Hôm nay,  

‘Midlife Crisis’: Cơn Bão Giữa Đời

17/01/202500:04:00(Xem: 4284)

Cơn Bão Giữa Đời - Ann Phong
Cơn Bão Giữa Đời – Tranh Ann Phong
 
12:05 giờ đêm, từ buổi tiệc Giáng Sinh ở nhà cô bạn thân ra về, một cảm giác ứa nghẹn bất chợt trào lên. Trong khoảnh khắc, tôi thấy mình tắp xe vào bờ đường xa lộ, rồi không thể tự kiềm chế, từng cơn nấc ào đến, nước mắt ràn rụa, tôi khóc như thể vừa hay tin người thân yêu nhất mới qua đời.
 
Cơn òa vỡ đầu tiên này xảy ra vào một đêm cuối tháng 12, khi tôi ở tuổi 46.  
 
Thật ra, nhiều ngày, tháng trước đó, mọi giác quan trong người đã phát ra nhiều tín hiệu cảnh báo về một cơn chấn động kéo theo những hoang mang, những trăn trở về ý nghĩa, lẽ sống…  Nhưng bận rộn với việc chứng minh bản thân qua nhiều vai trò, trái tim tôi không có chỗ cho cảm xúc lạ, cái đầu coi thường khái niệm “midlife crisis”.  Tôi lúc đó, ở tuổi còn “trẻ”, còn cứng rắn cho rằng một người chỉ trải qua những cảm xúc hoang mang vật lộn giữa đời bởi người đó chưa chịu đựng đủ hoặc chưa hy sinh đủ. Một khi bạn ngừng than phiền, ngừng chất vấn, tập trung làm việc chăm chỉ, cố gắng lên thì bạn sẽ không có thời giờ cho những cảm xúc “quởn” này.
 
Hóa ra, tôi không phải là người duy nhất phủ nhận cơn địa chấn này.

Năm 1965, một bác sĩ và nhà phân tích tâm lý học người Canada, Elliott Jaques đã giới thiệu thuật ngữ “midlife crisis” hay "khủng hoảng tuổi trung niên", một khái niệm định hình cách nhìn nhận về sự lão hóa, về cuộc đời và sự mất mát. Jaques bắt đầu suy nghĩ về khái niệm này vào năm 1952, ở tuổi 35, sau khi đọc Inferno của Dante– một tập thơ mô tả hành trình vào bóng tối và vượt qua trầm cảm ở tuổi trung niên.

Khi Jaques lần đầu trình bày bài học thuật của mình về "Cái Chết và Khủng Hoảng Tuổi Trung Niên" tại Hiệp Hội Phân Tâm Học Anh Quốc vào năm 1957, bài này được đón nhận một cách thờ ơ và không được Tạp chí Quốc tế về Phân tâm học chấp nhận. Mãi cho đến tám năm sau, khái niệm này mới được công nhận với luận trình nghiên cứu mới của Ông dựa trên 300 nghệ sĩ sáng tạo và nhiều trường hợp khác trong thực hành lâm sàng, trong đó Jaques chỉ ra rằng trong những năm trung niên, khi "giai đoạn đầu của cuộc sống trưởng thành đã trôi qua", việc thích nghi với một loạt hoàn cảnh mới là điều cần thiết, khi công việc và gia đình đã ổn định; cha mẹ đã già; và con cái đang "ở ngưỡng cửa của tuổi trưởng thành". Theo nghiên cứu này, những người bước vào tuổi trung niên lúc bấy giờ nếu không thiết lập được sự thành công trong nghề nghiệp hay hạnh phúc hôn nhân sẽ khiến họ thiếu khả năng chuẩn bị đối mặt với những hoang mang giữa đời; và kết quả là họ có thể biểu hiện các đặc tính mà sau này trở thành những mẫu số chung xác định giai đoạn khủng hoảng tuổi trung niên ‘midlife crisis’ như: vỡ mộng với cuộc sống; không hài lòng với sự nghiệp, chất vấn về bản thân; nỗ lực tuyệt vọng để trì hoãn sự suy giảm tinh thần và thể chất; xa lánh người thân và trách nhiệm gia đình; tìm ý nghĩa mới trong đời sống, tìm cuộc sống mới…

