaddā offered wild fruits and, harboring her resentment, made a vow. She aspired to be reborn as a royal maiden who would gain the power to bring about the death of the elephant king and obtain his tusks. Thereafter she refused food, wasted away, and died. She was reborn as Subhaddā, daughter of the queen consort in the kingdom of Maddā. When she came of age, she was married to the king of Benares and became chief among his sixteen thousand queens. Recalling her past life, she resolved to fulfill her former vow.

Feigning illness, she gained the king’s attention and caused all the hunters of the kingdom to be assembled. Among them she noticed a formidable and fearsome hunter named Sonuttara, who had once been hostile to the elephant king. She selected him and revealed the dwelling place of Chaddanta, directing him toward the northern Himalayas. She provided him with provisions, tools, weapons, and all necessities for the journey.

Sonuttara undertook a long and arduous expedition, passing through forests, swamps, rivers, mountains, and desolate regions. By skill, strength, and persistence, he crossed seven great mountains and reached the region of Lake Chaddanta. After years of travel, he studied the habits of the elephant king and dug a concealed pit at the place where Chaddanta customarily stood while bathing. Disguised as an ascetic, he waited with a poisoned arrow.

When the elephant king approached, Sonuttara shot him with the poisoned arrow. Though grievously wounded and in agony, the Great Being restrained all anger. Upon learning that the deed had been instigated by Subhaddā, he understood that her intention had been to destroy him rather than merely to obtain his tusks. Enduring unbearable pain with perfect patience, he permitted the hunter to remove his tusks. Lacking the strength to do so alone, Sonuttara was assisted by the elephant king himself, who enabled the tusks to be cut away.

The Bodhisatta offered the tusks not out of attachment or ambition for worldly or divine power, but as an act of supreme generosity, aspiring only toward omniscience. He granted Sonuttara safe passage and sent him away. After the hunter departed, the elephant king died from his wound.

The herd, returning and finding their lord lifeless, mourned deeply. Together with Subhaddā, they sought the pacceka buddhas who had been his companions. The pacceka buddhas arrived, and the elephant’s body was honored and cremated with due reverence. The elephants then returned to their dwelling.

Sonuttara reached Benares within seven days and presented the tusks to Queen Subhaddā. Upon seeing them, she was overwhelmed with sorrow as the memory of her former husband flooded her mind. Her grief was so intense that her heart broke, and she died that very day.

Having completed this account, the Buddha identified the connections of the story. He explained that the elephant king of that former life had been himself, the hunter Sonuttara had been Devadatta, and the queen Subhaddā had later been reborn as the female novice. Upon hearing the discourse, many attained the First Path, and in time the nun herself, through insight, attained full liberation.

.... o ....

J515. Sambhava Jātaka -- Một vị vua phải hết sức tránh mọi con đường xấu.

Tóm tắt: Các vị sư thảo luận về trí tuệ của Đức Phật, và ngài kể một câu chuyện minh họa trí tuệ này từ kiếp trước. Trong câu chuyện, một vị vua khao khát tìm hiểu về lòng tốt và chân lý đã tìm kiếm những người thông thái khắp vương quốc, nhưng không ai có thể đưa ra câu trả lời thỏa đáng. Cuối cùng, ngài đã nhận được sự hướng dẫn mà mình tìm kiếm từ Bồ Tát, một cậu bé thông thái chỉ mới bảy tuổi.

.

Khi đang cư ngụ tại Jetavana, Đức Phật đã kể câu chuyện này liên quan đến sự hoàn thiện trí tuệ. Hoàn cảnh dẫn đến việc kể câu chuyện này được giải thích ở một nơi khác liên quan đến câu chuyện tiền kiếp Mahā-Ummagga (Jataka 546).

Vào thời xa xưa, tại thành phố Indapatta, thuộc vương quốc Kurus, có một vị vua tên là Dhanañjaya Korabya. Ông cai trị vương quốc một cách công bằng, tận tâm với lòng hào phóng, đạo đức và mọi hình thức thiện hạnh. Thầy tế lễ hoàng gia và cố vấn của ông trong cả các vấn đề thế tục và tâm linh là một vị Bà la môn tên là Sucirata.

Một lần nọ, nhà vua suy ngẫm sâu sắc về việc phụng sự Chân lý một cách đúng đắn và nảy sinh một câu hỏi sâu sắc về điều gì cấu thành sự tốt lành và công chính thực sự trong việc trị vì. Muốn cai trị hoàn toàn bằng công lý và tránh mọi điều sai trái, ông quyết định tìm kiếm câu trả lời dứt khoát. Vì vậy, ông triệu tập Sucirata, kính trọng ông ta và trình bày câu hỏi về bản chất của điều thực sự tốt và chân thật, và một người cai trị nên hành động như thế nào cho phù hợp với điều đó.

Câu hỏi này rất sâu sắc, thuộc về lĩnh vực của một vị Phật hoặc một vị Bồ Tát đang hướng tới sự toàn trí. Sucirata, nhận ra rằng vấn đề vượt quá trí tuệ của mình, đã thẳng thắn thừa nhận sự bất lực của mình trong việc giải quyết nó. Ông tuyên bố rằng chỉ có hiền giả Vidhura mới có được sự hiểu biết cần thiết để trả lời câu hỏi đó.

Nghe vậy, nhà vua lập tức quyết định tìm kiếm lời khuyên của Vidhura. Ông cung cấp cho Sucirata những món quà quý giá, bao gồm một tấm bảng vàng để khắc câu trả lời, một cỗ xe, một đoàn tùy tùng và những lễ vật thích hợp cho một vị hiền giả vĩ đại. Với sự khẩn trương và tin tưởng, ông đã phái Sucirata thực hiện nhiệm vụ.

Rời khỏi Indapatta, Sucirata không đi thẳng đến Benares mà trước tiên đến thăm nhiều vùng khác nhau trên khắp Ấn Độ, tìm kiếm những hiền giả nổi tiếng về trí tuệ. Không tìm thấy ai có khả năng trả lời câu hỏi, cuối cùng ông đến Benares và cư trú ở đó. Vào giờ ăn sáng, ông cùng một đoàn tùy tùng nhỏ đến nhà của Vidhura, người bạn cũ thời thơ ấu của ông và đã được đào tạo bởi cùng một người thầy. Sau khi được chào đón và cùng dùng bữa, Sucirata đã giải thích câu hỏi của nhà vua.

Tuy nhiên, Vidhura suy ngẫm rằng vấn đề này rất rộng lớn và không thể giải quyết ngay lập tức. Nhận thấy sự khó khăn, ông hướng dẫn Sucirata đến gặp con trai mình là Bhadrakara, người mà ông mô tả là có trí tuệ hơn.

Sucirata sau đó đến nhà Bhadrakara và thấy ông đang ngồi ăn sáng cùng với những người bạn. Ông được tiếp đón nồng hậu và được cho biết mục đích của chuyến viếng thăm. Tuy nhiên, Bhadrakara thú nhận rằng tâm trí ông đang bị xáo trộn bởi những ham muốn không lành mạnh và do đó ông không đủ khả năng để trả lời câu hỏi đó. Thay vào đó, ông hướng dẫn Sucirata đến gặp em trai mình là Sanjaya, người mà ông cho là khôn ngoan hơn mình.

Sucirata đến nhà Sanjaya và được tiếp đón niềm nở. Sau khi nghe câu hỏi, Sanjaya cũng thừa nhận mình không thể trả lời, giải thích rằng tâm trí ông đang bị xáo trộn bởi những hành vi nguy hiểm và vô đạo đức. Sau đó, ông chỉ vào em trai út của mình, Sambhava, một cậu bé mới bảy tuổi, tuyên bố rằng đứa trẻ này sở hữu trí tuệ vượt xa ông.

Ban đầu, Sucirata nghi ngờ rằng một đứa trẻ nhỏ lại có thể trả lời câu hỏi mà không ai ở khắp Ấn Độ giải đáp được. Tuy nhiên, Sanjaya vẫn kiên quyết, ca ngợi trí thông minh và sự sáng suốt phi thường của Sambhava, và khuyên ông đừng đánh giá trí tuệ dựa trên tuổi tác. Cuối cùng, Sucirata bị thuyết phục và đồng ý tìm gặp cậu bé.

Sambhava đang chơi đùa trên đường phố cùng những đứa trẻ khác. Khi Sucirata đến gần và giải thích mục đích chuyến đi của mình, cậu bé nhận ra tầm quan trọng của câu hỏi và hiểu rõ nó bằng trí tuệ sâu sắc của mình. Cậu bé dừng chơi, chuẩn bị sẵn sàng và mời vị Bà la môn trình bày câu hỏi.

Khi Sambhava giải thích câu trả lời về việc phụng sự Chân lý, giọng nói của cậu vang lên trong trẻo và ngọt ngào, âm thanh lan tỏa khắp thành phố Benares trong nhiều dặm về mọi hướng. Nghe thấy vậy, các vị vua, phó vương và quý tộc tụ tập lại, và giữa đám đông lớn đó, cậu bé đã trình bày những nguyên tắc về hành vi chính trực với uy quyền và sự thông thái của một vị Phật.

Cậu giải thích rằng một người cai trị nên nhận ra bản chất phù du của thời gian và hành động kịp thời theo những gì tốt đẹp và chân thật. Một vị vua nên cẩn thận tránh mọi con đường xấu xa, không bao giờ hành động bất chính, không làm hại đến phúc lợi tinh thần của chính mình, và không bao giờ dẫn dắt người khác vào con đường sai trái. Người cai trị theo cách này sẽ không ngừng phát triển về đức hạnh và danh tiếng, trở thành nguồn sáng và lợi ích cho bạn bè và người thân, và khi thân xác tan rã sẽ được tái sinh ở cõi trời.

