Hôm nay,  

Tại sao VNCH sụp đổ quá mau lẹ?

5/2/202500:00:00(View: 2400)
 
Hình-chính-cho-bài                                         
 
LTS. Tiến sĩ Nguyễn Tiến Hưng, nguyên Tổng Trưởng Kế Hoạch VNCH, là người được Tổng Thống Nguyễn Văn Thiệu ủy thác nhiều công việc trong những ngày tháng cuối,  trước khi Sàigòn sụp đổ. Tại Hoa Kỳ, sau 1975, ông là tác giả nhiều cuốn sách được phổ biến rộng rãi như "Hồ Sơ Mật Dinh Độc Lập", "Khi Đồng Minh Tháo Chạy", "Khi Đồng Minh Nhảy Vào", và cuốn ”Bức Tử VNCH - KISSINGER và 8 Thủ Đoạn Nham Hiểm”. 

***

Năm Tổng Thống Hoa Kỳ liên tiếp, thuộc cả hai chính đảng Dân Chủ và Cộng Hòa, đã nhất quyết giúp nhân dân Miền Nam bảo vệ “tiền đồn của Thế Giới Tự Do.” Hành động mạnh mẽ nhất là ‘tự động’ mang nửa triệu quân vào để chiến đấu - mặc dù Chính phủ VNCH không yêu cầu. Rồi xây cất đường xá, xa lộ Biên Hòa, hải cảng Đà Nẵng, Cam Ranh, Chu Lai, Sàigòn, và mấy chục phi trường lớn nhỏ, với những kho xưởng như Long Bình, Quy Nhơn, Phú Bài, tốn phí bao nhiêu nhân mạng, bao nhiêu tiền của để xây dựng một “tiền đồn của thế giới tự do”, ngăn chận Trung Cộng ở phía Nam.

Nhưng rồi VNCH sụp đổ trong tủi nhục! 

Tại sao sụp đổ quá mau lẹ ?

Sau ba thập niên nghiên cứu, chúng tôi đã lần ra đầy đủ những bằng chứng về một chiến lược tinh vi mang tên “Decent Interval” của Henry Kissinger – Cố vấn An ninh Quốc gia và Ngoại trưởng Hoa Kỳ, một người tôi coi là “Quan Toàn Quyền Đông Dương” về ngoại giao Hoa Kỳ dưới thời hai Tổng thống Richard Nixon và Gerald Ford”

Decent Interval – tạm dịch là “khoảng thời gian coi cho Được.” Mục tiêu của chiến lược này là làm sao ký kết được một hiệp định với Bắc Việt để Mỹ rút quân trong danh dự, đưa 519 tù binh về nước, và giữ thể diện cho nước Mỹ – mặc dù phải để lại một VNCH bị bao vây, cô lập, và cuối cùng là sụp đổ sau 1–2 năm.

Ông không chỉ thao túng chính sách đối ngoại của Mỹ, mà còn âm thầm thỏa thuận với Liên Xô – thông qua Đại sứ Anatoly Dobrynin – để phản bội nước Mỹ về Hiệp ước SALT (Tài giảm binh bị).

Tại sao Kissinger quyết định bỏ rơi VNCH?

Câu trả lời nằm trong một đoạn văn thẳng thắn đến lạnh người trong hồi ký White House Years. Sở dĩ Kissinger muốn bỏ rơi Miền Nam (và Kampuchia, Lào) vì ông cho rằng Đông Dương đã cản trở chính sách ngoại giao của Hoa Kỳ, theo đó Trung Quốc mới là quan trọng, còn Đông Dương thì chỉ là một khu vực nhỏ bé, cho nên cần phải đẩy nó về cái khuôn khổ nhỏ bé của nó.

Ở trang 1049 trong hồi ký, Kissinger viết về việc mở cửa Bắc Kinh:

“Chúng ta cần Trung Quốc để tăng cường tính linh hoạt trong chính sách ngoại giao của Hoa Kỳ... Sáng kiến về (mở cửa) Trung Quốc còn khôi phục được quan điểm của chúng ta về chính sách của quốc gia.

“Sáng kiến này thu nhỏ Đông Dương lại, để nó quay về đúng cái quy mô của nóquy mô của một bán đảo nhỏ bé trên một lục địa to lớn.”

Từ cái nhìn ấy, Đông Dương không còn là một tuyến đầu chống cộng, mà là một chướng ngại cần dẹp bỏ để đạt được những thắng lợi chiến lược lớn hơn. Vận mệnh của cả một quốc gia, hàng triệu con người, đã bị ông ta xếp vào vai trò "vật tế thần" cho chính sách toàn cầu mới theo quan niện của mình.

