Hôm nay,  

Khoa học Mỹ dưới nhiệm kỳ Trump II: cơn “địa chấn” chính sách

26/12/202500:00:00(Xem: 355)
 
 
Hình VB (18)

Peter Thiel, Giám đốc Văn phòng Khoa học và Công nghệ Nhà Trắng, được Trump giao nhiệm vụ cải tổ “mở đường tới những chân trời khoa học mới”, thật ra là thiết lập cơ sở để nhà nước nhúng tay can thiệp sâu hơn vào khối đại học, xã hội gia tăng ngờ vực đối với giới khoa bảng, và tư bản tư nhân nhanh chân chiếm lĩnh địa hạt vốn do cơ quan công chi phối xưa nay.



Ở Hoa Kỳ, khoa học xưa nay hiếm khi giành hàng tít lớn trên báo, cho dù ngân sách nghiên cứu suốt nhiều thập niên vẫn vững vàng qua mọi triều tổng thống như một thứ “quốc ước bất thành văn” về tri thức thuần túy. Năm 2025, khúc quân hành êm ả đó bỗng khựng lại: chính quyền Donald Trump, trở lại Nhà Trắng với nghị trình cải tổ khoa học và kỹ nghệ theo hướng ý thức hệ, đã kéo chính sách khoa học từ trang trong ra thẳng trang nhất.
 
Trong lịch sử Mỹ, nghi kỵ giữa chính giới và đại học không phải điều mới, nhưng nhiệm kỳ Trump II đã đẩy sự bất tín ấy lên một nấc chưa từng ghi nhận: cắt giảm ngân sách quy mô lớn, gom chặt quyền phân bổ tài trợ về trung tâm, và thu hẹp biên độ tự do khảo cứu. Nhà nghiên cứu chính sách Kenneth M. Evans gọi đây là “một tiền lệ mới cho mối quan hệ nứt gãy giữa Nhà Trắng và cộng đồng khoa học.”
 
Từ “Khoa học vàng” đến kế hoạch Genesis
 
Ở trung tâm vòng xoáy ấy là Michael Kratsios, cựu phụ tá thân cận của tỉ phú Peter Thiel, nay giữ ghế Giám đốc Văn phòng Khoa học và Công nghệ Nhà Trắng – vị trí được nâng tầm như chiếc bản lề trong kiến trúc chính sách khoa học mới. Được ông Trump giao nhiệm vụ “mở đường tới những chân trời khoa học mới”, Kratsios nắm trong tay chiếc cần gạt chính yếu của mô hình khoa học Mỹ đương đại.
 
Trong chưa đầy một năm, ông ta đẩy được bốn mũi cải tổ lớn, về sau thường được giới nghiên cứu nhắc tới như “tứ trụ” của khoa học thời Trump II.
 
Sắc lệnh “Gold Standard Science” tuyên bố khôi phục “liêm chính khoa học”, song đồng thời đưa thêm một tầng giám sát chính trị vào hoạt động nội bộ các cơ quan chuyên môn liên bang.
 
Một sắc lệnh khác gom quyền phân bổ ngân sách nghiên cứu liên bang về Nhà Trắng, buộc mọi dự án phải chứng minh “phù hợp ưu tiên tổng thống” trước khi được duyệt giải ngân.
 
“AI Action Plan” mở rộng không gian vận động của khu vực tư trong lĩnh vực trí tuệ nhân tạo, dùng nới lỏng quy chế như một thứ chất dầu bôi trơn cho doanh nghiệp công nghệ.
 
Sau cùng, “Project Genesis” – được ví với Dự án Manhattan và chương trình Apollo – huy động kho dữ liệu công và hạ tầng siêu máy tính của hệ thống phòng thí nghiệm quốc gia để đẩy AI vào khoa học cơ bản.
 
Bốn trụ cột ấy phác ra một đường gấp trong “khế ước khoa học” Hoa Kỳ: nhà nước can thiệp sâu hơn, xã hội gia tăng ngờ vực đối với đại học, và tư bản tư nhân nhanh chân chiếm lĩnh địa hạt vốn do cơ quan công chi phối.
 
Một khế ước khoa học rạn nứt
 
Từ sau Thế chiến thứ hai, mô hình khoa học Mỹ dựa trên một thỏa ước ngầm: nhà nước đóng vai “mạnh thường quân vô hình”, còn đại học giữ vị trí trung tâm trong chuỗi sáng tạo và cố vấn. Nay, dưới thời Trump II, mô hình ấy bị thử sức quá mức qua những đòn cắt trợ cấp và tái thiết cơ chế tài trợ mà giới sử học chính sách hẳn sẽ còn nhắc lại như một bước ngoặt.
 