Đám đông phản ứng với niềm vui và sự ngưỡng mộ vô cùng. Mọi người vỗ tay vang dội, ném bỏ đồ trang sức để tỏ lòng kính trọng, và tôn kính cậu bé với sự kính trọng lớn lao. Chính vua Benares cũng dành cho cậu bé sự tôn kính cao nhất. Sucirata dâng tặng cậu một lượng vàng lớn và cẩn thận khắc câu trả lời lên tấm bảng vàng bằng mực son.

Trở về Indapatta, Sucirata trao câu trả lời cho vua Dhanañjaya Korabya, người sau đó đã cai trị một cách kiên định theo lẽ phải và cuối cùng được tái sinh ở cõi trời. Sau khi kết thúc câu chuyện, Đức Phật tuyên bố rằng không chỉ trong kiếp hiện tại mà cả trong những kiếp trước, Đức Như Lai đều xuất sắc trong việc trả lời những câu hỏi sâu sắc. Sau đó, Ngài xác định các kiếp tái sinh: vào thời điểm đó, Ānanda là vua Dhanañjaya, Anuruddha là Sucirata, Kassapa là Vidhura, Moggallāna là Bhadrakara, Sāriputta là Sanjaya, và chính Đức Phật là đứa trẻ thông thái Sambhava.

.... o ....

J515. Sambhava Jātaka -- A king must diligently steer clear of all wicked ways.

Summary: The monks discuss the Buddha’s wisdom, and he shares a story that illustrates this wisdom from a past life. In the story, a king eager to learn about goodness and truth searched for wise men across his kingdom, but none could provide satisfactory answers. Ultimately, he received the guidance he sought from the Bodhisatta, a wise boy only seven years old.

.

While residing at Jetavana, the Buddha told this story concerning the Perfection of Wisdom. The circumstances that led to its telling are explained elsewhere in connection with the Mahā-Ummagga Birth (Jataka 546).

In a former age there ruled in the city of Indapatta, in the kingdom of the Kurus, a king named Dhanañjaya Korabya. He governed his realm righteously, devoting himself to generosity, moral conduct, and all forms of wholesome deeds. His royal chaplain and adviser in both worldly and spiritual matters was a brahmin named Sucirata.

At one time the king reflected deeply upon the proper service of Truth and conceived a profound question regarding what constitutes true goodness and righteousness in kingship. Desiring to rule purely by justice and to avoid all wrongdoing, he resolved to seek a definitive answer. He therefore summoned Sucirata, honored him duly, and laid before him the question concerning the nature of what is truly good and true, and how a ruler should act in accordance with it.

This question was one of great depth, belonging properly to the domain of a Buddha or of a Bodhisatta striving toward omniscience. Sucirata, recognizing that the matter exceeded his own wisdom, openly acknowledged his inability to resolve it. He declared that only the sage Vidhura possessed the insight required to answer such a question.

Upon hearing this, the king resolved at once to seek Vidhura’s counsel. He provided Sucirata with rich gifts, including a tablet of gold upon which the answer could be inscribed, a chariot, an escort, and offerings suitable for a great sage. With urgency and confidence, he dispatched Sucirata on the mission.

Leaving Indapatta, Sucirata did not proceed directly to Benares but first visited many regions throughout India, seeking sages renowned for wisdom. Finding none capable of answering the question, he eventually reached Benares and took up residence there. At the time of the morning meal, he went with a small retinue to the house of Vidhura, who was an old friend of his youth and had been trained by the same teacher. After being welcomed and sharing a meal, Sucirata explained the king’s question.

Vidhura, however, reflected that the matter was vast and beyond immediate resolution. Acknowledging the difficulty, he directed Sucirata to his son Bhadrakara, whom he described as possessing greater insight.

Sucirata then went to Bhadrakara’s house and found him seated at breakfast among his companions. He was received hospitably and informed of the purpose of the visit. Bhadrakara, however, confessed that his mind was disturbed by unwholesome pursuits and that he was therefore unfit to answer such a question. He directed Sucirata instead to his younger brother Sanjaya, whom he considered wiser than himself.

Sucirata proceeded to Sanjaya’s dwelling and was received courteously. After hearing the question, Sanjaya likewise admitted his inability to answer, explaining that his mind was unsettled by dangerous and immoral conduct. He then pointed to his youngest brother, Sambhava, a boy only seven years old, declaring that this child possessed wisdom far surpassing his own.

At first Sucirata doubted that a mere child could answer a question that none in all India had resolved. Yet Sanjaya insisted, praising Sambhava’s exceptional intelligence and insight, and urged him not to judge wisdom by age. Convinced at last, Sucirata agreed to seek out the boy.

Sambhava was found playing in the street among other children. When Sucirata approached him and explained the purpose of his journey, the boy perceived the gravity of the question and recognized it clearly through his own profound wisdom. Setting aside his play, he prepared himself and invited the brahmin to present the question.

As Sambhava expounded the answer concerning the service of Truth, his voice rang out with clarity and sweetness, and the sound spread throughout the city of Benares for many leagues in every direction. Hearing it, kings, viceroys, and nobles gathered together, and in the midst of this great assembly the boy set forth the principles of righteous conduct with the authority and mastery of a Buddha.

He explained that a ruler should recognize the fleeting nature of time and act promptly in accordance with what is good and true. A king should carefully avoid all evil paths, should never act unrighteously, should not harm his own spiritual welfare, and should never lead others into wrongdoing. One who governs in this way grows steadily in virtue and reputation, becoming a source of light and benefit to friends and kin alike, and upon the dissolution of the body attains a heavenly rebirth.

The crowd responded with immense joy and admiration. People applauded loudly, cast aside ornaments in homage, and honored the boy with great reverence. The king of Benares himself paid him high honor. Sucirata offered him a great weight of gold and carefully inscribed the answer on the golden tablet with vermilion.

Returning to Indapatta, Sucirata delivered the answer to King Dhanañjaya Korabya, who thereafter ruled steadfastly in righteousness and eventually attained rebirth in heaven.

Having concluded the story, the Buddha declared that not only in the present life but also in former existences the Tathāgata had excelled in answering profound questions. He then identified the rebirths: at that time, Ānanda had been King Dhanañjaya, Anuruddha had been Sucirata, Kassapa had been Vidhura, Moggallāna had been Bhadrakara, Sāriputta had been Sanjaya, and the Buddha himself had been the wise child Sambhava.

.... o ....

J516. Mahakapi Jātaka -- Thiếu lòng biết ơn dẫn đến những hậu quả xấu.

Tóm tắt: Các vị sư đang thảo luận về việc Devadatta đã ném đá vào Đức Phật. Sau đó, Đức Phật kể một câu chuyện về một con khỉ đã cứu một người đàn ông bị rơi xuống một cái hố sâu. Tuy nhiên, sau khi được cứu thoát, người đó lại cố gắng giết con khỉ để ăn thịt nó. Do hành động tàn ác đó, người đàn ông mắc bệnh phong và cuối cùng bị đất nuốt chửng.

.

Câu chuyện này được Đức Phật kể khi Ngài đang cư ngụ tại khu rừng Trúc Lâm, liên quan đến hành động Devadatta ném đá vào Ngài. Khi các tỳ kheo khiển trách Devadatta vì trước đó đã âm mưu sai cung thủ bắn Đức Phật và sau đó lại cố gắng giết Ngài bằng cách ném đá, Đức Phật giải thích rằng đây không phải là lần đầu tiên Devadatta phạm phải hành động như vậy. Sau đó, Ngài kể một câu chuyện từ kiếp trước.

Ngày xưa, khi vua Brahmadatta trị vì ở Benares, có một người nông dân Bà La Môn sống trong một ngôi làng ở Kasi. Một ngày nọ, sau khi cày ruộng, ông thả bò ra ăn cỏ và tiếp tục làm việc bằng cuốc. Trong khi ăn cỏ giữa những lùm cây, những con bò dần dần đi lạc vào rừng. Khi trời tối, người đàn ông đặt cuốc xuống và đi tìm chúng. Không tìm thấy chúng và vô cùng đau khổ, ông lang thang sâu hơn vào rừng. Trong sự bối rối, ông lạc đường và cuối cùng đến vùng núi Himalaya.

Trong bảy ngày, ông lang thang không có thức ăn, suy yếu vì đói khát. Cuối cùng, ông nhìn thấy một cây tinduka đầy quả và leo lên để ăn. Trong khi với tay hái quả, ông trượt chân và ngã từ trên cây xuống, rơi xuống một vực sâu sáu mươi thước. Ông ở đó mười ngày, chịu đựng đau khổ tột cùng và không có hy vọng thoát thân.

Vào thời điểm đó, Bồ Tát đã tái sinh thành một con khỉ. Trong khi hái trái cây rừng, con khỉ nhận thấy người đàn ông bị mắc kẹt bên dưới. Sau khi thử sức bằng cách nâng những tảng đá, con khỉ đã kéo người đàn ông ra khỏi vực sâu và đưa ông đến nơi an toàn. Kiệt sức vì nỗ lực, con khỉ nằm xuống nghỉ ngơi. Trong khi con khỉ ngủ, người đàn ông, bị một ý nghĩ xấu xa chi phối, nhặt một hòn đá và đánh vào đầu con khỉ với ý định giết chết nó.

Bồ Tát, mặc dù bị thương, đã nhận ra sự phản bội. Ngài bật dậy, leo lên cây và tránh được những tổn thương tiếp theo. Mặc dù bị tấn công, Ngài không hề tỏ ra tức giận. Từ vị trí an toàn, Ngài dẫn đường cho người đàn ông ra khỏi rừng, chỉ cho ông con đường đúng để trở về nơi con người sinh sống. Sau khi đảm bảo người đàn ông thoát hiểm, con khỉ đi vào vùng núi và không bao giờ được nhìn thấy nữa. Vì người đàn ông đó đã phạm tội trọng đối với ân nhân của mình, hậu quả của hành động đó sớm trổ quả. Ông ta mắc bệnh phong cùi và sống như một ngạ quỷ trong hình dạng con người, chịu đựng nỗi đau đớn tột cùng. Trong bảy năm, ông ta lang thang trong đau khổ, bị mọi người xa lánh và bị bệnh tật hành hạ. Cuối cùng, trong cuộc lang thang của mình, ông ta đến công viên Migacira gần Benares. Ở đó, ông ta trải một chiếc lá chuối xuống đất trong khuôn viên công viên và nằm xuống, gần như phát điên vì đau khổ.