Cuộc mặc cả tại Tòa Bạch Ốc - Nixon và Kissinger “định đoạt” số phận Miền Nam

Mùa hè năm 1972, khi nước Mỹ đang chuẩn bị bước vào chiến dịch tranh cử tổng thống, Đảng Cộng Hòa dự kiến tổ chức đại hội tại Miami, Florida để đề cử ông Nixon tái tranh cử, một cuộc họp kín giữa Nixon và Kissinger tại Tòa Bạch Ốc vào ngày 3/8/1972 đã mang ý nghĩa quyết định.

Nội dung cuộc họp – còn được ghi lại trong băng ghi âm chính thức – cho thấy toàn bộ tinh thần của chiến lược "Decent Interval". Nixon lo ngại rằng nếu để mất Miền Nam Việt Nam sau khi ký Hiệp định, thì uy tín của Hoa Kỳ sẽ bị sụp đổ nghiêm trọng. Nhưng Kissinger đã trấn an ông bằng một luận điệu đầy tính toán: cứ đổ cho quân đội VNCH bất tài:

“Nếu một hay hai năm kể từ bây giờ mà Bắc Việt nuốt trọn miền Nam, thì chúng ta vẫn có thể duy trì một chính sách ngoại giao khả tín, miễn sao nó được coi như là hậu quả của sự bất tài của miền Nam.”

Rồi ông kết luận một cách tàn nhẫn, thậm chí cay độc:

“Vậy chúng ta cần tìm ra một công thức để giữ cho tình hình yên ổn trong một hay hai năm. Sau đó – thưa Tổng thống – Việt Nam sẽ trở thành một vũng lầy nhỏ. Nếu chúng ta kết thúc chuyện này vào tháng 10, thì đến tháng 1 năm 1974, chẳng còn ai cần đ… gì nữa (‘no one will give a damn’).
Lời nói ấy – “no one will give a damn” – không chỉ là sự lạnh lùng vô cảm, mà còn là lời phán xét lịch sử. Nó cho thấy, đối với Kissinger, toàn bộ cuộc chiến tranh, máu xương, và hy sinh của hàng triệu người Việt Nam chỉ là một dấu chấm nhỏ không đáng kể trong cuốn sách chính trị toàn cầu mà ông đang viết.

Ngày nào Kissinger đã thuyết phục được Nixon

Theo nhà nghiên cứu Jeffrey Kimball, Kissinger đã thực sự thuyết phục được Tổng thống Nixon vào ngày 28/9/1972 rằng những gì ông đang thương lượng với Hà Nội không phải là một hành động “bán đứng đồng minh” mà là một bước đi cần thiết để chấm dứt chiến tranh và bảo vệ lợi ích lớn hơn của Hoa Kỳ.

Trớ trêu thay, ngày 28/9 ấy lại gần kề thời điểm quân lực VNCH tái chiếm Cổ Thành Quảng Trị – một chiến thắng mang tính biểu tượng cao độ. Khắp miền Nam lúc đó vang lên bài hát:

“Cờ bay, cờ bay, oai hùng trên thành phố thân yêu…”

Khi VNCH lấy lại thế chủ động trong chiến sự, thì ở Washington, định mệnh của miền Nam lại đang bị định đoạt trong một căn phòng đóng kín – bởi những người từng hứa hẹn sẽ sát cánh đến cùng.

Một bức thư… và sự im lặng

Ngay sau khi được Kissinger thuyết phục TT Nixon đã viết thư cho TT Thiệu ngày 16/10/1972. Cuối thư, ông còn viết tay để khẳng định về Hiệp định Paris:

“Tôi tin chắc rằng đây là giải pháp tốt nhất có thể đạt được, và phù hợp với điều kiện tuyệt đối của tôi là Việt Nam Cộng Hòa phải được tồn tại như một quốc gia tự do.”
Nixon thậm chí còn gạch dưới chữ “absolute” (tuyệt đối) trong thư, như muốn trấn an đồng minh rằng ông không lùi bước.

Như lịch sử đã diễn ra, Hiệp định Paris được ký ngày 27/1/1973 không phải là nền tảng để cho Việt Nam Cộng Hòa được tồn tại như một quốc gia tự do.
Quốc hội Mỹ bị đánh lừa

Do tin rằng chiến tranh đã kết thúc và hòa bình được vẵn hồi, Quốc hội Hoa Kỳ bắt đầu cắt giảm mạnh viện trợ quân sự cho VNCH. Trong khi đó, khối Xã Hội Chủ Nghĩa – đặc biệt là Liên Xô – lại tăng viện gấp bốn lần cho Việt Nam Dân Chủ Cộng Hoà (VNDCCH). Chênh lệch này khiến VNCH nhanh chóng rơi vào tình trạng kiệt quệ cả về vũ khí, tiếp liệu, lẫn phương tiện truyền thông và y tế (kể cả băng cứu thương).