Cuộc đối đầu ngân sách giữa hành pháp và Hạ viện khiến chính phủ phải đóng cửa tới 43 ngày, làm tê liệt quy trình phân bổ kinh phí nghiên cứu, buộc các viện đại học xoay xở bằng các khoản tạm cấp và kiện tụng hành chính để kéo dài hoạt động. Các cơ quan như Quỹ Khoa học Quốc gia (NSF) và Viện Y tế Quốc gia (NIH) chuyển sang một cơ chế chi khác thường: ít hợp đồng nhỏ lẻ hơn, nhưng dồn vốn ứng trước cho các chương trình “trọng điểm chiến lược”, đổi hẳn nhịp điền dã truyền thống của khoa học Mỹ.
 
Giới trẻ trong lằn đạn
 
Lớp chịu đạn đầu tiên không phải các viện sĩ đã có tên tuổi, mà chính là sinh viên cao học và giới nghiên cứu trẻ – những người phụ thuộc nhiều nhất vào trợ cấp công và học bổng di trú. Các suất tiến sĩ bị siết lại, chương trình dành cho sinh viên ngoại quốc co rút, trong khi chính sách di trú và các sắc lệnh nhắm vào chương trình “đa dạng, công bằng và hòa nhập” đặt thêm nhiều lớp rào kỹ thuật lẫn tâm lý.
 
Số sinh viên quốc tế nhập học tại Mỹ mùa thu vừa rồi giảm khoảng 17%, báo hiệu một làn sóng “tái định hướng” điểm đến học thuật mà các đại học Mỹ vốn lâu nay ít phải bận tâm. Không chỉ khối đại học nghiên cứu chịu tác động: hệ thống giáo dục công, từ cao đẳng cộng đồng đến các trường công lập, cũng chứng kiến học bổng teo tóp, dự án đổi mới giảng dạy bị hoãn, khiến tương lai đội ngũ nhân lực tri thức Hoa Kỳ không còn hiển nhiên như trước.
 
Căn bệnh “hiệu quả chính phủ”
 
Trong bức tranh ấy, sự ra đời rồi tan rã chóng vánh của một cơ quan mang tên Department of Government Efficiency (DOGE) như một nét biếm họa chính trị, phản chiếu ám ảnh “hiệu quả” theo nghĩa thuần số học. Theo thiết kế ban đầu, DOGE được lập ra để “chống lãng phí”, nhưng thực tế vận hành bằng cách sàng lọc hồ sơ nghiên cứu qua những bộ từ khóa ý thức hệ, nhắm vào cái bị gán nhãn “khoa học thức tỉnh” trước khi xét đến giá trị học thuật.
 
Dù sớm bị giải thể, di sản của DOGE còn lưu lại trong những đợt tinh giản biên chế và tái cấu trúc nội bộ các cơ quan khoa học liên bang: tính đến cuối năm, trên 200 000 công chức liên bang đã rời bộ máy, riêng NASA mất khoảng 5 000 người, NIH giảm chừng 14 000, để lại những khoảng trống chuyên môn khó lấp trong ngắn hạn. Với nhiều nhà sử học khoa học, đó là một “cú sốc cung tri thức” đúng nghĩa.
 
Khoa học, chính trị và niềm tin
 
Từ bản điều trần lịch sử Science, The Endless Frontier do Vannevar Bush trình lên tổng thống Truman năm 1945, giới khoa học Mỹ hằng mong khoa học được đặt trong vai cố vấn dài hạn, chứ không chỉ là công cụ thời vụ cho chính sách. Tám mươi năm sau, bài toán vẫn không đổi: khoa học chỉ được lắng nghe khi trùng khớp với ưu tiên chính trị, và sẽ bị gạt sang bên khi trở nên bất tiện cho quyền lực đương thời.
 
Theo Kenneth M. Evans, câu hỏi trọng tâm trong ba năm tới không chỉ là ngân khoản liên bang có sống sót ra sao qua các vòng thương lượng ngân sách, mà là liệu đại học Mỹ có đủ sức khôi phục niềm tin của xã hội – đặc biệt là tầng lớp cử tri đã quay lưng với “giới khoa bảng” – và từ đó buộc cả Tòa Bạch Ốc phải điều chỉnh quan hệ với khoa học. Nếu không, “khế ước khoa học” từng nâng Hoa Kỳ thành cường quốc tri thức sau 1945 rất có thể sẽ bước vào một chu kỳ suy trệ mới.
 