Theo định nghĩa của Jacques thì sự thiếu trưởng thành về tâm lý là yếu tố tạo ra khủng hoảng và được che giấu bằng quyết tâm cuồng nhiệt nhằm níu kéo hay cản trở thời gian đang trôi qua. Định nghĩa một cách khác, khủng hoảng tuổi trung niên là cuộc đối mặt với bản ngã và sự thức tỉnh.

Ngoài những biểu hiện sinh lý rõ rệt như đàn ông rụng tóc, đàn bà tắt kinh… thì có lẽ nếu bạn nhìn vào từng "sự kiện" trong giai đoạn trung niên như một cuộc đấu tranh riêng lẻ, độc lập, bạn có thể thuyết phục chính mình rằng chúng ta chỉ đang đối mặt với một vài “khủng hoảng” nhỏ. Nhưng sự thật là, khủng hoảng tuổi trung niên giống như một chuỗi các cú thúc kết nối bởi lo âu, trầm cảm âm ỉ, sự tuyệt vọng lặng lẽ, và cảm giác mất kiểm soát ngầm.
Những biểu hiện âm ỉ, lặng lẽ này đủ khiến bạn phát rồ, nhưng lại không đủ để người khác nhận ra và hỗ trợ bạn. Đây là một kiểu “vật lộn” nguy hiểm — loại khiến bạn bề ngoài phải giả vờ rằng mọi thứ vẫn ổn.

Chúng ta vẫn đi làm, vẫn nấu nướng dọn dẹp, vẫn bày bàn ăn, vẫn yêu thương gia đình, bạn bè, đi cắt tóc làm móng tay… Bề ngoài, mọi thứ trông rất bình thường. Nhưng bên trong, chúng ta hầu như không thể giữ điều gì ổn định nỗi. Chúng ta muốn chia sẻ, nhưng sự phán xét của chính bản thân chúng ta lại ngăn cản. Đây là một trường hợp điển hình của "mâu thuẫn nhận thức"—quá trình chấn thương tâm lý khi phải đối mặt với hai sự thật đối lập trong tâm trí, một tâm trí vốn được lập trình để giảm thiểu xung đột và bất đồng. Chẳng hạn: 1. Tôi đang sụp đổ và cần chậm lại để tìm kiếm sự thông hiểu và 2. Chỉ những người yếu đuối, thất bại mới sụp đổ và yêu cầu giúp đỡ.

Bản chất con người và sinh học não bộ khiến chúng ta làm mọi cách để giải quyết mâu thuẫn nhận thức này—nói dối, gian lận, hợp lý hóa, biện minh, phớt lờ, phản kháng... Đối với hầu hết chúng ta, đây chính là lúc khả năng gìn giữ hình ảnh/uy tín của bản thân phản tác dụng. Chúng ta bị giằng xé giữa việc muốn mọi người nhận ra cuộc đấu tranh của mình, muốn được công khai sống với cảm xúc “mới”, con người “mới” của mình,  đồng thời làm mọi cách để che đậy những điều đang sôi sục trong chúng ta.

Từ những xáo trộn nội tâm này, những tưởng tượng bắt đầu nảy sinh dẫn đến những hành động khó tưởng.