Trong tay TT Thiệu, chỉ còn một vũ khí duy nhất: đó là những lá thư với chữ ký của TT Nixon cam kết rằng Mỹ sẽ tiếp tục viện trợ và “bảo vệ hòa bình bằng tất cả sức mạnh của Hoa Kỳ nếu Bắc Việt vi phạm Hiệp định.”

Tuy nhiên, khi TT Nixon phải từ chức vì vụ Watergate, những lá thư này không bao giờ được chuyển đến người kế nhiệm là Tổng thống Gerald Ford. Henry Kissinger – người giữ vai trò trung gian – đã cố tình che dấu ông Ford, và che dấu luôn cả Quốc Hội Mỹ về diễn tiến của “hòa bình” và giấu nhẹm hồ sơ Nixon – Thiệu.

Bằng cách đó, ông đã tước nốt lá chắn cuối cùng còn lại trong tay VNCH.

Tháng 4, 1975: hai cuộc họp lịch sử

Những ngày cuối cùng trước khi Sàigòn thất thủ đã được ghi lại bằng hai cuộc họp tối mật ở cấp cao nhất, cách nhau đúng sáu ngày – một tại Dinh Độc Lập, một tại chiến khu của Quân Ủy Miền Nam. Hai cuộc họp này với nội dung tương phản hoàn toàn, đã phản ảnh sự bất cân xứng về tiềm lực quân sự và hậu cần vào thời điểm định mệnh.

Ngày 1/4/1975 – Cuộc họp tại Dinh Độc Lập

Chỉ hai ngày sau khi mất Đà Nẵng (29/3/1975), Tổng thống Nguyễn Văn Thiệu triệu tập một cuộc họp khẩn cấp với các tướng lĩnh cao cấp nhất, gồm Đại tướng Cao Văn Viên (Tổng Tham Mưu trưởng), Trung tướng Đặng Văn Quang (Cố vấn Quân sự), Trung tướng Đồng Văn Khuyên (Chỉ huy Tiếp vận). Mục tiêu buổi họp là để bàn cách tái tổ chức lực lượng: chọn mốt số đơn vị Địa Phương Quân để lập thành hai Sư đoàn Bộ binh nhằm cầm cự được lâu hơn, giúp có được một cái thế để điều đình.

Tuy là một cuộc họp về quân sự, chúng tôi cũng được mời tham dự với tư cách Tổng Trưởng Kế Hoạch, và là người điều phối viện trợ về mặt vĩ mô.


Sau phần trình bày về tình hình chiến sự, Tổng thống Thiệu quay sang hỏi trực tiếp Đại tướng Viên:

“Hiện giờ này, đạn dược thực sự còn bao nhiêu?”

Câu trả lời khiến cả phòng họp chìm trong im lặng:

“Thưa Tổng thống, đạn trong cả bốn kho dự trữ chỉ còn đủ cho 14 đến 20 ngày.”

Tôi nhìn thấy nỗi buồn man mác, sự chua cay, xót xa trong ánh mắt người lãnh đạo Miền Nam. Không còn gì rõ ràng hơn để báo hiệu một thực tế phũ phàng: cuộc chiến đã gần đến hồi kết và quân đội Miền Nam hoàn toàn cạn kiệt phương tiện để chiến đấu.

Ngày 7/4/1975 – Cuộc họp tại chiến khu Quân ủy Miền Nam

Chỉ sáu ngày sau, phía Bắc Việt cũng có một cuộc họp ở chiến khu Quân ủy Miền Nam để thẩm định tình hình đạn dược trước giai đoạn cuối của chiến dịch tổng tấn công. Đại tướng Văn Tiến Dũng, Tư lệnh chiến trường ghi lại trong hồi ký ký Đại Thắng Mùa Xuân (trang 184-185):

“Khi bàn đến vấn đề bảo đảm hậu cần, đồng chí Phạm Hùng (Chính Ủy Chiến Dịch) hỏi tình hình đạn dược của ta chuẩn bị đến đâu rồi, đồng chí Đinh Đức Thiện (Chủ nhiệm TC Hậu Cần) đưa ra bản thống kê số đạn đã nhận được, và số đạn đang chở từ ‘các nơi’ đến và nói:

        “Xin báo cáo với các anh là đạn của ta
             đủ bắn để nó sợ tới ba đời.”