Lúc đó, vua của Benares tình cờ đến công viên. Nhìn thấy hình dáng khốn khổ nằm đó, nhà vua hỏi thăm tình trạng của người đàn ông, và người đàn ông kể lại toàn bộ câu chuyện bất hạnh của mình, thú nhận sự phản bội và hành động đã gây ra nỗi khổ hiện tại của mình. Ngay khi ông ta kể xong câu chuyện, mặt đất nứt ra dưới chân ông ta, và ông ta bị nuốt chửng xuống địa ngục. Nhà vua, chứng kiến ​​sự kiện kinh hoàng này, rời khỏi công viên và trở về thành phố.

Sau khi kết thúc câu chuyện, Đức Phật giải thích ý nghĩa của nó cho các đệ tử. Ngài tuyên bố rằng Devadatta, trong kiếp trước đó, chính là người đàn ông phản bội đã ném đá vào con khỉ, và chính Ngài là vua khỉ. Như vậy, Ngài cho thấy rằng sự thù địch hiện tại của Devadatta bắt nguồn từ một mô hình thù hận lâu dài được truyền từ kiếp này sang kiếp khác.

.... o ....

J516. Mahakapi Jātaka -- A lack of gratitude can result in adverse outcomes.

Summary: The monks are discussing how Devadatta threw a stone at the Buddha. The Buddha then shares a story about a monkey who once saved a man who had fallen into a deep pit. However, once the man was safe, he attempted to kill the monkey and eat its flesh. As a consequence of his actions, the man contracted leprosy and was eventually swallowed by the earth.

.

This story was told by the Buddha while he was dwelling in the Bamboo Grove, concerning Devadatta’s act of hurling a stone at him. When the brethren reproached Devadatta for having previously plotted to have archers shoot the Buddha and for later attempting to kill him by casting a stone, the Master explained that this was not the first time Devadatta had committed such an act. He then related a story from a former life.

Long ago, when Brahmadatta was reigning in Benares, there lived in a village of Kasi a Brahmin husbandman. After ploughing his fields one day, he released his oxen to graze and continued working with a spade. While feeding among the trees, the oxen gradually strayed into the forest. When evening came, the man set aside his spade and went in search of them. Unable to find them and overcome with distress, he wandered deeper and deeper into the forest. In his confusion, he lost his way and eventually reached the Himalayan region.

For seven days he roamed without food, weakened by hunger and thirst. At last he saw a tinduka tree laden with fruit and climbed it in order to eat. While reaching for the fruit, he slipped and fell from the tree, plunging sixty cubits into a deep, abyss-like chasm. There he remained for ten days, suffering greatly and without hope of escape.

At that time the Bodhisatta had been reborn as a monkey. While gathering wild fruits in the forest, the monkey noticed the man trapped below. After testing his strength by lifting stones, the monkey managed to haul the man out of the abyss and bring him to safety. Exhausted by the effort, the monkey lay down to rest. While the monkey slept, the man, seized by an evil thought, took up a stone and struck the monkey on the head with the intention of killing him.

The Great Being, though injured, became aware of the treachery. He sprang up, climbed into a tree, and avoided further harm. Despite the attack, he showed no anger. From a position of safety, he guided the man out of the forest, showing him the correct path back to human habitation. After ensuring the man’s escape, the monkey departed into the mountainous region and was seen no more.

Because the man had committed a grievous sin against his benefactor, the consequences of his deed soon bore fruit. He became afflicted with leprosy and lived as a preta in human form, suffering intense pain. For seven years he wandered about in misery, shunned by others and tormented by his disease. Eventually, in the course of his wanderings, he reached the Migacira park near Benares. There he spread a plantain leaf in the park enclosure and lay down, half-maddened by his suffering.

At that time the king of Benares happened to come to the park. Seeing the miserable figure lying there, the king inquired into the man’s condition, and the man related the whole story of his misfortune, confessing his treachery and the deed that had brought about his present suffering. Even as he finished recounting his story, the earth opened beneath him, and he was swallowed up and reborn in hell. The king, witnessing this fearful event, left the park and returned to the city.

Having concluded the account, the Buddha explained its meaning to the brethren. He declared that Devadatta, in that former life, had been the treacherous man who struck the monkey with a stone, and that he himself had been the monkey-king. Thus, he showed that Devadatta’s present hostility was rooted in a long-standing pattern of enmity carried on from life to life.

.... o ....

J517. Dakarakkhasa Jātaka --

Toàn bộ câu chuyện được trình bày trong truyện bản sanh Mahā-ummaggajātaka [Jataka 546].

.... o .....

J517. Dakarakkhasa Jātaka --

The entire story is presented in the Mahā-ummaggajātaka [Jataka 546].

.... o ....

J518. Pandara Jātaka -- Sau khi nói dối, Devadatta đã bị đất nuốt chửng.

Tóm tắt: Vì Devadatta đã nói dối, mặt đất nứt ra và nuốt chửng hắn. Đức Phật kể câu chuyện về một đạo sĩ giả mạo đã lừa gạt vua rắn Nāga tiết lộ bí mật phòng thủ mà loài Nāga dùng để chống lại loài chim thần Supaṇṇa, rồi tiết lộ bí mật đó cho kẻ thù của họ. Sau đó, khi vua Nāga bị bắt, ông ta đã nguyền rủa đạo sĩ đó, và kết quả là đạo sĩ đó bị mặt đất nuốt chửng.

.

Câu chuyện này được Đức Phật kể lại khi Ngài đang ở tại Jetavana, liên quan đến sự dối trá của Devadatta và việc hắn bị đất nuốt chửng. Khi các tỳ kheo đang chỉ trích Devadatta, Đức Phật giải thích rằng kết cục như vậy không phải là điều mới lạ đối với hắn, vì ngay cả trong kiếp trước, Devadatta cũng đã nói dối và bị đất nuốt chửng. Sau đó, Ngài kể lại một câu chuyện trong quá khứ.

Ngày xưa, khi Brahmadatta làm vua ở Benares, năm trăm thương nhân lên một con tàu và ra khơi. Vào ngày thứ bảy, khi họ đã ở rất xa đất liền, con tàu bị đắm giữa biển, và tất cả đều thiệt mạng ngoại trừ một người, nhờ gió mà sống sót và được đưa đến cảng Karambiya. Anh ta đến đó trong tình trạng trần truồng và nghèo khó, bắt đầu lang thang xin ăn. Mọi người, thấy vẻ ngoài và hành vi của anh ta, tin rằng anh ta là một vị tu sĩ sống giản dị, và họ đối xử với anh ta rất kính trọng và hiếu khách. Mặc dù họ đề nghị cho anh ta quần áo, anh ta từ chối, nói rằng mình đã có đủ để sống. Vui mừng trước sự giản dị tột cùng của anh ta, họ xây dựng một am thất cho anh ta, và anh ta được biết đến với cái tên là vị tu sĩ Karambiya.

Thời gian trôi qua, anh ta nhận được nhiều sự kính trọng và sự hỗ trợ vật chất. Ngay cả các vị thần cũng đến tỏ lòng kính trọng anh ta, trong đó có một vị vua chim Garuda và một vị vua rắn tên là Pandaraka. Một ngày nọ, vua Garuda đến tìm sự giúp đỡ của vị tu sĩ, hy vọng học được bí mật mà loài rắn dùng để đánh bại loài Garuda khi bị tấn công. Sau khi vua Garuda rời đi, vua rắn đến thăm vị tu sĩ. Qua những câu hỏi dai dẳng và lời hứa giữ bí mật, vị tu sĩ đã thuyết phục vua rắn tiết lộ phương pháp mà loài rắn dùng để làm cho mình nặng hơn bằng cách nuốt đá, và nhờ đó khiến loài Garuda tấn công bị tiêu diệt. Vua rắn cũng tiết lộ cách mà loài Garuda có thể khắc phục được sự phòng thủ này bằng cách nắm lấy đuôi rắn và buộc chúng phải nhả đá ra.

Sau khi vua rắn rời đi, vua Garuda quay trở lại, và vị tu sĩ đã tiết lộ toàn bộ bí mật. Được trang bị kiến ​​thức này, vua Garuda ngay lập tức hành động. Ông ta tạo ra một cơn gió mạnh, nắm lấy đuôi của Pandaraka, buộc hắn phải nhả những viên đá đã nuốt, và mang hắn bay lên không trung. Trong khi bị treo ngược đầu xuống và đối mặt với sự hủy diệt, vua rắn nhận ra rằng sự thiếu thận trọng của chính mình đã dẫn đến sự sụp đổ của hắn.

Cuối cùng, vua Garuda khiển trách vua rắn vì đã tiết lộ bí mật của mình, tuyên bố rằng không phải thầy tu hay chim chóc nào đáng trách, mà chỉ có chính vua rắn mới đáng trách vì sự tin tưởng ngu ngốc của mình. Vua rắn thừa nhận lỗi lầm của mình, nhận ra rằng hắn đã nhầm lẫn vẻ bề ngoài với đức hạnh thực sự. Vua Garuda sau đó giải thích sự nguy hiểm của việc tiết lộ bí mật, dạy rằng ngay cả cha mẹ, người thân, bạn bè hay vợ chồng cũng không nên được tin tưởng những điều cần phải giữ kín, và sự khôn ngoan nằm ở sự kiềm chế, cảnh giác và tự chủ.