Với phụ nữ, khủng hoảng tuổi trung niên thường thầm lặng khó phát hiện, bắt đầu bằng những nỗi buồn vu vơ bất chợt, những thất vọng chán chường, đến một lần ngừng xe khóc một cơn cho đã bên lề đường rồi lau sạch nước mắt, vuốt tóc thẳng thắn về nhà với chồng con bằng một nụ cười trên khuôn mặt như không việc gì xảy ra. Lần kế tiếp, khi lái xe ngang qua một khách sạn rẻ tiền, bạn thầm nghĩ: Chỉ cần vào đó và ở lại đến khi họ tìm thấy xác của mình. Hoặc có thể, khi đang dọn bát đĩa trong bếp, bạn chỉ muốn ném đám bát đĩa qua cửa sổ, và tự hỏi: mọi người sẽ nghĩ gì về mình, rồi sao?
Phần lớn chúng ta từ bỏ những suy nghĩ thoáng qua đó. Chúng ta sẽ phải dậy đúng giờ thay đồ sửa soạn chỉnh tề đi làm. Chúng ta phải ăn diện đẹp lái xe đến tiệc Giáng Sinh vì bạn bè và người thân đang chờ sự có mặt “đương nhiên” của chúng ta ở đó. Và tất cả sẽ được nuốt xuống, đẩy vào, cho đến khi “òa vỡ”.

Đối với nam giới, xáo trộn này tuy không kém phức tạp nhưng phần nào điển hình dễ nhận thấy hơn, vì những hành động của các ông thường “ầm ĩ” tính phản kháng, ví dụ như cà tối đa thẻ tín dụng hay xài một khoản tiền để dành lớn, tậu cho bản thân một chiếc xe thể thao mui trần nổi bật, nghỉ làm và “mất tích” vài ngày, đi chơi xa một mình không rủ vợ con đi cùng, hay xa hơn nữa, vụng trộm với người yêu mới, bước vào một cuộc tình mới, theo đuổi một cuộc sống mới… Theo các dữ liệu nghiên cứu cho thấy một phần đáng kể đàn ông trải qua khủng hoảng tuổi trung niên thường dính đến các vụ ngoại tình tuy số liệu chính xác thay đổi tùy thuộc vào nghiên cứu và nhóm đối tượng khảo sát.

Nhiều nhà nghiên cứu cho rằng cuộc đấu tranh ở tuổi trung niên liên quan đến nỗi sợ hãi khi lần đầu tiên ta nhìn thấy rõ sự hữu hạn của cuộc đời. Nhưng sự thật không chỉ vậy. Tuổi trung niên không phải là nỗi sợ cái chết—tuổi trung niên chính là cái chết. Việc phá bỏ những bức tường mà chúng ta đã dành cả đời để xây dựng chính là một sự "chết đi." Hoài bão, ước mơ, tình yêu, niềm tin, chí hướng… tất cả đều thu nhỏ và chết dần. Dù thích hay không, vào một thời điểm nào đó giữa tuổi trung niên, chúng ta hoặc sẽ bùng nổ, hoặc sẽ sụp đổ. Để rồi chỉ có hai lựa chọn: tiếp tục gục ngã hoặc tự tìm cho mình cách để “chịu đựng” tiếp tục.

Thật mỉa mai khi những điều từng giúp chúng ta an toàn khi trưởng thành cuối cùng lại trở thành rào cản ngăn chúng ta trở thành người cha, người mẹ, người bạn đời hoặc con người lý tưởng mà mình hằng mong muốn, xây đắp. Có thể bạn xưa nay là người luôn làm hài lòng mọi người và tuân thủ các quy tắc, nhưng giờ đây sự hoàn hảo đó lại trở thành gánh nặng đè trĩu tâm hồn bạn. Hoặc có thể bạn luôn giữ khoảng cách với người khác để bảo vệ bản thân, nhưng giờ khoảng cách ấy đã biến thành sự cô đơn không thể chịu nổi. Hoặc có thể bạn từng chăm sóc hoặc làm vừa lòng người khác vì không có lựa chọn nào khác, và giờ đây bạn phải học cách chăm sóc bản thân và đối mặt với phản ứng dữ dội từ việc đặt ra ranh giới mới.

Một cách khác, chúng ta dành nửa cuộc đời đầu đóng lại cảm xúc nhằm sống mẫu mực tránh khổ đau mưu cầu hạnh phúc cho người thân và gia đình, và nửa đời sau mở lòng ra hết cỡ hầu được “sống lại” và chữa lành những tổn thương cho bản thân.