Cùng trong buổi họp, ông Lê Đức Thọ – người từng đại diện Bắc Việt để ký Hiệp định Paris – tỏ rõ sự phấn khởi. Ông nói:

 “Chúng có 5 sư đoàn, ta có 15 sư đoàn, chưa kể các lực lượng dự bị chiến lược khác. Như vậy chỉ cho phép chúng ta đánh thắng. Đó là ý kiến của Trung Ương (trang 186). Rồi ông khích lệ các quân đoàn: “Tình hình đối với ta rất thuận lợi, khả năng rất dồi dào, ta phải nắm lấy thời cơ, làm cho nhanh, làm cho chắc.

Báo cáo về đạn dược và số quân của hai bên trong ngày tàn của cuộc chiến đã cho thấy rõ tại sao Miền Nam đã sụp đổ nhanh chóng.
                                               
***

Thượng Đế đứng về phe có tiểu đoàn lớn nhất, mạnh nhất"

Thiếu tướng John E. Murray – Tùy viên quân sự Hoa Kỳ tại Sàigòn (1973–1974) là chứng nhân tại chỗ đã so sánh tương quan lực lượng hai bên trước khi sụp đổ trong một báo cáo mật

“Trong thời cao điểm của lực lượng Hoa Kỳ ở Việt Nam, chúng ta từng có 433 tiểu đoàn tác chiến Mỹ và Đồng minh chiến đấu ở Việt Nam. Địch có 180 tiểu đoàn. Đến năm 1974, khi chúng ta rút lui, VNCH có 189 tiểu đoàn, địch tăng lên 330 tiểu đoàn.

“Lấy đi B-52, F-4, lấy đi hải pháo, lấy đi tất cả…Và ta bắt đầu yểm trợ miền Nam với 2% tổng số tiền đã dùng cho quân đội Mỹ, để đương đầu với một số địch quân nhiều hơn.”

Rồi ông kết luận bằng một trích dẫn đáng suy ngẫm:

“Napoleon đã từng nói: Thượng Đế đứng về phe nào có các tiểu đoàn lớn nhất, mạnh nhất.”

Đúng như vậy. Thượng Đế đã đứng về phe cộng sản vào năm 1974; quân họ đông hơn, mạnh hơn. Và đó là lý do chúng ta đã thua chiến tranh Việt Nam.”

Trên thực tế - và chúng tôi là nhân chứng - cuối cùng thì cũng chẳng có số tiền tương đương 2% , mà hầu như là con số không.    
                                            
***

Khi sự thật được phơi bày: Quốc Hội tỉnh ngộ, tuy muộn màng

Ngày 30/4, khi Sàigòn thất thủ thì ở bên kia bán cầu – ngay tại thủ đô Washington – một “mặt trận sự thật” khác được mở ra.

Chúng tôi, những người từng chứng kiến toàn bộ quá trình ngoại giao từ bên trong, đã quyết định công bố những bằng chứng về chiến lược "Decent Interval" và các cam kết mật giữa Nixon và Thiệu – những tài liệu bị Kissinger cố tình che giấu đi. … tất cả được đưa ra công luận đúng vào lúc thế giới còn đang sửng sốt trước cảnh tháo chạy ở Sàigòn.

Sự thật ấy như một gáo nước lạnh dội vào Quốc hội Hoa Kỳ.

Những vị dân cử trước đây từng biểu quyết cắt viện trợ, giờ đây mới nhận ra rằng họ đã bị đánh lừa. Không có hòa bình, cũng chẳng có danh dự. Chỉ có sự phản bội, sự thao túng, và những quyết định được đưa ra trong bóng tối.

Quốc Hội thay đổi lập trường và chấp nhận tỵ nạn

Ban đầu, Quốc hội gần như dửng dưng trước làn sóng người tị nạn Việt Nam tràn sang các trại tạm cư ở Guam, Wake, Camp Pendleton… Nhưng sau khi các tài liệu được chúng tôi công bố, và sau cuộc điều trần gay gắt, thái độ của họ đã thay đổi hoàn toàn.