Bị cảm động bởi lời dạy này và sợ chết, vua rắn cầu xin tha mạng. Vua Garuda, chấp nhận sự phục tùng của hắn, tha mạng cho hắn và nhẹ nhàng đặt hắn trở lại mặt đất. Ông đảm bảo sự an toàn cho vua rắn và cho phép hắn trở về vương quốc của loài rắn. Sau đó, muốn thử xem vua rắn có còn giữ nỗi sợ hãi hay lòng thù hận nào không, vua Garuda lại đến gần vương quốc của loài rắn và tạo ra một cơn gió mạnh. Vua rắn, nghi ngờ sự phản bội, biến thành một hình dạng khổng lồ và đáng sợ và chuẩn bị tự vệ. Thấy vậy, vua Garuda khiển trách hắn, và vua rắn giải thích rằng sự khôn ngoan đòi hỏi sự cảnh giác liên tục, ngay cả đối với kẻ thù cũ. Qua cuộc trao đổi này, hai người đã hòa giải và trở nên thân thiện.

Cả hai cùng đến am thất của đạo sĩ Karambiya. Ở đó, vua rắn khiển trách đạo sĩ vì sự lừa dối của ông ta, vạch trần sự giả tạo về sự thánh thiện của ông ta và buộc tội ông ta phản bội và suy đồi đạo đức dưới vẻ ngoài của cuộc sống khổ hạnh. Bằng một lời tuyên bố sự thật của vua rắn, đầu của đạo sĩ bị tách thành bảy mảnh. Ngay tại chỗ đó, mặt đất nứt ra, và đạo sĩ bị nuốt chửng và tái sinh ở địa ngục Avici. Vua rắn và vua Garuda sau đó trở về nơi ở của mình.

Sau khi kể xong câu chuyện, Đức Phật giải thích ý nghĩa của nó cho các đệ tử. Ngài tuyên bố rằng đây không phải là lần đầu tiên Devadatta nói dối và bị đất nuốt chửng. Trong kiếp trước đó, Devadatta là đạo sĩ giả dối, Sariputta là vua rắn, và chính Đức Phật là vua Garuda. Như vậy, Đức Phật đã chỉ ra rằng sự lừa dối và phản bội chắc chắn sẽ dẫn đến sự diệt vong, cả trong quá khứ và hiện tại.

.... o ....

J518. Pandara Jātaka -- After telling a lie, Devadatta was swallowed by the earth.

Summary: Because Devadatta told a lie, the earth opened up and swallowed him. The Buddha tells a story of a false ascetic who tricked a Nāga king into revealing the secret defense the Nāgas used against the Supaṇṇas, and then disclosed it to his enemy. Later, when the Nāga king was captured, he uttered a curse against the ascetic, who was consequently swallowed by the earth.

.

This story was told by the Buddha while he was staying at Jetavana, concerning Devadatta’s falsehood and how he was swallowed up by the earth. When the brethren were censuring Devadatta, the Master explained that such an end was not new to him, for even in a former life Devadatta had spoken falsely and had been swallowed up by the earth. He then related a story of the past.

Long ago, when Brahmadatta was king in Benares, five hundred merchants embarked on a ship and set sail across the ocean. On the seventh day, when they were far from land, the ship was wrecked in mid-ocean, and all perished except one man, who survived by the favor of the wind and was carried to the port of Karambiya. He arrived there naked and destitute and began to wander about begging for alms. The people, seeing his appearance and conduct, believed him to be an ascetic who was content with little, and they treated him with great respect and hospitality. Although they offered him clothing, he refused it, claiming to have enough to live on. Delighted by what they took to be his extreme contentment, they built a hermitage for him, and he became known as the Karambiya ascetic.

As time passed, he gained much honor and material support. Even supernatural beings came to pay him respect, among them a king of garudas and a king of snakes named Pandaraka. One day the garuda-king sought the ascetic’s help, hoping to learn the secret by which snakes were able to defeat garudas when attacked. After the garuda departed, the snake-king later came to visit the ascetic. Through persistent questioning and assurances of secrecy, the ascetic induced the snake-king to reveal the method by which snakes made themselves heavy by swallowing stones and thereby caused attacking garudas to perish. The snake-king also revealed how garudas might overcome this defense by seizing snakes by the tail and forcing them to disgorge the stones.

After the snake-king departed, the garuda-king returned, and the ascetic betrayed the secret in full. Armed with this knowledge, the garuda-king immediately acted upon it. He raised a powerful wind, seized Pandaraka by the tail, forced him to disgorge the stones he had swallowed, and carried him aloft. While suspended head downward and facing destruction, the snake-king realized that his own indiscretion had brought about his downfall.

Eventually, the garuda-king reproved the snake-king for having revealed his secret, declaring that neither priest nor bird was to blame, but only the snake himself for his foolish trust. The snake-king acknowledged his error, recognizing that he had mistaken outward appearances for true virtue. The garuda-king then expounded the danger of revealing secrets, teaching that even parents, relatives, friends, or spouses should not be entrusted with matters that must remain hidden, and that wisdom lies in restraint, vigilance, and self-control.

Moved by this teaching and fearing death, the snake-king begged for his life. The garuda-king, accepting his submission, spared him and gently placed him back upon the ground. He assured the snake-king of safety and allowed him to depart to the realm of the nagas. Later, wishing to test whether the snake-king harbored lingering fear or hostility, the garuda-king again approached the naga realm and raised a mighty wind. The snake-king, suspecting treachery, assumed a vast and threatening form and prepared to defend himself. Seeing this, the garuda-king reproved him, and the snake-king explained that wisdom required constant vigilance, even toward former enemies. Through this exchange, the two were reconciled and became friendly.

Together they went to the hermitage of the Karambiya ascetic. There, the snake-king rebuked the ascetic for his deceit, exposing his false holiness and accusing him of treachery and moral corruption beneath the outward signs of ascetic life. By an Act of Truth spoken by the snake-king, the ascetic’s head was split into seven pieces. At that very spot, the earth opened, and the ascetic was swallowed up and reborn in the Avici hell. The snake-king and the garuda-king then returned each to his own abode.

Having completed the story, the Buddha explained its meaning to the brethren. He declared that this was not the first time Devadatta had told a lie and been swallowed by the earth. In that former life, Devadatta had been the false ascetic, Sariputta had been the snake-king, and the Buddha himself had been the garuda-king. Thus the Master showed that deceit and betrayal inevitably lead to ruin, both in the past and in the present.

.... o ....

J519. Sambula Jātaka -- Nói thật có sức mạnh có thể chữa bệnh.

Tóm tắt: Một người hầu gái dâng ba phần cháo cho Đức Phật và ngay trong ngày hôm đó, được phong làm hoàng hậu. Đức Phật kể lại một câu chuyện trong quá khứ, kể về một nàng công chúa cùng chồng mắc bệnh phong cùi sống ẩn dật trong rừng và được thần Sakka cứu thoát khỏi một con quỷ Yakkha. Nhờ một hành động mang sự thật, nàng đã chữa khỏi bệnh cho hoàng tử, nhưng khi trở về kinh đô, nàng lại bị chồng bỏ rơi, cho đến khi hoàng tử bị khiển trách vì sự vô tâm của mình.

.

Câu chuyện này được Đức Phật kể khi ngài đang trú ngụ tại Jetavana, liên quan đến Hoàng hậu Mallikā. Hoàn cảnh dẫn đến câu chuyện này được kể chi tiết trong truyện tiền kiếp Kummāsapiṇḍa. Nhờ công đức cúng dường ba phần cháo chua cho Đức Phật, Mallikā ngay trong ngày hôm đó đã được phong làm hoàng hậu chính. Bà có những người hầu trung thành, sở hữu năm vẻ đẹp của phụ nữ, giàu trí tuệ và là một đệ tử trung thành của Đức Phật. Bà chứng tỏ mình là một người vợ tận tụy và trung thành, và danh tiếng về lòng tận tụy của bà lan truyền khắp thành phố. Một ngày nọ, khi các vị tỳ kheo đang tụ họp trong Chánh điện, họ bàn luận về lòng trung thành gương mẫu của Hoàng hậu Mallikā. Khi Đức Phật đến và hỏi về chủ đề thảo luận của họ, ngài giải thích rằng Mallikā không chỉ tận tụy trong kiếp này mà còn thể hiện lòng tận tụy tương tự trong kiếp trước. Sau đó, ngài kể một câu chuyện về quá khứ.

Ngày xưa, khi Brahmadatta là vua của Benares, ông có một người con trai tên là Sotthisena. Khi Sotthisena đến tuổi trưởng thành, nhà vua phong ông làm thái tử. Vợ chính của Sotthisena, Sambula, vô cùng xinh đẹp, rạng rỡ và nổi tiếng về vẻ duyên dáng. Theo thời gian, Sotthisena mắc bệnh phong, và mặc dù các thầy thuốc đã cố gắng hết sức, căn bệnh vẫn không thể chữa khỏi. Khi bệnh tình trở nên trầm trọng và ghê tởm, Sotthisena rơi vào tuyệt vọng. Tin rằng mình đã bị hủy hoại và bị bỏ rơi, ông rời khỏi cung điện và đi vào rừng, dặn người báo tin cho nhà vua.

Tuy nhiên, Sambula từ chối bỏ rơi ông. Mặc dù ông cố gắng khuyên can, bà vẫn theo ông vào rừng, quyết tâm chăm sóc ông. Sotthisena dựng một túp lều đơn sơ bằng lá ở một nơi mát mẻ và có nhiều nước, nơi có nhiều trái cây rừng, và ông sống ở đó. Sambula tận tâm chăm sóc ông. Mỗi ngày bà dậy sớm, dọn dẹp am thất, chuẩn bị nước uống và nước tắm, chuẩn bị que đánh răng và chữa trị vết thương của ông bằng thảo dược. Bà hái trái cây cho ông ăn, lấy nước, tắm cho ông và chăm sóc mọi nhu cầu của ông với lòng từ bi không mệt mỏi. Sau bữa ăn, bà rửa tay chân cho ông, sắp xếp chỗ nghỉ ngơi cho ông và nằm gần đó để trông chừng. Bằng cách đó, nàng Sambula tận tâm phục vụ chồng mà không hề than phiền.