Thật ra, khi cảm giác “phá bỏ bức tường và đối mặt với sự tàn tạ và cái chết của tâm hồn” trở nên quá tải, nghĩ về tuổi trung niên như một hành trình tìm kiếm tình yêu bản thân sẽ giúp chúng ta phần nào dễ đối phó hơn. Yêu thương bản thân là điều khó khăn và dũng cảm nhất mà con người có thể làm. Có lẽ, chúng ta chỉ có một khoảng thời gian hữu hạn để tìm thấy tình yêu đó, và trung niên là dấu mốc giữa cuộc hành trình. Đây là lúc có thể buông bỏ sự xấu hổ và sợ hãi để đón nhận tình yêu này. Đã đến lúc hoặc tiến lên, hoặc bỏ cuộc.

Hành trình này không có thời biểu cố định. Khi nó đến, với tôi, ở tuổi 46 (và nó vẫn còn ở lại). Với một số người quen, nó xảy ra từ tuổi 30 đến 60, bất kể nam nữ, bất kể trình độ, bản tính… Nhưng một điều tôi nghiệm ra: hành trình này chỉ kết thúc khi chúng ta chết đi. Đây không phải là điều chúng ta có thể “chữa trị” rồi bỏ qua. Tình yêu bản thân là một căn bệnh mãn tính khởi đầu từ trung niên và kéo dài đến hết đời. Nó có thể giúp tâm hồn thăng hoa, hoàn thiện, ngược lại cũng có thể kéo chúng ta “vùi dần, vùi sâu”1 xuống vũng lầy.

Với tôi, đã 10 năm sau cơn “òa vỡ” đầu tiên, tôi vẫn thấy mình đang nuốt xuống “cục nghẹn” trên đường lái xe về từ buổi tiệc cuối năm vừa qua. Tôi hiểu rõ tuổi trung niên không phải là một cuộc khủng hoảng. Tuổi trung niên là một sự đứt gãy.

Như Dante đã viết trong Inferno: "Giữa cuộc hành trình của đời người, tôi lạc vào một khu rừng tăm tối, nơi con đường thẳng đã không còn thấy nữa."2
Khủng hoảng tuổi trung niên, giống như khu rừng tăm tối của Dante, là nơi chúng ta buộc phải lạc lối để tìm lại con đường dẫn đến chính mình.

Với ngọn đèn tâm thức3 soi rọi, liệu “Chúng ta rồi sẽ bước ra để lại được ngắm nhìn các vì sao."? 4

Nguyên Yên

(1)   Lời trong bài Vũng Lầy của Chúng Ta, Lê Uyên Phương
(2)   & (4): Trích trong “Inferno”, phần I của tác phẩm kinh điển "Thần Khúc" của Dante Alighieri.
(3)   Trong hành trình qua ba cõi: Địa ngục, Luyện ngục và Thiên đường, Dante liên tục hướng về ánh sáng mặt trời như một mục tiêu để đạt đến sự thanh tẩy và hiểu biết sâu sắc hơn về bản thân và vũ trụ. “Mặt trời tâm thức" trong tác phẩm của Dante chính là biểu tượng cho sự soi sáng nội tâm, giúp con người nhận thức rõ ràng hơn về chính mình và con đường hướng tới cứu rỗi.
  