Từ chỗ phản đối di tản, Quốc Hội bắt đầu thông cảm và chuyển sang tiếp nhận đoàn người tị nạn – với “Nghị Quyết số S. 148” để chào đón đoàn người tị nạn mới nhất vừa tới bờ biển của chúng ta

Với sự thông cảm ấy, lớp người tỵ nạn đầu tiên đã hoạt động để từng bước dẫn đến các chương trình ODP (Orderly Departure Program), HO (Humanitarian Operation), các khoản trợ giúp định cư, y tế, giáo dục…

Quốc hội cũng bắt đầu điều tra lại hồ sơ Nixon–Thiệu. Nhưng chính quyền Ford, dù bị áp lực, vẫn từ chối cung cấp tài liệu – có thể vì họ cũng bị “đặt ở ngoài cuộc”, hoặc đơn giản là… những tài liệu ấy đã bị tiêu hủy để xóa đi mọi dấu vết.    
                                          
***

Từ Nguyễn Văn Thiệu 1975 tới Volodymyr Zelensky 2025

Gần nửa thế kỷ đã trôi qua kể từ ngày 30/4/1975 – ngày định mệnh kết thúc một quốc gia. Nhưng âm hưởng của sự kiện ấy vẫn vang vọng trong thời sự quốc tế, nhất là khi người ta chứng kiến một quốc gia khác – Ukraine – đang vật lộn để tồn tại.

Tuy cuộc chiến Việt Nam và chiến tranh Ukraine là khác hẳn nhau về bản chất lẫn hoàn cảnh lịch sử, nhưng về vấn đề viện trợ của Hoa Kỳ thì có điểm tương đồng.

Một trong những câu nói gây chấn động trong cuộc chiến Ukraine đến từ Tổng thống Volodymyr Zelensky. Trong cuộc phỏng vấn với nhà báo Amna Nawaz trên PBS ngày 14/4/2024, ông thẳng thắn nhấn mạnh:

“Tôi có thể nói rõ ràng với bà: nếu không có sự hỗ trợ của Hoa Kỳ, chúng tôi sẽ không thể chiến thắng.” Có nghĩa là sẽ chiến bại.

Mới đây, ngày 14/2/2025, ông nói trên đài NBC:

“Sẽ rất, rất, rất khó khăn để Ukraine có thể tồn tại nếu không có sự hỗ trợ quân sự của Hoa Kỳ, cả hiện tại khi nước này cố gắng chiến đấu và trong tương lai sau khi chiến tranh kết thúc.”

Những lời này vang lên trong tai tôi như một tiếng vọng từ quá khứ.

Tháng 1/1973, ngay sau khi Kissinger trở về từ Paris với bản thỏa hiệp đình chiến trong tay, TT Nguyễn Văn Thiệu đã dành một cuộc phỏng vấn cho ký giả nổi tiếng người Ý, bà Oriana Fallaci (còn ghi lại trong cuốn sách Interview with History).

Khi được hỏi điều gì sẽ xảy ra nếu Hoa Kỳ không còn viện trợ nữa, ông Thiệu trả lời không hề do dự:

“Nếu Mỹ bỏ rơi chúng tôi, đó sẽ là sự kết thúc. Kết thúc hoàn toàn, tuyệt đối.”

Liệu ông có thể tìm được những nguồn lực nào khác?

“Làm sao chúng tôi có thể tìm được một quyền lực nào khác giống như Mỹ đã giúp chúng tôi? Có thể chúng tôi cũng tìm được một quốc gia khác sẵn sàng giúp, nhưng không quốc gia nào có nhiều phương tiện như Mỹ.”

Những lời nói ấy, hơn 50 năm sau, giờ đây lại được lặp lại gần như nguyên văn – không phải bởi một nhà lãnh đạo Á Đông, mà bởi một tổng thống châu Âu trong thế kỷ 21.

Chỉ cần thay cái tên “Nguyễn Văn Thiệu” bằng “Volodymyr Zelensky”, thì toàn bộ tâm trạng, nỗi lo sợ, và sự phụ thuộc vào Hoa Kỳ được lặp lại một cách kỳ lạ.

Nếu như ‘kế hoạch hòa bình’ do Mỹ đưa ra tiếp tục bị bế tắc và Mỹ “bỏ đi” – vì còn những ưu tiên khác như Gaza, Iran, Trung Quốc (Biển Đông, Đài Loan), cuộc thương chiến, v.v. thì tương lai của Ukraine sẽ như thế nào?

