Hôm nay,  

Chiêu Quân

21/02/200700:00:00(Xem: 6601)

Không thấy một gạch nối nào giữa hình ảnh người đẹp Chiêu Quân của Hán-quốc phải gạt lệ sang Hồ, với thời điểm giao mùa năm mới tiễn năm cũ. Vậy mà tôi cứ bâng khuâng, phảng phất đâu đây tiếng nức nở của giai nhân:

“Tuyết lạnh che mờ trời Hán-quốc

Tỳ-bà lanh lảnh buốt cung thương

Tang tình năm ngón, sầu dâng lệ

Chiêu Quân sang Hồ, xừ hồ sang” (*)

Có lẽ không gì ảo não cho bằng khi phải xa rời quê hương bất đắc dĩ. Huống chi, một vương phi được quân vương sùng ái mà chỉ vì quá đẹp nên đã phải biến thành quà tặng cho kẻ thắng trận. Có ai phải xa quê, trên đường biên giới, nhìn về đất mẹ mới cảm thông phần nào nỗi lòng Chiêu Quân:

“Đây Nhạn-Môn-Quan đường ải vắng

Trường Thành xa lắm, Hán Vương ơi!

Chiêu Quân che khép mền chiên bạch

Gió bấc trời Phiên thấm lạnh rồi 

Ngó lại xanh xanh triều Hán-Đế

Từng hàng châu lệ thấm chiên nhung

Quân Vương chắc cũng say và khóc

Ái Khanh! Ái Khanh! Lời nghẹn ngùng” (*)

Lòng người đi sầu muộn như thế. Còn kẻ ở thì sao" Chia lìa nào mà không đứt đoạn:

“Hồ xang, hồ xang, xừ hồ xang

Chiêu Quân nàng ơi, lệ dâng hàng

Lã chã trời Phiên mưa tuyết xuống

Chiêu Quân sang Hồ, xừ hồ xang” (*)

Người yêu thơ biết đến Quang Dũng ở những bài bất tử như Đôi mắt Người Sơn Tây, Đôi Bờ, Tây Tiến … nhưng bài Chiêu Quân, tương đối ít người thuộc hơn. Tôi cũng ở trong số này. Nhưng đêm nay, trong chuyển tiếp lặng thầm của trời đất, lòng tôi bỗng quặn lên hình ảnh một người phải gạt lệ xa quê. Biết bao người đã tức tưởi xa quê, sao phút giây này tôi lại chỉ mơ hồ thấy bóng dáng Chiêu Quân, một nhân vật, đối với tôi vẫn chỉ là huyền thoại"

Người thi sỹ như con tằm, khi nhả tơ là nhả chính nỗi lòng mình. Quang Dũng gửi gấm gì qua tiếng khóc Chiêu Quân, tôi không rõ, nhưng tiếng khóc đó đang chiêu cảm lòng người xa quê giữa giờ phút giao mùa, là tôi.

Quê nội tôi, làng Phương Viên, huyện Đan Phượng, tỉnh Hà Đông mà tôi tình cờ biết đó cũng chính là nơi Quang Dũng chào đời. Thi sỹ sinh năm 1921 tại làng Phượng Trì, huyện Đan Phượng, nghĩa là cùng huyện, chỉ khác làng thôi, mà làng quê Việt Nam thì nhỏ bé, nhiều khi chỉ cách nhau một lạch sông, một bờ đê hay dăm bụi tre ngăn con đường đất đỏ. Phương Viên và Phượng Trì là hai, trong số tám làng nhỏ mà địa danh được gọi chung là Tổng Phùng.

Khi khám phá ra điều này tôi mới thấp thoáng nhớ về những ngày thơ ấu. Mỗi mùa hè nghỉ học, được về quê chơi, tôi thường đong đưa nằm trên chiếc võng mắc ở nhà ngang, nhìn qua khung cửa thấy rặng núi xanh rì. Ngờ đâu, đó chính là rặng núi Ba Vì đã gợi niềm xúc cảm để Quang Dũng viết nên bài thơ nổi tiếng Đôi Mắt Người Sơn Tây, mở đầu với những câu:

“Em ở thành Sơn chạy giặc về

Tôi từ chinh chiến cũng ra đi

Cách biệt bao ngày quê Bất Bạt

Chiều xanh không thấy bóng Ba Vì” (+)

Bài thơ này được cố nhạc sỹ tài danh Phạm Đình Chương phổ nhạc và tự hát. Thơ và nhạc đã cất cánh bay suốt ba miền đất nước từ nhiều thập niên qua. Dù người biết nhạc hay không, khi thưởng lãm Phạm Đình Chương chậm rãi nâng ly rượu sóng sánh, nhấp một ngụm, rồi với tay, lấy cây đàn tây ban cầm, dạo nhẹ dăm cung bậc và hào sảng cất tiếng:

“Đôi mắt người Sơn Tây

U uẩn chiều luân lạc

Buồn viễn xứ khôn khuây” (+)

Thì tâm hồn người nghe không thể nào không xao xuyến, huống chi, quê  người nghe lại ở ngay miền đất thơ mộng đó!