Gửi ý kiến của bạn
Vui lòng nhập tiếng Việt có dấu. Cách gõ tiếng Việt có dấu ==> https://youtu.be/ngEjjyOByH4
Tên của bạn
Email của bạn
)
Năm Carlton Terry 12 tuổi, hệ thống trường học tại Quận Prince Edward, bang Virginia, bất ngờ đóng cửa đối với tất cả trẻ em người da đen. Nhớ lại năm đầu tiên ấy, ông kể: “Tất cả những gì tôi biết là tôi không được đến trường, và tôi biết lý do tại sao. Tôi nhận ra rằng hệ thống pháp luật được tạo ra không phải để bảo vệ tôi. Tôi nhớ những ngày ngồi nhà, sững sờ trước màn hình TV, xem chương trình Amos ’n’ Andy. Mỗi ngày, tôi đọc báo để xem liệu có gì thay đổi hay không.”
Ngày 3 tháng 4, 2014 là ngày mất của nhà đấu tranh Ngô Văn Toại. Mời đọc lại bài phóng sự SV Ngô Vương Toại bị Việt Cộng bắn tại trường Văn Khoa SG hôm tổ chức đêm nhạc Trịnh Cộng Sơn - Khánh Ly tháng 12, năm 1967, Sài Gòn.
Theo thời gian, từ sau ngày 30 tháng 4 năm 1975 đến nay, số lượng Tăng, Ni đến định cư ở Mỹ ngày càng đông, theo diện vượt biển và vượt biên tị nạn Cộng Sản (từ 1975 đến 1989), theo Chương Trình Ra Đi Trật Tự (Orderly Departure Program - ODP) và Chiến Dịch Nhân Đạo (The Humanitarian Operation - HO) (từ 1980 đến 1997), hay theo diện hỗ trợ sinh hoạt tôn giáo được các chùa, các tổ chức Phật Giáo ở Mỹ bảo lãnh kể từ đầu những năm đầu thiên niên kỷ thứ 3. Các vị Tăng, Ni này định cư ở Mỹ dù thuộc diện nào thì đều mang theo mình sứ mệnh hoằng dương Chánh Pháp của Đức Phật, duy trì và phát huy truyền thống văn hóa của Dân Tộc và Phật Giáo Việt Nam tại xứ người. Đây là động lực chính hình thành các cộng đồng Phật Giáo Việt Nam ở Mỹ trải dài nửa thế kỷ qua.
Trí tuệ nhân tạo (AI) đang trở thành tâm điểm trong lĩnh vực khoa học căn bản (basic science), góp phần định hình những bước tiến mới của nhân loại. Điều này càng được khẳng định rõ ràng hơn qua các Giải Nobel Hóa học và Vật lý năm 2024 khi cả năm người đoạt giải đều có điểm chung: có liên quan đến AI.
Trong ba chiến dịch tranh cử tổng thống, Donald Trump liên tục cam kết rằng ông sẽ điều hành chính phủ liên bang như một công ty. Giữ đúng lời hứa, ngay khi tái đắc cử, Trump đã bổ nhiệm tỷ phú công nghệ Elon Musk đứng đầu một cơ quan mới thuộc nhánh hành pháp mang tên Bộ Cải Tổ Chính Phủ (Department of Government Efficiency, DOGE). Sáng kiến của Musk nhanh chóng tạo ra làn sóng cải tổ mạnh mẽ. DOGE đã lột chức, sa thải hoặc cho nghỉ việc hàng chục ngàn nhân viên liên bang, đồng thời tuyên bố đã phát hiện những khoản chi tiêu ngân sách lãng phí hoặc có dấu hiệu gian lận. Nhưng ngay cả khi những tuyên bố của Musk đang được chứng minh sai sự thật, việc tiết kiệm được 65 tỷ MK vẫn chỉ là một con số chiếm chưa đến 1% trong tổng ngân sách 6.75 ngàn tỷ MK mà chính phủ Hoa Kỳ đã chi tiêu trong năm 2024, và là một phần vô cùng nhỏ nhoi nếu so với tổng nợ công 36 ngàn tỷ MK.
Trong bài diễn văn thông điệp liên bang trước Quốc Hội vừa qua, tổng thống Donald Trump tuyên bố nước Mỹ sẽ “will be woke no longer” – khẳng định quan điểm chống lại cái mà ông ta coi là sự thái quá của văn hóa “woke.” Tuyên bố này phản ánh lập trường của phe bảo thủ, những người cho rằng “wokeness” (sự thức tỉnh) là sự lệch lạc khỏi các giá trị truyền thống và nguyên tắc dựa trên năng lực. Tuy nhiên, điều quan trọng là cần hiểu đúng về bối cảnh lịch sử của thuật ngữ “woke” để không có những sai lầm khi gán cho nó ý nghĩa tiêu cực hoặc suy đồi.