Lặp lại lời ông Zelensky rằng ‘sẽ rất, rất, rất khó khăn (it would be very, very, very difficult) để Ukraine có thể tồn tại nếu không có sự hỗ trợ quân sự từ Mỹ - cả bây giờ, khi chúng tôi chiến đấu, lẫn sau này khi chiến tranh kết thúc’, câu hỏi đặt ra là liệu một ngày “30 tháng 4” khác có đến với Ukraine?
                                         
TS Nguyễn Tiến Hưng

Reader's Comment
5/4/202521:08:03
Guest
Bai viet cua Ong Tien Sy Nguyen Tien Hung da cho chung ta thay duoc su tan nhan vo nhan dao cua Henry Kissinger. Su dinh doat cua Mien Nam deu nam trong tay cua ong ta. Than voi Trung Quoc va ban Mien Nam cho quan Cong San Bac Viet. Toi doc bai bao nay ma long toi trung han xuong! That la thuong Co Tong Thong Nguyen Van Thieu trong nhung thang can ke khi biet rang Hoa Ky se bo roi. Lich su se phan xen trong mot ngay rat gan.
Send comment
Vui lòng nhập tiếng Việt có dấu.Cách gõ tiếng Việt có dấu ==> https://youtu.be/ngEjjyOByH4
Your Name
Your email address
)
Hai trăm mười một năm trước, mùa hè năm 1814, quân Anh kéo vào Washington. Trước khi phóng hỏa Bạch Ốc, họ ngồi xuống dùng bữa tại bàn tiệc đã dọn sẵn cho Tổng thống James Madison. Khi bữa ăn kết thúc, lính Anh đốt màn, đốt giường, và tòa nhà bốc cháy suốt đêm. Sáng hôm sau, cơn mưa lớn chỉ còn rửa trôi phần tro tàn của nơi từng là biểu tượng cho nền cộng hòa non trẻ. Tuần này, phần Cánh Đông của Bạch Ốc bị phá sập. Không phải bởi ngoại bang, mà bởi chính quyền tại vị. Và lần này, không ai được báo trước. Người Mỹ chỉ biết chuyện qua những bức ảnh máy xúc cày nát nền nhà, cùng lời xác nhận ngắn ngủi từ các viên chức trong chính phủ.
Hai trăm năm rưỡi sau ngày dựng cờ độc lập, nước Mỹ vẫn chưa thoát khỏi chiếc bóng của bạo lực. Mỗi khi một viên đạn nổ, người ta lại nói: “Đây không phải là nước Mỹ.” Nhưng chính câu nói ấy lại là cách người Mỹ tránh nhìn thẳng vào chính mình. Bài viết của giáo sư Maurizio Valsania (Đại học Torino), đăng trên The Conversation ngày 12 tháng 9, 2025, nhắc lại lịch sử mà nhiều người muốn quên: từ nhựa đường và lông gà đến súng ngắn buổi bình minh — một mạch dài nối liền hai thế kỷ, nơi tự do và bạo lực chảy cùng dòng máu.
Một cuộc thăm dò dư luận của AP-NORC thực hiện vào tháng 9 & 10 cho thấy hầu hết dân Mỹ coi việc chính phủ đóng cửa hiện tại là một vấn đề nghiêm trọng và đổ lỗi cho cả hai Đảng Cộng Hòa, Đảng Dân Chủ và cả Tổng Thống Trump với những tỷ lệ gần như ngang nhau. Cuộc thăm dò cũng cho thấy người Mỹ lo lắng về kinh tế, lạm phát và bảo đảm việc làm. Họ đang giảm những chi tiêu không thiết yếu như quần áo và nhiên liệu. Đa số cho rằng nền kinh tế yếu kém. Chi phí thực phẩm, nhà ở và chăm sóc sức khỏe được coi là những nguồn chính gây khó khăn tài chính.
Trên cao nguyên Tây Tạng – vùng đất được mệnh danh là “nóc thế giới” – hàng triệu tấm pin mặt trời trải rộng đến tận chân trời, phủ kín 420 cây số vuông, tức hơn bảy lần diện tích đảo Manhattan. Tại đây, ánh nắng gay gắt của không khí loãng ở độ cao gần 10.000 bộ trở thành mỏ năng lượng khổng lồ cho Trung Hoa. Giữa thảo nguyên lạnh và khô, những hàng trụ gió nối dài trên triền núi, các con đập chắn ngang dòng sông sâu, cùng đường dây cao thế băng qua sa mạc, hợp thành một mạng lưới năng lượng sạch lớn nhất thế giới. Tất cả đổ về đồng bằng duyên hải, cung cấp điện cho các thành phố và khu kỹ nghệ cách xa hơn 1.600 cây số.