Một ngày nọ, khi đang trở về từ rừng với những trái cây hái được, Sambula phát hiện ra một hang động trên núi có một hồ nước. Nàng đặt giỏ xuống, xuống tắm, thoa thuốc nhuộm màu vàng lên người trước khi rửa sạch. Khi nàng bước ra và đứng bên bờ hồ, vẻ đẹp của nàng chiếu sáng cả khu rừng xung quanh. Lúc đó, một con yêu tinh đang lang thang tìm kiếm con mồi nhìn thấy nàng và bị mê hoặc bởi vẻ đẹp của nàng. Hắn ta bắt lấy nàng và đe dọa tính mạng nàng.

Mặc dù vô cùng sợ hãi, tâm trí của Sambula vẫn chỉ hướng về chồng mình. Nhờ sức mạnh của đức hạnh và lòng trung thành kiên định của nàng, cung điện của Sakka, vua của các vị thần, đã rung chuyển. Nhận ra nguyên nhân, Sakka nhanh chóng hạ xuống, tay cầm tia sét. Ông khiển trách con yêu tinh, tuyên bố rằng Sambula là một người phụ nữ có đức hạnh cao thượng và cảnh báo rằng bất kỳ tổn hại nào gây ra cho nàng sẽ mang lại hậu quả nghiêm trọng. Con yêu tinh, sợ hãi, đã thả nàng ra. Để ngăn chặn những hành động sai trái trong tương lai, Sakka đã dùng dây xích thần thánh trói con yêu tinh lại và ném hắn ta đến một ngọn núi xa xôi. Sau khi khuyên nhủ Sambula hãy giữ vững lòng kiên định, Sakka trở về thiên cung.

Dưới ánh trăng, Sambula trở về am thất an toàn. Khi Sotthisena thấy nàng đau khổ và than khóc, chàng nghi ngờ rằng hành vi của nàng che giấu một lỗi lầm nào đó và quyết định thử lòng chung thủy của nàng. Sambula kể lại mọi chuyện đã xảy ra, giải thích rằng con yêu tinh đã bắt cóc nàng và nàng đã được cứu thoát nhờ sự can thiệp của Sakka. Sotthisena vẫn không tin tưởng, nghi ngờ lời kể của nàng và buộc tội nàng lừa dối, cho rằng sự thật về hành động của phụ nữ rất khó nhận biết.

Bị tổn thương sâu sắc nhưng kiên quyết, Sambula tuyên bố rằng bằng sức mạnh của sự thật, nàng sẽ chữa lành cho chàng. Nàng đổ nước vào một chiếc bình và thực hiện một lời thề chân thật, khẳng định rằng nàng chưa từng yêu người đàn ông nào hơn chồng mình. Khi nàng đổ nước lên đầu Sotthisena, bệnh phong lập tức biến mất, giống như sự ăn mòn biến mất khi được rửa sạch bằng axit.

Sau khi ở trong rừng một thời gian ngắn, họ trở về Benares và vào khu vườn hoàng gia. Khi nhà vua biết tin họ đến, ông lập tức phục vị cho Sotthisena dưới tán lọng hoàng gia và phong cho Sambula chức vị hoàng hậu chính thức bằng nghi lễ rưới nước. Sau đó, ông từ bỏ thế tục và sống cuộc sống khổ hạnh, mặc dù vẫn tiếp tục dùng bữa trong cung điện.

Mặc dù Sambula đã đóng vai trò quan trọng trong việc phục hồi và chữa lành bệnh cho Sotthisena, nhưng Sotthisena lại bỏ bê nàng sau khi lên ngôi. Chàng không đối xử với nàng một cách xứng đáng và lại dành sự chú ý cho những người phụ nữ khác. Bị dày vò bởi sự ghen tuông và đau khổ, Sambula trở nên gầy gò và xanh xao, sức khỏe suy giảm rõ rệt.

Một ngày nọ, khi cha của Sotthisena, giờ đã là một nhà tu khổ hạnh, đến cung điện để dùng bữa, ông nhận thấy tình trạng yếu ớt của Sambula. Sau khi biết nguyên nhân nỗi khổ của nàng, ông trách mắng con trai vì sự vô ơn, nhắc nhở chàng về lòng chung thủy không lay chuyển của Sambula trong thời gian chàng bị bệnh và lưu đày. Ông tuyên bố rằng phản bội người vợ chung thủy là một tội lỗi nghiêm trọng và thúc giục Sotthisena hãy hành động chính trực và tôn vinh đức hạnh của nàng.

Sau khi cha mình rời đi, Sotthisena nhận ra lỗi lầm của mình. Chàng triệu tập Sambula, cầu xin sự tha thứ của nàng và phục hồi hoàn toàn danh dự và quyền lực cho nàng. Từ đó trở đi, hai người sống hòa thuận, thực hiện các việc thiện và đức hạnh. Cuối đời, họ ra đi theo nghiệp báo của mình, trong khi người cha tu khổ hạnh, sau khi đạt được thiền định sâu sắc, được tái sinh ở cõi Brahma. Sau khi kể xong câu chuyện, Đức Phật giải thích ý nghĩa của nó. Ngài tuyên bố rằng lòng sùng kính của Mallikā trong kiếp này là sự tiếp nối lòng sùng kính của nàng trong kiếp trước. Trong kiếp trước đó, Sambula chính là Mallikā, Sotthisena là vua của Kosala, và vị đạo sĩ kia chính là Đức Phật.

.... o ....

J519. Sambula Jātaka -- Speaking the truth has the power to heal.

Summary: One maid gives three portions of gruel to the Buddha and is, on that very day, elevated to the position of chief queen. The Buddha recounts a past story in which a princess retires to the forest with her leprous husband and is saved from a Yakkha by Sakka. Through an act of truth, she cures the prince of his disease but is neglected upon their return to the capital, until her husband is reproved for his neglect.

.

This story was told by the Buddha while he was dwelling at Jetavana, concerning Queen Mallikā. The introductory circumstances are related at length in the Kummāsapiṇḍa Birth. By the power of a gift of three portions of sour gruel offered to the Tathāgata, Mallikā on that very day rose to the rank of chief queen. She was endowed with faithful servants, possessed of the five feminine charms, rich in understanding, and firmly established as a disciple of the Buddha. She proved herself a devoted and loyal wife, and her reputation for devotion spread throughout the city. One day, while the brethren were assembled in the Hall of Truth, they discussed the exemplary faithfulness of Queen Mallikā. When the Master arrived and asked about their topic of discussion, he explained that Mallikā had not only been devoted in this life but had shown the same devotion in a former existence. He then related a story of the past.

In former times, when Brahmadatta was king of Benares, he had a son named Sotthisena. When Sotthisena came of age, the king appointed him as viceroy. Sotthisena’s chief consort, Sambula, was exceedingly beautiful, radiant in form, and renowned for her grace. In time, Sotthisena became afflicted with leprosy, and despite the efforts of physicians, the disease could not be cured. As the illness worsened and became repulsive, Sotthisena fell into despair. Believing himself ruined and abandoned, he left his royal household and went into the forest, instructing that his departure be reported to the king.

Sambula, however, refused to abandon him. Despite his attempts to dissuade her, she followed him into the forest, resolved to care for him. Sotthisena built a simple leaf-hut in a cool and well-watered place where wild fruits were plentiful, and there he took up his dwelling. Sambula devoted herself entirely to his care. Each day she rose early, cleaned the hermitage, prepared water for drinking and washing, provided tooth-sticks, and tended his sores with medicinal herbs. She gathered fruits for his sustenance, fetched water, bathed him, and attended to all his needs with tireless compassion. After his meals, she washed his hands and feet, arranged his resting place, and lay down nearby to remain watchful. In this way she faithfully served her husband without complaint.

One day, while returning from the forest with gathered fruit, Sambula discovered a mountain cave with a pool of water. Setting down her basket, she descended to bathe, anointing her body with yellow dye before washing. When she emerged and stood at the edge of the pool, her beauty illuminated the forest around her. At that moment, a goblin roaming in search of prey saw her and became inflamed with desire. He seized her and threatened her life.

Though terrified, Sambula’s thoughts remained fixed on her husband alone. By the power of her virtue and unwavering devotion, the dwelling of Sakka, king of the gods, was shaken. Realizing the cause, Sakka descended swiftly, thunderbolt in hand. He rebuked the goblin, declaring that Sambula was a woman of supreme virtue and warning that any harm done to her would bring dire consequences. The goblin, struck with fear, released her. To prevent future wrongdoing, Sakka bound the goblin with celestial chains and cast him far away to a distant mountain. After exhorting Sambula to remain steadfast, Sakka returned to his heavenly abode.

By moonlight, Sambula returned safely to the hermitage. When Sotthisena observed her distress and lamentation, he suspected that her conduct concealed some fault and resolved to test her fidelity. Sambula then related everything that had happened, explaining how the goblin had seized her and how she had been rescued through the intervention of Sakka. Sotthisena, still mistrustful, doubted her account and accused her of deceit, claiming that the truth of women’s actions was difficult to discern.

Deeply hurt but resolute, Sambula declared that by the power of truth she would heal him. She filled a vessel with water and performed an Act of Truth, affirming that she had never loved any man more than her husband. When she poured the water over Sotthisena’s head, the leprosy instantly vanished, just as corrosion disappears when washed away by acid.

After remaining in the forest for a short time, they returned to Benares and entered the royal park. When the king learned of their arrival, he immediately reinstated Sotthisena beneath the royal umbrella and raised Sambula by ceremonial sprinkling to the rank of chief queen. He then renounced the world and adopted the ascetic life, though he continued to take his meals in the palace.

Although Sambula had been instrumental in Sotthisena’s restoration and healing, Sotthisena neglected her after ascending the throne. He failed to show her due honor and devoted himself instead to other women. Overcome by jealousy and sorrow, Sambula grew thin and pale, her health visibly declining.

One day, when Sotthisena’s father, now an ascetic, came to the palace to take his meal, he noticed Sambula’s weakened condition. On learning the cause of her suffering, he reproached his son for his ingratitude, reminding him of Sambula’s unwavering devotion during his illness and exile. He declared that betrayal of a faithful wife was a grievous wrong and urged Sotthisena to act righteously and honor her virtue.