Nguyên Hòa biên dịch
Tham khảo: Theo Kenneth M. Evans, Fellow Viện Baker về Chính sách Khoa học và Kỹ nghệ, Đại học Rice, đăng trên The Conversation, ngày 17 tháng 12, 2025.
 

Gửi ý kiến của bạn
Vui lòng nhập tiếng Việt có dấu. Cách gõ tiếng Việt có dấu ==> https://youtu.be/ngEjjyOByH4
Tên của bạn
Email của bạn
)
Các cuộc thăm dò cho thấy mức độ ủng hộ Trump của cử tri đang ở mức thấp kỷ lục đối với một nhà lãnh đạo sau ba tháng đầu của nhiệm kỳ. Đa số phản đối chính sách thuế quan và cắt giảm lực lượng nhân sự liên bang của ông.
Hành động công kích đầy bất ngờ của Tổng thống Trump nhắm vào nền giáo dục đại học đã vô tình đánh thức tinh thần phản kháng của Harvard cùng hơn 100 trường đại học trên khắp 40 tiểu bang. Sự kiện này cũng để lại một bài học đáng suy ngẫm: nhượng bộ và đầu hàng trước những áp lực ngang ngược, vô lý không phải là cách tồn tại bền vững cho bất kỳ tổ chức nào. Sự việc khởi đầu với lá thư ngày 11 tháng 4 từ chính quyền Trump, trong đó đưa ra hàng loạt yêu cầu đối với Đại học Harvard. Ngay lập tức trường Harvard từ chối, vậy là chính phủ thẳng tay đóng băng khoản ngân sách tài trợ trị giá 2.3 tỷ MK. Ngoài ra, Trump còn dọa tước bỏ quy chế miễn thuế của trường. Hành động này bị nhiều người xem là sự lạm quyền nhằm chi phối một cơ sở giáo dục tư thục, và đã vô tình khơi dậy làn sóng ủng hộ quyền tự chủ của các đại học trên khắp Hoa Kỳ.
"Tự do tư tưởng và tìm kiếm sự thật, cùng với sự cam kết lâu đời của chính phủ trong việc tôn trọng và bảo vệ quyền này, đã giúp các trường đại học đóng góp một cách thiết yếu cho xã hội tự do và cuộc sống lành mạnh, thịnh vượng hơn cho mọi người ở khắp các mọi nơi. Tất cả chúng ta đều có chung lợi ích trong việc bảo vệ sự tự do đó. Như lệ thường, chúng ta tiến bước lúc này với niềm tin rằng việc theo đuổi chân lý can đảm và không bị ràng buộc sẽ giải phóng nhân loại, và với niềm tin vào lời cam kết bền bỉ mà các trường cao đẳng và đại học của Hoa Kỳ đã gìn giữ cho quốc gia và thế giới của chúng ta."
Phải làm gì với một Tổng thống Hoa Kỳ không tôn trọng luật pháp của chính quốc gia mình? Vấn đề này nổi lên sau vụ việc chính quyền Trump phớt lờ phán quyết của tòa án liên bang, vẫn để các chuyến bay trục xuất người Venezuela khởi hành đến El Salvador dù tòa đã ra lệnh đình chỉ toàn bộ các chuyến bay đó. Hành động này cho thấy sự thách thức công khai đối với quyền lực tư pháp, và phản ánh sự thiếu hiểu biết (hoặc cố tình phớt lờ) nguyên tắc tam quyền phân lập, vốn là nền tảng của thể chế Hoa Kỳ. Theo Hiến pháp, một tổng thống không có quyền bác bỏ hay phớt lờ phán quyết của tòa án.
Lệnh hành pháp khi được công bố luôn tạo nhiều dư luận trái chiều. Lệnh càng ảnh hưởng nhiều người thì tranh cãi càng kéo dài. Gần đây trong một buổi họp mặt, một người bạn của tôi thốt tiếng than: “Chẳng hiểu thành viên Quốc hội Mỹ của cả hai đảng bây giờ làm gì mà cứ im lìm để tổng thống muốn ra lệnh gì thì ra”. Người khác thắc mắc, nếu tổng thống dùng lệnh hành pháp để đưa ra những quyết định không đúng luật, hay trái với hiến pháp, thì cơ quan nào sẽ có trách nhiệm can thiệp? Bài viết này không phân tích một lệnh hành pháp cụ thể nào, mà chỉ nhằm giải thích cách vận hành của Executive Order, quy trình thách thức nếu cần, cũng như những giới hạn của một mệnh lệnh do tổng thống ban hành.