Mức asen cao được phát hiện trên sông Mê Kông, cảnh báo nguy cơ ô nhiễm kim loại nặng lan rộng ở Đông Nam Á. Các sông Mã, Chu và Lam của Việt Nam đang bị đe dọa bởi hoạt động khai thác đất hiếm ở Lào, tác động đến nguồn nước của hàng chục triệu người và di sản cổ đại văn hóa Đông Sơn. Việt Nam cần phối hợp ngoại giao, giám sát khoa học và vận động cộng đồng để bảo vệ các dòng sông này. Khác với sông Mê Kông được giám sát và hợp tác thông qua Ủy hội Sông Mê Kông (MRC), các dòng sông Mã, Chu và Lam lại không có bất kỳ hiệp ước quốc tế nào. Do đó, Lào và đối tác Trung Quốc không có nghĩa vụ pháp lý phải giảm thiểu ô nhiễm xuyên biên giới. Sự thiếu vắng các thỏa thuận ràng buộc này đòi hỏi Việt Nam phải hành động bảo vệ dân cư và sinh mệnh các dòng sông này
Tuần lễ Nobel năm 2025 đã khởi đầu tại Stockholm với giải thưởng đầu tiên thuộc lĩnh vực sinh lý học hoặc y khoa, mở màn cho chuỗi công bố kéo dài đến ngày 13 tháng Mười. Ba nhà khoa học Mary Brunkow, Fred Ramsdell và Shimon Sakaguchi được trao Giải Nobel Y khoa 2025 cho công trình “khám phá cơ chế dung nạp miễn dịch ngoại vi”, nền tảng của nhiều hướng nghiên cứu mới trong điều trị ung thư và bệnh tự miễn nhiễm. Các giải thưởng còn lại sẽ được công bố như sau: - 7 tháng Mười: Vật lý - 8 tháng Mười: Hóa học - 9 tháng Mười: Văn chương - 10 tháng Mười: Hòa bình - 13 tháng Mười: Kinh tế học
Từ tháng 11/2000 đến nay, chưa từng có một ngày nào mà con người vắng bóng ngoài quỹ đạo Trái đất. Trạm Không Gian Quốc Tế International Space Station (ISS) đã duy trì sự hiện diện liên tục suốt 25 năm, với ít nhất một phi hành gia Hoa Kỳ thường trực trên quỹ đạo thấp. Trong lịch sử bay vào vũ trụ, hiếm có thành tựu nào sánh bằng ISS: một công trình chung của Hoa Kỳ, châu Âu, Canada, Nhật Bản và Nga – biểu tượng của sự hợp tác vượt lên trên chính trị. Nhưng mọi hành trình đều có hồi kết. Năm 2030, con tàu khổng lồ này sẽ được điều khiển rơi xuống một vùng hẻo lánh ở Thái Bình Dương.
50 năm sau và thêm 8 đời tổng thống Mỹ, tuy Việt Nam nay không còn là quan tâm của đại đa số quần chúng như thời chiến tranh, nhưng một nước Việt Nam thống nhất về địa lý vẫn nằm trong chiến lược của Mỹ và vẫn được các nhà nghiên cứu về chính trị, sử, xã hội, kinh tế, quốc phòng và những nhà hoạt động môi trường, xã hội dân sự, những người tranh đấu cho dân chủ, nhân quyền quan tâm vì những vấn đề tồn đọng sau chiến tranh và các chính sách của Hà Nội. Những chủ đề liên quan đã được trình bày trong một hội nghị quốc tế tổ chức vào hai ngày 18 và 19/9/2025 tại Đại học U.C. Berkeley với sự tham dự của nhiều học giả, nghiên cứu sinh từ các đại học Hoa Kỳ, Việt Nam, Singapore, Pháp; cùng các cựu lãnh đạo, phóng viên, nhà hoạt động.
Tùy vào diễn biến trong dòng chảy xã hội mà người ta thường hay nhắc hoặc nhớ về một nhân vật nào đó của lịch sử. Ngay lúc này, tôi nhớ về Charlie Charplin – người đàn ông với dáng đi loạng choạng trong đôi giày quá khổ, với cây ba-ton, gương mặt trẻ con, tinh khôi nhưng láu cá, nổi bật với chòm râu “Hitler”, ánh mắt sâu thẳm như vác cả một thế giới trên vai
Con người? Nhân loại? Chúng ta đều biết những nhân vật này từ rất lâu. Họ đến từ một loài vượn đặc biệt có trí thông minh muốn vượt lên con vượn và họ trở thành con người, như nhà khoa học triết gia Charles Darwin đã lập thuyết. Hoặc họ được nặn ra từ đất sét rồi bị đuổi khỏi vườn địa đàng, đi lang thang khắp nơi tạo ra nhân loại như Thánh kinh đã ghi chép. Dù họ đến từ đâu, chúng ta đều phải ca ngợi khả năng tiến bộ không ngừng của họ. Dù họ xấu tính cách nào, hung ác ra sao, điên rồ cách mấy, chúng ta cũng phải ngưỡng mộ ý muốn cao cả của họ: Làm cho con người và đời sống tốt đẹp hơn.