Chỉ với 28 từ, một câu duy nhất trong Tu Chính Án 19 (19th Amendment) đã mở ra kỷ nguyên mới cho phụ nữ Hoa Kỳ. Được thông qua vào năm 1920, tu chính án này đã mang lại quyền bầu cử cho phụ nữ sau hơn một thế kỷ đấu tranh không ngừng. Trong Hiến pháp Hoa Kỳ, Điều I của Tu Chính Án 19 quy định: “Chính phủ liên bang và tiểu bang không được phép từ chối hay ngăn cản quyền bầu cử của công dân Hoa Kỳ vì lý do giới tính.” (Nguyên văn là “The right of citizens of the United States to vote shall not be denied or abridged by the United States or by any State on account of sex.”)
Trong bối cảnh chính quyền Trump đẩy mạnh chiến dịch loại bỏ các chương trình Đa dạng, Bình đẳng và Hòa nhập (DEI), vai trò của phụ nữ trong lịch sử không chỉ là một chủ đề cần được khai thác mà còn là một chiến trường tranh đấu cho công lý và sự công nhận. Bất chấp sự ghi nhận hạn chế và thường xuyên bị lu mờ trong các tài liệu lịch sử, phụ nữ đã và đang đóng góp không thể phủ nhận vào dòng chảy của lịch sử thế giới. Các nhà sử học nữ, dẫu số lượng không nhiều và thường bị đánh giá thấp trong giới học thuật truyền thống, đã không ngừng nỗ lực nghiên cứu và đưa ra ánh sáng những câu chuyện về phụ nữ, từ đó mở rộng khung nhìn lịch sử và khẳng định vai trò của mình trong xã hội. Tháng Lịch sử Phụ nữ diễn ra vào tháng Ba hàng năm, đây không chỉ là dịp để tôn vinh những thành tựu của phụ nữ mà còn là lúc để xem xét và đánh giá những thách thức, cũng như cơ hội mà lịch sử đã và đang mở ra cho nửa thế giới này.
Theo báo điện tử vnexpress.net, từ ngày USAID tái hoạt động tại Việt Nam, Mỹ đã hợp tác với Việt Nam để giải quyết các hậu quả do chiến tranh gây ra, bao gồm việc rà phá bom mìn, xử lý vật liệu nổ, tìm kiếm binh sĩ mất tích và xử lý chất độc da cam/dioxin. Từ năm 2019, USAID đã hợp tác với Bộ Quốc phòng Việt Nam để xử lý khoảng 500.000 mét khối đất nhiễm dioxin tại căn cứ Không quân Biên Hòa, tỉnh Đồng Nai. Vào tháng Giêng năm 2024, Hoa Kỳ cam kết bổ sung thêm 130 triệu Mỹ kim, nâng tổng kinh phí cho việc làm sạch dioxin lên 430 triệu. Không rõ bây giờ USAID bị đóng băng, số bổ sung cam kết ấy có còn. Ngoài việc giúp giải quyết các hậu quả chiến tranh, USAID đã đóng một vai trò quan trọng trong quá trình hội nhập kinh tế của Việt Nam, đặc biệt là việc Việt Nam gia nhập Tổ chức Thương mại Thế giới (WHO) và Hiệp định song phương Việt Nam-Hoa Kỳ.
Elizabeth Eckford, một trong chín học sinh da đen tiên phong bước vào trường Trung học Little Rock Central năm 1957, đã trở thành biểu tượng của lòng dũng cảm trong cuộc đấu tranh chống phân biệt chủng tộc tại Hoa Kỳ. Kể từ ngày khai trường lịch sử ấy đến nay, cuộc đấu tranh chống kỳ thị chủng tộc ở Hoa Kỳ đã đạt nhiều tiến bộ đáng kể, cho đến gần đây, Donald Trump lên nắm quyền và ra lệnh xóa bỏ toàn bộ chính sách Đa dạng, Công bằng và Hòa nhập (DEI) trên khắp đất nước thúc đẩy sự gia tăng của các hành vi thù ghét trên toàn quốc, câu chuyện của Eckford càng trở nên cấp thiết. Việt Báo đăng lại câu chuyện lịch sử này như lời nhắc nhở quyền bình đẳng không thể bị xem là điều hiển nhiên, và cuộc đấu tranh cho công lý, bình đẳng vào lúc này thực sự cần thiết.