After his father departed, Sotthisena realized his error. He summoned Sambula, begged her forgiveness, and restored her fully to honor and authority. From that time onward, the couple lived in harmony, performing acts of charity and virtue. At the end of their lives, they passed on according to their deeds, while the ascetic father, having attained deep meditation, was reborn in the Brahma world.

Having concluded the story, the Buddha explained its significance. He declared that Mallikā’s devotion in the present life was the continuation of her devotion in a former existence. In that past life, Sambula had been Mallikā, Sotthisena had been the king of Kosala, and the ascetic father had been the Buddha himself.

.... o ....

J520. Gandatindu Jātaka -- Một người cai trị phải trị vì bằng sự chính trực.

Tóm tắt: Đức Phật khuyên vua xứ Kosala nên sống một cách chính trực và kể một câu chuyện về một vị vua có cách cai trị tồi tệ đến nỗi các vị quan lại cũng bắt chước theo và bóc lột dân chúng. Sau đó, vị vua bị một vị thần cây khiển trách, vị thần này bí mật quan sát ông khi ông lang thang khắp vương quốc, nơi tất cả những người ông gặp đều nguyền rủa ông cho đến khi ông thay đổi hành vi của mình.

.

Khi đang cư ngụ tại Jetavana, Đức Phật đã kể câu chuyện này liên quan đến lời khuyên răn một vị vua. Chi tiết về lời khuyên răn đó đã được kể ở nơi khác, và Đức Phật giờ đây nhắc lại chúng để minh họa hậu quả của sự cai trị bất chính.

Thời xưa, tại thành phố Kampilla thuộc vương quốc Bắc Pancala, có một vị vua tên là Pancala. Ông cai trị vương quốc của mình bằng những cách thức tàn bạo, liều lĩnh và bất công, không quan tâm đến lẽ phải. Vì chính nhà vua bất chính, các quan lại của ông cũng noi theo gương xấu, và sự bất công lan tràn khắp bộ máy hành chính. Người dân trong nước bị áp bức nặng nề bởi thuế má và sự tàn bạo của quan lại. Không thể chịu đựng được nỗi khổ, nhiều người đã bỏ nhà cửa, dẫn vợ con vào rừng, sống như những sinh vật hoang dã.

Những ngôi làng từng thịnh vượng giờ trở nên hoang vắng. Vì sợ hãi quan lại của nhà vua, người dân không còn dám ở trong nhà vào ban ngày nữa. Thay vào đó, họ bao quanh nhà bằng cành cây gai và ngay khi trời sáng, họ biến mất vào rừng. Ban ngày họ bị quan lại của nhà vua cướp bóc, và ban đêm họ bị bọn cướp tấn công. Tình trạng vô pháp luật lan tràn khắp nơi, và vương quốc dần dần suy tàn.

Vào thời điểm đó, Bồ Tát tái sinh thành một vị thần sống trong một cây tinduka bên ngoài thành phố. Mỗi năm, nhà vua đều dâng lễ vật cho vị thần cây này trị giá một nghìn đồng tiền. Quan sát sự suy tàn của vương quốc, Bồ Tát nhận thấy rằng sự lơ là của nhà vua đang hủy hoại vương quốc và không ai khác ngoài chính mình có thể hướng dẫn nhà vua trở lại con đường chính nghĩa. Nhớ đến lòng hào phóng của nhà vua, ngài quyết định khuyên răn ông.

Một đêm nọ, Bồ Tát vào phòng ngủ của nhà vua và hiện ra ở đầu giường, lơ lửng trong không trung và phát ra ánh sáng rực rỡ. Ngài tự xưng là vị thần của cây tinduka và cảnh báo nhà vua rằng sự cai trị bất cẩn và bất công của ông đang mang lại sự hủy hoại cho toàn bộ vương quốc. Ngài giải thích rằng những vị vua lơ là sẽ mất quyền kiểm soát vương quốc trong kiếp này và sẽ tái sinh vào những cảnh giới đau khổ trong kiếp sau. Khi những người cai trị lơ là, sự hỗn loạn sẽ lan rộng cả trong và ngoài biên giới. Do đó, một vị vua phải cảnh giác, siêng năng và chú tâm đến lẽ phải. Sau khi đưa ra lời khuyên răn này và nhấn mạnh cho nhà vua thấy những nguy hiểm của sự lười biếng và cai trị sai lầm, Bồ Tát trở về nơi ở của mình. Nhà vua vô cùng bàng hoàng trước lời cảnh báo. Sáng hôm sau, ông giao phó việc triều chính cho các vị quan đại thần và cùng với vị giáo sĩ của mình rời khỏi thành phố qua cổng phía đông. Sau khi đi được một đoạn ngắn, họ bắt gặp những cảnh tượng cho thấy sự khốn khổ tột cùng của người dân. Họ thấy một ông lão trong làng, vì sợ hãi các quan lại của nhà vua, đã rào nhà bằng gai nhọn và hàng ngày cùng gia đình trốn vào rừng. Khi người đàn ông trở về vào ban đêm, chân ông bị gai đâm, và khi đang ngồi nhổ gai, ông nguyền rủa nhà vua vì những đau khổ do sự cai trị bất công gây ra. Lời nguyền này xuất hiện nhờ sức mạnh của Bồ Tát, người đã tác động đến lời nói của ông lão để sự thật về nỗi khổ của người dân được nói ra.

Nhà vua và vị giáo sĩ, vẫn trong bộ dạng cải trang, lắng nghe khi ông lão giải thích rằng nỗi sợ hãi thường trực trước các quan lại vào ban ngày và bọn trộm cướp vào ban đêm đã khiến người dân phải rời bỏ nhà cửa và sống như những kẻ chạy trốn. Nhận thấy sự đúng đắn trong lời nói của ông lão, họ tiếp tục cuộc hành trình để điều tra thêm.

Ở một ngôi làng khác, họ nghe thấy một bà lão nghèo khổ đang nuôi dưỡng hai cô con gái đã trưởng thành. Vì sợ những nguy hiểm trong rừng, bà giữ các con ở nhà trong khi tự mình đi kiếm củi và lá cây. Một ngày nọ, khi đang leo lên bụi cây để hái lá, bà bị ngã và bị thương, trong nỗi đau khổ, bà nguyền rủa nhà vua, than thở rằng dưới triều đại như vậy, các con gái của bà vẫn chưa lấy chồng và không có hy vọng gì. Khi được hỏi, bà giải thích rằng trong thời kỳ áp bức và hỗn loạn, cơ hội kết hôn biến mất, và cuộc sống của những người phụ nữ vô tội tràn đầy đau khổ. Những lời nói của bà cũng khiến nhà vua nhận thấy sự thật.

Tiếp tục cuộc hành trình, họ gặp một người nông dân có con bò bị thương nặng do lưỡi cày. Trong nỗi đau buồn, người đàn ông nguyền rủa nhà vua, đổ lỗi cho sự cai trị bất công đã gây ra những khó khăn cho cả những người lao động lương thiện. Ông giải thích rằng vì sự áp bức và hỗn loạn, công việc của ông bị chậm trễ, và sự bất cẩn do khó khăn đã dẫn đến việc mất con bò. Một lần nữa, nhà vua nhận ra sự đúng đắn của lời than phiền này.

Tiếp tục cuộc hành trình, họ dừng chân một thời gian ngắn ở một ngôi làng khác. Sáng sớm hôm đó, một con bò hung dữ đá vào người bán sữa và làm đổ thùng sữa. Người đàn ông nguyền rủa nhà vua, và khi được hỏi, ông giải thích rằng những yêu cầu ngày càng tăng và điều kiện áp bức buộc người dân phải bóc lột động vật vượt quá giới hạn tự nhiên của chúng, gây hại cho cả động vật và con người. Điều này cũng được coi là hậu quả của sự cai trị bất chính.

Khi đi tiếp, họ chứng kiến ​​những người thu thuế giết một con bê non để lấy da làm vỏ kiếm. Con bò mẹ, điên cuồng vì đau khổ, lang thang khắp nơi mà không ăn uống gì, tìm kiếm con bê đã mất. Những cậu bé trong làng, thấy nỗi đau khổ của nó, nguyền rủa nhà vua, đổ lỗi cho ông vì đã cho phép sự tàn ác như vậy đối với những sinh vật vô tội. Lời nói của họ cho thấy quyền lực không được kiểm soát đã sinh ra sự vô tâm và bạo lực ngay cả đối với những sinh vật vô tội.

Xa hơn nữa trên đường, họ đến một cái ao khô cạn, nơi những con quạ đang mổ những con ếch và ăn thịt chúng. Ở đó, nhờ sức mạnh của Bồ Tát, ngay cả một con ếch cũng thốt ra lời nguyền rủa nhà vua, tuyên bố rằng dưới một triều đại thực sự công chính, đất nước sẽ thịnh vượng đến nỗi các sinh vật sẽ không bị buộc phải ăn thịt lẫn nhau. Dấu hiệu cuối cùng này đã thuyết phục nhà vua rằng sự đau khổ do sự cai trị sai lầm của ông gây ra đã lan rộng đến mọi ngóc ngách của vương quốc, ảnh hưởng đến cả con người và động vật.

Hoàn toàn thức tỉnh trước sự thật, nhà vua và vị giáo sĩ của mình trở về thành phố. Từ đó trở đi, nhà vua từ bỏ những thói xấu và cai trị vương quốc một cách chính trực. Ông cai trị bằng công lý và lòng từ bi, bảo vệ thần dân, ngăn chặn tham nhũng và lập lại trật tự. Dưới sự hướng dẫn của lời khuyên răn của Bồ Tát, ông tận tâm làm việc thiện và thực hiện các việc làm tốt, và hòa bình trở lại đất nước.