Kính chào quý vị,

Tôi là Derek Trần, dân biểu đại diện Địa Hạt 45, và thật là một vinh dự lớn lao khi được đứng nơi đây hôm nay, giữa những tiếng nói, những câu chuyện, và những tâm hồn đã góp phần tạo nên diện mạo văn học của cộng đồng người Mỹ gốc Việt trong suốt một phần tư thế kỷ qua.
Hai mươi lăm năm! Một cột mốc bạc! Một cột mốc không chỉ đánh dấu thời gian trôi qua, mà còn ghi nhận sức bền bỉ của một giấc mơ. Hôm nay, chúng ta kỷ niệm 25 năm Giải Viết Về Nước Mỹ của nhật báo Việt Báo.

Khi những người sáng lập giải thưởng này lần đầu tiên ngồi lại bàn thảo, họ đã hiểu một điều rất căn bản rằng: Kinh nghiệm tỵ nạn, hành trình nhập cư, những phức tạp, gian nan, và sự thành công mỹ mãn trong hành trình trở thành người Mỹ gốc Việt – tất cả cần được ghi lại. Một hành trình ý nghĩa không những cần nhân chứng, mà cần cả những người viết để ghi nhận và bảo tồn. Họ không chỉ tạo ra một cuộc thi; họ đã và đang xây dựng một kho lưu trữ. Họ thắp lên một ngọn hải đăng cho thế hệ sau để chuyển hóa tổn thương thành chứng tích, sự im lặng thành lời ca, và cuộc sống lưu vong thành sự hội nhập.

Trong những ngày đầu ấy, văn học Hoa Kỳ thường chưa phản ánh đầy đủ sự phong phú và đa dạng về kinh nghiệm của chúng ta. Giải thưởng Viết Về Nước Mỹ thực sự đã lấp đầy khoảng trống đó bằng sự ghi nhận và khích lệ vô số tác giả, những người đã cầm bút và cùng viết nên một thông điệp mạnh mẽ: “Chúng ta đang hiện diện nơi đây. Trải nghiệm của chúng ta là quan trọng. Và nước Mỹ của chúng ta là thế đó.”


Suốt 25 năm qua, giải thưởng này không chỉ vinh danh tài năng mà dựng nên một cộng đồng và tạo thành một truyền thống.
Những cây bút được tôn vinh hôm nay không chỉ mô tả nước Mỹ; họ định nghĩa nó. Họ mở rộng giới hạn của nước Mỹ, làm phong phú văn hóa của nước Mỹ, và khắc sâu tâm hồn của nước Mỹ. Qua đôi mắt họ, chúng ta nhìn thấy một nước Mỹ tinh tế hơn, nhân ái hơn, và sau cùng, chân thật hơn.

Xin được nhắn gửi đến các tác giả góp mặt từ bao thế hệ để chia sẻ tấm chân tình trên các bài viết, chúng tôi trân trọng cảm ơn sự can đảm của quý vị. Can đảm không chỉ là vượt qua biến cố của lịch sử; can đảm còn là việc ngồi trước trang giấy trắng, đối diện với chính mình, lục lọi ký ức đau thương sâu đậm, và gửi tặng trải nghiệm đó đến tha nhân. Quý vị là những người gìn giữ ký ức tập thể và là những người dẫn đường cho tương lai văn hóa Việt tại Hoa Kỳ.

Với Việt Báo: Xin trân trọng cảm ơn tầm nhìn, tâm huyết, và sự duy trì bền bỉ giải thưởng này suốt một phần tư thế kỷ.
Khi hướng đến 25 năm tới, chúng ta hãy tiếp tục khích lệ thế hệ kế tiếp—những blogger, thi sĩ, tiểu thuyết gia, nhà phê bình, nhà văn trẻ—để họ tìm thấy tiếng nói của chính mình và kể lại sự thật của họ, dù đó là thử thách hay niềm vui. Bởi văn chương không phải là một thứ xa xỉ; đó là sự cần thiết. Đó là cách chúng ta chữa lành, cách chúng ta ghi nhớ, và là cách chúng ta tìm thấy nơi chốn của mình một cách trọn vẹn.

Xin cảm ơn quý vị.

NHẬN TIN QUA EMAIL
Vui lòng nhập địa chỉ email muốn nhận.