Medicaid đang trở thành một trong những mục tiêu đầu tiên của chính quyền Trump trong chiến dịch cắt giảm ngân sách liên bang. Là chương trình bảo hiểm y tế do liên bang và tiểu bang phối hợp thực hiện, Medicaid cung cấp dịch vụ chăm sóc sức khỏe cho hơn 72 triệu người dân Hoa Kỳ, bao gồm những người có thu nhập thấp, trẻ em và người tàn tật. Ngoài ra, Medicaid cũng góp phần hỗ trợ chi phí chăm sóc lâu dài cho người cao niên.
Gần đây, nhiều hình ảnh và video lan truyền trên mạng xã hội đã khiến dư luận quốc tế kinh hoàng: hàng loạt sà lan quân sự khổng lồ của TQ – loại phương tiện chuyên dụng cho các chiến dịch đổ bộ từ đất liền ra biển – lần đầu tiên lộ diện. Ngay sau đó, vào ngày 1 tháng 4 năm 2025, Bắc Kinh tiến hành cuộc tập trận quân sự kéo dài hai ngày ở eo biển Đài Loan. Điều này càng làm dấy lên lo ngại: Liệu TQ có đang chuẩn bị một cuộc xâm lược kiểu D-Day vào Đài Loan?
Khi nhìn lại nửa thế kỷ Phật giáo Việt Nam hiện diện trên miền đất hứa, Hoa Kỳ, ta thấy con đường chánh niệm tỉnh thức không khởi nguồn từ một dự tính định sẵn, mà từ sự kết tinh của hoàn cảnh, của tâm nguyện và của những bước chân tìm về cõi an trú giữa bao biến động. Bởi nó như một dòng suối len lỏi qua những biến động của thời cuộc, chảy về một phương trời xa lạ, rồi hòa vào biển lớn. Từ những hạt giống gieo xuống trong lặng lẽ, rồi một ngày trổ hoa giữa lòng những đô thị phương Tây, nơi mà có lúc tưởng chừng như chỉ dành cho lý trí và khoa học, cho tốc độ và tiêu thụ, cho những bộ óc không còn kiên nhẫn với những điều mơ hồ. Nhưng rồi, giữa cái đa đoan của thế giới ấy, những lời dạy về chánh niệm, về thở và cười, về sự trở về với chính mình đã nảy mầm và lan rộng như một cơn mưa đầu hạ, làm dịu đi những khô cằn của tâm hồn.
Kể từ ngày biến cố lịch sử 30/4/75, 50 năm trôi qua, đã có không biết bao nhiêu sách vở nói về cái ngày bi thương đó của dân tộc Việt Nam, nhưng có lẽ không gì trung thực và sống động cho bằng chính những bản tường trình trên báo chí vào đúng thời điểm đó từ những phóng viên chiến trường tận mắt chứng kiến thảm cảnh chưa từng có bao giờ của hàng trăm ngàn người, dân cũng như quân, liều mình xông vào cõi chết để tìm cái sống. Năm 2025, đánh dấu 50 năm biến động lịch sử đó, Việt Báo hân hạnh được đăng tải loạt bài viết của ký giả Đinh Từ Thức ghi lại chi tiết từng ngày, đôi khi từng giờ, những điều xảy ra trong mấy tuần lễ trước và sau ngày 30/4/75 để chúng ta có cơ hội cùng sống lại những giờ khắc bi thảm và kinh hoàng ấy đã xảy ra như thế nào.
Năm Carlton Terry 12 tuổi, hệ thống trường học tại Quận Prince Edward, bang Virginia, bất ngờ đóng cửa đối với tất cả trẻ em người da đen. Nhớ lại năm đầu tiên ấy, ông kể: “Tất cả những gì tôi biết là tôi không được đến trường, và tôi biết lý do tại sao. Tôi nhận ra rằng hệ thống pháp luật được tạo ra không phải để bảo vệ tôi. Tôi nhớ những ngày ngồi nhà, sững sờ trước màn hình TV, xem chương trình Amos ’n’ Andy. Mỗi ngày, tôi đọc báo để xem liệu có gì thay đổi hay không.”