Đức Phật kết thúc bài thuyết pháp bằng cách khuyên răn vua xứ Kosala rằng một vị vua phải từ bỏ những con đường xấu xa và cai trị theo lẽ phải. Sau đó, Ngài tiết lộ về kiếp trước, tuyên bố rằng vị thần cây tinduka trong kiếp đó chính là Ngài.

.... o ....

J520. Gandatindu Jātaka -- A ruler must govern with righteousness.

Summary: The Buddha advises the king of Kosala to live righteously and tells a story about a king whose rule was so poor that his ministers followed suit and exploited the people. The king is then admonished by a Tree Devatā, who observes him secretly roaming his realm, where all the people he meets curse him until he changes his behavior.

.

While dwelling at Jetavana, the Buddha told this story in connection with the admonition of a king. The detailed circumstances of that admonition had already been related elsewhere, and the Buddha now recalled them again to illustrate the consequences of unrighteous rule.

In ancient times, in the city of Kampilla in the kingdom of the Northern Pancalas, there ruled a king named Pancala. He governed his realm in evil ways, reckless and unjust, caring little for righteousness. Because the king himself was unrighteous, his ministers followed his example, and injustice spread throughout the administration. The people of the land were heavily oppressed by taxation and official cruelty. Unable to endure their suffering, many abandoned their homes, taking their wives and children with them into the forests, where they lived like wild creatures.

Villages that had once been thriving became deserted. Out of fear of the king’s officers, people no longer dared to remain in their houses during the day. Instead, they surrounded their homes with thorn branches and, as soon as morning came, disappeared into the forest. By day they were plundered by the king’s officials, and by night they were robbed by bandits. Lawlessness prevailed everywhere, and the kingdom steadily fell into ruin.

At that time, the Bodhisatta was reborn as a divinity dwelling in a tinduka tree outside the city. Each year the king made an offering to this tree-spirit worth a thousand pieces of money. Observing the decline of the kingdom, the Bodhisatta reflected that the king’s negligence was destroying the realm and that no one but himself could guide the king back to righteousness. Remembering the king’s generosity, he resolved to admonish him.

One night the Bodhisatta entered the royal chamber and appeared at the head of the king’s bed, hovering in the air and emitting a brilliant light. He revealed himself as the divinity of the tinduka tree and warned the king that his careless and unjust rule was bringing ruin upon the entire kingdom. He explained that negligent kings lose control over their realms in this life and are reborn in states of suffering in the next. When rulers are careless, disorder spreads both within and beyond their borders. A king, therefore, must be vigilant, diligent, and attentive to righteousness. Having delivered this admonition and impressed upon the king the dangers of sloth and misrule, the Bodhisatta departed to his own abode.

The king was deeply shaken by the warning. On the following morning, he entrusted the affairs of the kingdom to his ministers and, accompanied by his chaplain, left the city by the eastern gate. After traveling a short distance, they encountered scenes that revealed the full misery of the people. They saw an elderly villager who, in fear of the king’s officers, had fenced his house with thorns and fled daily into the forest with his family. When the man returned at night, his foot was pierced by a thorn, and as he sat extracting it, he cursed the king for the suffering caused by unjust rule. This curse arose through the power of the Bodhisatta, who influenced the man’s speech so that the truth of the people’s suffering would be voiced.

The king and his chaplain, still in disguise, listened as the old man explained that the constant fear of officials by day and thieves by night drove people from their homes and forced them to live like fugitives. Recognizing the justice of his words, they continued onward to investigate further.

In another village, they overheard a poor old woman who supported her two grown daughters. Fearful of the dangers of the forest, she kept them at home while she herself gathered firewood and leaves. One day, while climbing a bush to collect foliage, she fell and injured herself, and in her distress she cursed the king, lamenting that under such a reign her daughters remained unmarried and hopeless. When questioned, she explained that in times of oppression and disorder, marriage prospects vanished, and the lives of innocent women were filled with sorrow. Her words, too, struck the king as truthful.

Traveling onward, they encountered a ploughman whose ox had been fatally wounded by the ploughshare. In his grief, the man cursed the king, blaming unjust rule for the hardships that befell even honest laborers. He explained that because of oppression and disorder, he had been delayed in his work, and the carelessness born of hardship had led to the loss of his ox. Again, the king recognized the justice of this complaint.

Continuing their journey, they stayed briefly in another village. Early one morning, a vicious cow kicked a milkman and overturned his milk pail. The man cursed the king, and when questioned, explained that increasing demands and oppressive conditions forced people to exploit animals beyond their nature, causing harm to both beasts and humans alike. This, too, was seen as a consequence of unrighteous governance.

As they went on, they witnessed tax collectors killing a young calf to strip its skin for a sword sheath. The mother cow, frantic with grief, wandered about without eating or drinking, searching for her lost calf. Village boys, seeing her distress, cursed the king, blaming him for allowing such cruelty against the defenseless. Their words revealed how unchecked authority bred heartlessness and violence even toward innocent creatures.

Further along the road, they came upon a dried-up tank where crows were pecking at frogs and devouring them. There, through the power of the Bodhisatta, even a frog uttered a curse against the king, declaring that under a truly righteous reign, the land would be so prosperous that creatures would not be driven to prey upon one another. This final sign convinced the king that the suffering caused by his misrule extended to every corner of the realm, affecting humans and animals alike.

Fully awakened to the truth, the king and his chaplain returned to the city. From that time onward, the king abandoned evil ways and governed his kingdom righteously. He ruled with justice and compassion, protected his subjects, restrained corruption, and restored order. Under the guidance of the Bodhisatta’s admonition, he devoted himself to charity and good works, and peace returned to the land.

The Buddha concluded this discourse by instructing the king of Kosala that a ruler must forsake evil courses and govern according to righteousness. He then identified the past life, declaring that the divinity of the tinduka tree in that former time had been he himself.

.... o ....

.

 