Viết tới đây tôi mới mơ hồ thấy cái gạch nối giữa tấm lòng Chiêu Quân và thời khắc giao mùa.

Thì ra, chẳng phải Chiêu Quân khiến tôi bâng khuâng, mà là tác giả bài thơ Chiêu Quân, người gửi gấm tâm sự qua nỗi lòng kẻ sang Hồ. Tác giả bài thơ - người biết rõ quê nội tôi như chính tôi - là người đang khơi dậy hồn quê chan chứa trong tôi. Hồn đất linh thiêng nơi bờ đê, đường làng, cầu ao, bụi cỏ, thẳm sâu đâu đó, dấu chân người, chân tôi, thế nào chẳng có lúc gần kề. Thế nên chiều nay, tiếng nấc Chiêu Quân không chỉ là tiếng gọi hồn Quang Dũng mà còn đưa tôi về quê cũ, nơi ông bà, cha mẹ đã nằm xuống. Quang Dũng gọi, hay chính tôi đang gọi mình:

“Em ơi! Em ơi! Đêm dần vơi,

Vọng về phương ấy ngóng trông người

Trăng có soi qua đầu tóc bạc

Nẻo chừng cố quận, nhớ thương ơi!” (#)

Vâng, nhớ quá và thương quá, quê ơi! Tôi vẫn biết ngày nay, bờ đê đó, đường làng xưa đã đổi khác nhưng hồn quê, hồn đất, ngàn năm thấm xương máu Cha, Ông, đã thành linh địa trong anh, trong tôi thì không gì đổi thay được:

“Khói thuốc xanh dòng, khơi lối xưa

Đêm đêm sông Đáy lạnh đôi bờ

Thoáng hiện em về trong đáy cốc

Nói cười như chuyện một đêm mưa” (=)

Kim đồng hồ vừa nhích khỏi con số 12.

Bính Tuất đã qua.

Đinh Hợi vừa tới.

Tôi thắp ba nén nhang, bước ra sân, vọng về quê hương.

Cắm nhang bên gốc ngọc-lan, tôi ngước nhìn trời đêm, nhớ về Tổ Tiên, Ông Bà, Cha Mẹ, nhớ về bao người đã vun bồi Quê Hương, đã đến rồi đi như giòng sông, chỉ cho mà không chờ nhận.

Trong bóng đêm, tôi lặng lẽ sụp lạy đủ chuỗi hạt 108. Mỗi hạt là một  lạy.

Nền đất lạnh buốt gối quỳ không làm tôi run rẩy lời thành khẩn cầu xin an lạc tới khắp nơi khổ hạnh.

Diệu Trân

(Giao thừa Tết Đinh Hợi)

Thơ Quang Dũng:

(*) Chiêu Quân

(+) Đôi mắt người Sơn Tây

(#) Cố quận

(=) Đôi bờ

Gửi ý kiến của bạn
Vui lòng nhập tiếng Việt có dấu. Cách gõ tiếng Việt có dấu ==> https://youtu.be/ngEjjyOByH4
Tên của bạn
Email của bạn
)
Dòng nhạc thính phòng với hai trường phái Cổ Điển (1730-1820) và Lãng Mạn (1800-1910) của Tây Phương, các thể loại như Sonata, Concerto, Symphony… đã ảnh hưởng nhiều đến giới thưởng ngoạn ở Việt Nam về thể loại Sonata, Concerto...
Thánh Kinh nói thế. “Homosexuality is sin". “Đồng tính là tội lỗi.” Sự thật thì sao??? Lần đầu tiên từ “đồng tính" xuất hiện trong Thánh Kinh là năm 1946, khoảng một ngàn chín trăm mười năm sau khi chúa Jesus bị đóng đinh trên thập tự. Trong gần 80 năm qua, nó làm nền tảng cho không biết bao phân biệt đối xử, gây bao đau thương chết chóc cho những người đồng tính.
Nhà giáo Doãn Quốc Sỹ là vị thầy khả kính với các thế hệ học sinh, sinh viên trước năm 1975. Nhà văn chân chính với các tác phẩm đóng góp cho nền văn chương miền Nam Việt Nam cho đến nay ở hải ngoại...
Ai quen gặp tôi đều biết tôi nói nhiều, quá nhiều. Lại thích uống rượu, nhiều rượu. Rượu vào lời ra. Nói càng nhiều hơn. Rồi giờ đây, bắt đầu điếc tai, không nghe, nghe không rõ, càng nói ghê gớm hơn nữa và lớn tiếng, gần giống như đàn áp công luận. Tôi chắc rằng bạn đọc đã từng gặp nhiều lần, những người nói không chịu chấm dứt. Và chúng ta thường ca tụng, ngưỡng mộ những ai ra đám đông lầm lầm lì lì không nói gì hoặc cạy miệng mới nói. Trước hết, Xin phân tích hiện tượng này: Người ít nói chia làm ba loại: 1- Người sinh ra có tính ít nói. 2- Người hiểu biết sâu rộng, thâm trầm không muốn nói. 3- Người không biết gì sợ không dám nói.Người nói nhiều cũng chia làm ba loại: 1- Người có tính nói nhiều. 2- Người hiểu biết nhiều muốn truyền bá những gì đã biết. 3- Người không biết nhiều nhưng có động cơ nổ. Đối với họ, nói là nhu cầu để chứng minh sự nổi bật .
Vào thứ Bảy qua, Bảo tàng Guggenheim ở Manhattan vẫn nhộn nhịp như thường lệ, với khách du lịch và người dân địa phương quanh co lên xuống đoạn đường xoắn ốc mang tính biểu tượng của tòa nhà. Ở đó, từ đỉnh của đường xoắn ốc, 12 biểu ngữ màu đỏ bung ra, trải dài suốt bốn tầng.
Nhà văn Đào Như vừa hoàn tất việc ấn loát tuyển tập « Tản Văn & Tùy Bút » của ông, bao gồm những bài viết trong hơn hai mươi năm qua, từ đầu thế kỷ thứ 21, cho tới những ngày gần đây của tháng 10 năm 2022...
Cải lương là một bộ môn nghệ thuật thuần túy Việt Nam, mang bản sắc của dân tộc. Nhiều tầng lớp trong xã hội ưa thích, nên cải lương phát triển rất nhanh. Cải lương và vọng cổ gắn bó chặt chẽ với nhau. Ông tổ cải lương là Tống Hữu Định. Ông tổ bản vọng cổ là ông Cao Văn Lầu. Cải lương phát triển rất nhanh, kéo theo một số lượng đông đảo nghệ sĩ, và các soạn giả...
Lễ Halloween đã gần kề, mọi người đã sẵn sàng để ăn mừng sự ma quái, quỷ sứ, cùng nhau đón các hồn ma bóng quế trở về. Bóng ma, thây ma, bộ xương, phù thủy, nhện đen, và tất cả những gì tượng trưng cho sự kinh động đáng sợ được trưng bày khắp nơi, trước sân, cửa sổ, cửa hàng, cửa nhà…. Các lễ hội tập trung xung quanh vương quốc của người chết, và một số người tin rằng người chết có thể thực sự hòa nhập với người sống vào đêm Halloween.
Qua một số sách vở và những bài viết được phổ biến trên các trang mạng VietBao on line, Việt Nam Nhật Báo, Diễn Đàn Thế Kỷ 21... và trên facebook, tôi đã tích lũy trên suốt chiều dài hơn 20 năm qua, được một số lớn bài viết mà tôi có thể cho ra mắt độc giả dưới nhiều dạng khác nhau.
Tủ Sách Tiếng Quê Hương sẽ cho ra mắt hai tác phẩm "Than Hồng Chiến Cuộc" và "Việt Nam: Đại Bi Kịch" vừa được Phan Lê Dũng chuyển ngữ từ hai nguyên bản Embers Of War (tác giả Fredrik Logevall) và Vietnam: An Epic Tragedy (tác giả Max Hastings)... Buổi ra mắt sách sẽ được tổ chức tại: P.B. Hoàn Studio vào ngày thứ Bảy 29 tháng 10 năm 2022, từ 11:00 AM - 1:00 PM.
NHẬN TIN QUA EMAIL
Vui lòng nhập địa chỉ email muốn nhận.