Kính chào quý vị,

Tôi là Derek Trần, dân biểu đại diện Địa Hạt 45, và thật là một vinh dự lớn lao khi được đứng nơi đây hôm nay, giữa những tiếng nói, những câu chuyện, và những tâm hồn đã góp phần tạo nên diện mạo văn học của cộng đồng người Mỹ gốc Việt trong suốt một phần tư thế kỷ qua.
Hai mươi lăm năm! Một cột mốc bạc! Một cột mốc không chỉ đánh dấu thời gian trôi qua, mà còn ghi nhận sức bền bỉ của một giấc mơ. Hôm nay, chúng ta kỷ niệm 25 năm Giải Viết Về Nước Mỹ của nhật báo Việt Báo.

Khi những người sáng lập giải thưởng này lần đầu tiên ngồi lại bàn thảo, họ đã hiểu một điều rất căn bản rằng: Kinh nghiệm tỵ nạn, hành trình nhập cư, những phức tạp, gian nan, và sự thành công mỹ mãn trong hành trình trở thành người Mỹ gốc Việt – tất cả cần được ghi lại. Một hành trình ý nghĩa không những cần nhân chứng, mà cần cả những người viết để ghi nhận và bảo tồn. Họ không chỉ tạo ra một cuộc thi; họ đã và đang xây dựng một kho lưu trữ. Họ thắp lên một ngọn hải đăng cho thế hệ sau để chuyển hóa tổn thương thành chứng tích, sự im lặng thành lời ca, và cuộc sống lưu vong thành sự hội nhập.

Trong những ngày đầu ấy, văn học Hoa Kỳ thường chưa phản ánh đầy đủ sự phong phú và đa dạng về kinh nghiệm của chúng ta. Giải thưởng Viết Về Nước Mỹ thực sự đã lấp đầy khoảng trống đó bằng sự ghi nhận và khích lệ vô số tác giả, những người đã cầm bút và cùng viết nên một thông điệp mạnh mẽ: “Chúng ta đang hiện diện nơi đây. Trải nghiệm của chúng ta là quan trọng. Và nước Mỹ của chúng ta là thế đó.”


Suốt 25 năm qua, giải thưởng này không chỉ vinh danh tài năng mà dựng nên một cộng đồng và tạo thành một truyền thống.
Những cây bút được tôn vinh hôm nay không chỉ mô tả nước Mỹ; họ định nghĩa nó. Họ mở rộng giới hạn của nước Mỹ, làm phong phú văn hóa của nước Mỹ, và khắc sâu tâm hồn của nước Mỹ. Qua đôi mắt họ, chúng ta nhìn thấy một nước Mỹ tinh tế hơn, nhân ái hơn, và sau cùng, chân thật hơn.

Xin được nhắn gửi đến các tác giả góp mặt từ bao thế hệ để chia sẻ tấm chân tình trên các bài viết, chúng tôi trân trọng cảm ơn sự can đảm của quý vị. Can đảm không chỉ là vượt qua biến cố của lịch sử; can đảm còn là việc ngồi trước trang giấy trắng, đối diện với chính mình, lục lọi ký ức đau thương sâu đậm, và gửi tặng trải nghiệm đó đến tha nhân. Quý vị là những người gìn giữ ký ức tập thể và là những người dẫn đường cho tương lai văn hóa Việt tại Hoa Kỳ.

Với Việt Báo: Xin trân trọng cảm ơn tầm nhìn, tâm huyết, và sự duy trì bền bỉ giải thưởng này suốt một phần tư thế kỷ.
Khi hướng đến 25 năm tới, chúng ta hãy tiếp tục khích lệ thế hệ kế tiếp—những blogger, thi sĩ, tiểu thuyết gia, nhà phê bình, nhà văn trẻ—để họ tìm thấy tiếng nói của chính mình và kể lại sự thật của họ, dù đó là thử thách hay niềm vui. Bởi văn chương không phải là một thứ xa xỉ; đó là sự cần thiết. Đó là cách chúng ta chữa lành, cách chúng ta ghi nhớ, và là cách chúng ta tìm thấy nơi chốn của mình một cách trọn vẹn.

Xin cảm ơn quý vị.

NHẬN TIN QUA EMAIL
Vui lòng nhập địa chỉ email muốn nhận.