Gửi ý kiến của bạn
Vui lòng nhập tiếng Việt có dấu. Cách gõ tiếng Việt có dấu ==> https://youtu.be/ngEjjyOByH4
Tên của bạn
Email của bạn
)
McDonald’s invites fans to step into the world of TinyTAN with the Happy Meal Magic Meetup in Los Angeles, celebrating the launch of the new TinyTAN Happy Meal.
Chiều Thứ Năm 25/9, bồi thẩm đoàn liên bang ở Virginia đã quyết định truy tố James B. Comey, cựu giám đốc F.B.I. Đây được cho là kết quả từ nỗ lực không ngừng của Tổng thống Trump nhằm trả thù người đã điều tra chiến dịch tranh cử tổng thống năm 2016 của ông có thể có liên hệ với Nga. NY Times trích dẫn theo những người quen thuộc với quyết định này cho biết. Trong khi các cáo buộc vẫn chưa được tiết lộ, những người quen thuộc với quyết định cho biết bồi thẩm đoàn đã truy tố ông Comey về tội danh đưa ra tuyên bố sai sự thật và một tội danh cản trở.
Tyler Sadwith, Giám Đốc Medicaid Tiểu Bang của DHCS, cho biết các thay đổi trong chính sánh liên bang đã khiến nhiều thành viên Medi-Cal lo sợ.
Theo Tòa án Tối cao hiện nay, Trump sẽ được miễn truy tố nếu Trump ra lệnh cho Đội Biệt Kích SEAL số 6 bắn chết bất kỳ đối thủ nào mà Trump vu khống là tham nhũng, miễn truy tố kể cả khi Trump ra lệnh quân đội đảo chính, kể cả khi bịa đặt hồ sơ để truy tố bất kỳ ai mà Trump ghét, kể cả chỉ đạo quân đội can thiệp bất hợp pháp vào bầu cử.
- Lãnh tụ Palestine, Abbas Lên Án Israel “Diệt Chủng,” Khẳng Định Hamas Không Có Vai Trò Trong Chính Quyền Gaza Hậu Chiến. - Bạch Ốc Đe Doạ Sa Thải Hàng Loạt Nếu Chính Phủ Đóng Cửa. - Bão Ragasa Giảm Cường Độ, Nhưng Vẫn Gây Mưa Lớn Và Nguy Cơ Lũ Ở Miền Bắc Việt Nam. - Jimmy Kimmel Chế Giễu Trump Về “Câu Lạc Bộ Thảm Hại”. - Thăm Dò: Đa Số Người Mỹ Lo Ngại Tự Do Ngôn Luận Bị Đe Dọa Dưới Thời Trump. - Tòa Liên Bang Phán Quyết Trump Không Thể Giữ Tiền Cứu Trợ Thiên Tai Để Ép Các Bang Hợp Tác Về Di Trú. - Cắt Giảm Nhân Sự DOGE Khiến Cơ Quan An Sinh Xã Hội Tê Liệt, Nhân Viên Phải Dùng Thuốc Để Cầm Cự. - Công Tố Viên Liên Bang Gấp Rút Soạn Cáo Trạng Nhắm Vào James Comey. - Kinh Tế Mỹ Quý II Tăng 3,8%, Mạnh Hơn So Với Báo Cáo Trước. - Zelensky Cảnh Báo Về Cuộc Chạy Đua Vũ Khí Mới Liên Quan Đến Drones. - Trump Có Thể Đang Rửa Tay Khỏi Chiến Tranh Ukraine. - Lindsey Graham Nói Sẽ Ủng Hộ Trump Tranh Cử Nhiệm Kỳ Ba Năm 2028. - Southwest Airlines Đặt Hạn Chế Mới Về Pin.
(WASHINGTON, ngày 25 tháng 9, APNews) – Tổng thống Donald Trump hôm thứ Ba cho biết ông đã gặp “ba sự việc đầy hiểm ác” khi tham dự kỳ họp Đại Hội Đồng Liên Hiệp Quốc, và Sở Mật Vụ Hoa Kỳ (Secret Service) sẽ chính thức điều tra sự việc.
(WASHINGTON, ngày 24 tháng 9, Reuters) – Tổng thống Donald Trump hôm Thứ Tư cho biết sẽ ký một sắc lệnh hành pháp ngay trong tuần để triệt phá các “mạng lưới khủng bố trong nước.” Trump luôn khăng khăng rằng đây là những nhóm được bên cánh tả tài trợ để kích thích bạo lực chống lại các nhóm bảo thủ.
J191. Ruhaka Jātaka -- Vị Tăng Không Thể Buông Bỏ Tóm tắt: Một vị sư xuất gia sau khi rời gia đình, dần dần lại rơi vào vòng kiểm soát của vợ cũ. Đức Phật kể câu chuyện về một vị Bà-la-môn bị vợ mình làm trò hề, bắt ông phải ăn mặc và hành xử như một con ngựa. Xấu hổ trước mặt nhà vua, ông đuổi bà đi và cưới một người vợ mới.
Một giáo viên ở Thung lũng Chino Valley (Arizona) đang đối mặt với việc bị sa thải sau khi một chiến dịch trực tuyến chỉ trích các bài đăng trên mạng xã hội của cô sau vụ sát hại nhà hoạt động bảo thủ Charlie Kirk. - Những người phản đối cho rằng một câu trích dẫn được đăng lại từ một nhà sư Phật giáo là sự chấp nhận bạo lực, trong khi những người ủng hộ bảo vệ quyền tự do ngôn luận của cô theo Tu chính án thứ nhất.
Giám đốc FBI Kash Patel cho hay đội điều tra tìm thấy một lốc gồm năm viên đạn của vụ nổ súng sáng Thứ Tư 24/9 tại trung tâm giam giữ của Cơ quan Thực thi Di trú và Hải quan Hoa Kỳ (ICE) ở Dallas có dòng chữ “ANTI-ICE”, theo CNN.
-- Bị ICE chặn bắt, còng tay, xích bụng, hơn 8 giờ được thả đi thẳng đến bệnh viện chuyển dạ người bầm tím, Cary Lopez Alvarado, 23 tuổi, công dân Mỹ, sinh tại Los Angeles, lên tiếng về cách đối xử bất nhân của nhân viên liên bang. -- Dân Chủ Thắng Ghế Hạ Viện ở Arizona, Gây Thêm Áp Lực Cho Cộng Hòa. -- Jimmy Kimmel Trở Lại Màn Ảnh ABC, Bảo Vệ Quyền Tự Do Ngôn Luận. -- Dallas Nổ Súng Tại Trụ Sở ICE, 1 Chết, Hung Thủ Tự Sát. -- Người Từng Được DACA Bảo Vệ Chết Trong Trại Giam ICE ở California. -- Tối Cao Pháp Viện Cho Phép Trump Bãi Nhiệm Ủy Viên FTC. -- Tượng Trump – Epstein Xuất Hiện Trước Quốc Hội. -- Ryan Routh Bị Kết Tội Âm Mưu Ám Sát Tổng Thống Trump -- Trump Tin Ukraine Có Thể Giành Lại Toàn Bộ Lãnh Thổ Với Hỗ Trợ của NATO. Nga Bác Bỏ Lời Chỉ Trích Của Trump, Tuyên Bố “Chúng Tôi Là Gấu Thật”. -- Trump Phát Biểu Tại Liên Hiệp Quốc: Từ Tua-Bin Gió Đến Chiến Tranh Và Biên Giới. -- Iran Hành Quyết Ít Nhất 1.000 Người Trong Chiến Dịch Tử Hình Quy Mô Lớn.
(WASHINGTON, ngày 23 tháng 9, Reuters) – Bộ trưởng Quốc Phòng Hoa Kỳ Pete Hegseth tuyên bố giải tán một trong những ủy ban cố vấn lâu đời nhất của quân đội, thường giúp đưa ra khuyến nghị về phúc lợi, đời sống, và cách đối xử với nữ quân nhân. Lý do được đưa ra là vì ủy ban này đang cổ súy một “nghị trình nữ quyền gây chia rẽ.”
(WASHINGTON, ngày 23 tháng 9, Reuters) – Theo một cuộc thăm dò mới được công bố bởi Reuters/Ipsos, tỷ lệ tín nhiệm đối với Tổng thống Donald Trump đã giảm nhẹ trong thời gian gần đây; nguyên nhân là vì người dân ngày càng thấy lo về tình hình kinh tế và năng lực của ông trong việc kiểm soát lạm phát.
Washington, DC – Một bước đi lịch sử vừa diễn ra tại Quốc hội Hoa Kỳ: Dân biểu Derek Trần (CA-45), vị dân cử Mỹ gốc Việt đầu tiên đại diện cho cộng đồng Little Saigon tại Quận Cam, hôm nay đã long trọng giới thiệu nghị quyết vinh danh Cờ Vàng Di Sản Việt Nam. Washington, DC – Một bước đi lịch sử vừa diễn ra tại Quốc hội Hoa Kỳ: Dân biểu Derek Trần (CA-45), vị dân cử Mỹ gốc Việt đầu tiên đại diện cho cộng đồng Little Saigon tại Quận Cam, hôm nay đã long trọng giới thiệu nghị quyết vinh danh Cờ Vàng Di Sản Việt Nam. Nghị quyết nhận được sự ủng hộ mạnh mẽ của 9 dân biểu đồng bảo trợ, trong đó có: Lou Correa (CA-46), Dave Min (CA-47), Young Kim (CA-40), Ro Khanna (CA-17), Lateefah Simon (CA-12), Judy Chu (CA-28), Scott Peters (CA-50), Henry “Hank” Johnson (GA-04), Zoe Lofgren (CA-18), và Grace Meng (NY-06).
Tôi đã được thụ phong linh mục Công giáo hơn 48 năm sau khi trả qua 12 năm đào tạo tại chủng viện. Trong 60 năm đó, tôi chưa bao giờ xấu hổ trước lời nói của một vị giám mục nào như khi nghe Đức Hồng Y Timothy Dolan nói về Charlie Kirk.


Kính chào quý vị,

Tôi là Derek Trần, dân biểu đại diện Địa Hạt 45, và thật là một vinh dự lớn lao khi được đứng nơi đây hôm nay, giữa những tiếng nói, những câu chuyện, và những tâm hồn đã góp phần tạo nên diện mạo văn học của cộng đồng người Mỹ gốc Việt trong suốt một phần tư thế kỷ qua.
Hai mươi lăm năm! Một cột mốc bạc! Một cột mốc không chỉ đánh dấu thời gian trôi qua, mà còn ghi nhận sức bền bỉ của một giấc mơ. Hôm nay, chúng ta kỷ niệm 25 năm Giải Viết Về Nước Mỹ của nhật báo Việt Báo.

Khi những người sáng lập giải thưởng này lần đầu tiên ngồi lại bàn thảo, họ đã hiểu một điều rất căn bản rằng: Kinh nghiệm tỵ nạn, hành trình nhập cư, những phức tạp, gian nan, và sự thành công mỹ mãn trong hành trình trở thành người Mỹ gốc Việt – tất cả cần được ghi lại. Một hành trình ý nghĩa không những cần nhân chứng, mà cần cả những người viết để ghi nhận và bảo tồn. Họ không chỉ tạo ra một cuộc thi; họ đã và đang xây dựng một kho lưu trữ. Họ thắp lên một ngọn hải đăng cho thế hệ sau để chuyển hóa tổn thương thành chứng tích, sự im lặng thành lời ca, và cuộc sống lưu vong thành sự hội nhập.

Trong những ngày đầu ấy, văn học Hoa Kỳ thường chưa phản ánh đầy đủ sự phong phú và đa dạng về kinh nghiệm của chúng ta. Giải thưởng Viết Về Nước Mỹ thực sự đã lấp đầy khoảng trống đó bằng sự ghi nhận và khích lệ vô số tác giả, những người đã cầm bút và cùng viết nên một thông điệp mạnh mẽ: “Chúng ta đang hiện diện nơi đây. Trải nghiệm của chúng ta là quan trọng. Và nước Mỹ của chúng ta là thế đó.”


Suốt 25 năm qua, giải thưởng này không chỉ vinh danh tài năng mà dựng nên một cộng đồng và tạo thành một truyền thống.
Những cây bút được tôn vinh hôm nay không chỉ mô tả nước Mỹ; họ định nghĩa nó. Họ mở rộng giới hạn của nước Mỹ, làm phong phú văn hóa của nước Mỹ, và khắc sâu tâm hồn của nước Mỹ. Qua đôi mắt họ, chúng ta nhìn thấy một nước Mỹ tinh tế hơn, nhân ái hơn, và sau cùng, chân thật hơn.

Xin được nhắn gửi đến các tác giả góp mặt từ bao thế hệ để chia sẻ tấm chân tình trên các bài viết, chúng tôi trân trọng cảm ơn sự can đảm của quý vị. Can đảm không chỉ là vượt qua biến cố của lịch sử; can đảm còn là việc ngồi trước trang giấy trắng, đối diện với chính mình, lục lọi ký ức đau thương sâu đậm, và gửi tặng trải nghiệm đó đến tha nhân. Quý vị là những người gìn giữ ký ức tập thể và là những người dẫn đường cho tương lai văn hóa Việt tại Hoa Kỳ.

Với Việt Báo: Xin trân trọng cảm ơn tầm nhìn, tâm huyết, và sự duy trì bền bỉ giải thưởng này suốt một phần tư thế kỷ.
Khi hướng đến 25 năm tới, chúng ta hãy tiếp tục khích lệ thế hệ kế tiếp—những blogger, thi sĩ, tiểu thuyết gia, nhà phê bình, nhà văn trẻ—để họ tìm thấy tiếng nói của chính mình và kể lại sự thật của họ, dù đó là thử thách hay niềm vui. Bởi văn chương không phải là một thứ xa xỉ; đó là sự cần thiết. Đó là cách chúng ta chữa lành, cách chúng ta ghi nhớ, và là cách chúng ta tìm thấy nơi chốn của mình một cách trọn vẹn.

Xin cảm ơn quý vị.

NHẬN TIN QUA EMAIL
Vui lòng nhập địa chỉ email muốn nhận.