Kính chào quý vị,

Tôi là Derek Trần, dân biểu đại diện Địa Hạt 45, và thật là một vinh dự lớn lao khi được đứng nơi đây hôm nay, giữa những tiếng nói, những câu chuyện, và những tâm hồn đã góp phần tạo nên diện mạo văn học của cộng đồng người Mỹ gốc Việt trong suốt một phần tư thế kỷ qua.
Hai mươi lăm năm! Một cột mốc bạc! Một cột mốc không chỉ đánh dấu thời gian trôi qua, mà còn ghi nhận sức bền bỉ của một giấc mơ. Hôm nay, chúng ta kỷ niệm 25 năm Giải Viết Về Nước Mỹ của nhật báo Việt Báo.

Khi những người sáng lập giải thưởng này lần đầu tiên ngồi lại bàn thảo, họ đã hiểu một điều rất căn bản rằng: Kinh nghiệm tỵ nạn, hành trình nhập cư, những phức tạp, gian nan, và sự thành công mỹ mãn trong hành trình trở thành người Mỹ gốc Việt – tất cả cần được ghi lại. Một hành trình ý nghĩa không những cần nhân chứng, mà cần cả những người viết để ghi nhận và bảo tồn. Họ không chỉ tạo ra một cuộc thi; họ đã và đang xây dựng một kho lưu trữ. Họ thắp lên một ngọn hải đăng cho thế hệ sau để chuyển hóa tổn thương thành chứng tích, sự im lặng thành lời ca, và cuộc sống lưu vong thành sự hội nhập.

Trong những ngày đầu ấy, văn học Hoa Kỳ thường chưa phản ánh đầy đủ sự phong phú và đa dạng về kinh nghiệm của chúng ta. Giải thưởng Viết Về Nước Mỹ thực sự đã lấp đầy khoảng trống đó bằng sự ghi nhận và khích lệ vô số tác giả, những người đã cầm bút và cùng viết nên một thông điệp mạnh mẽ: “Chúng ta đang hiện diện nơi đây. Trải nghiệm của chúng ta là quan trọng. Và nước Mỹ của chúng ta là thế đó.”


Suốt 25 năm qua, giải thưởng này không chỉ vinh danh tài năng mà dựng nên một cộng đồng và tạo thành một truyền thống.
Những cây bút được tôn vinh hôm nay không chỉ mô tả nước Mỹ; họ định nghĩa nó. Họ mở rộng giới hạn của nước Mỹ, làm phong phú văn hóa của nước Mỹ, và khắc sâu tâm hồn của nước Mỹ. Qua đôi mắt họ, chúng ta nhìn thấy một nước Mỹ tinh tế hơn, nhân ái hơn, và sau cùng, chân thật hơn.

Xin được nhắn gửi đến các tác giả góp mặt từ bao thế hệ để chia sẻ tấm chân tình trên các bài viết, chúng tôi trân trọng cảm ơn sự can đảm của quý vị. Can đảm không chỉ là vượt qua biến cố của lịch sử; can đảm còn là việc ngồi trước trang giấy trắng, đối diện với chính mình, lục lọi ký ức đau thương sâu đậm, và gửi tặng trải nghiệm đó đến tha nhân. Quý vị là những người gìn giữ ký ức tập thể và là những người dẫn đường cho tương lai văn hóa Việt tại Hoa Kỳ.

Với Việt Báo: Xin trân trọng cảm ơn tầm nhìn, tâm huyết, và sự duy trì bền bỉ giải thưởng này suốt một phần tư thế kỷ.
Khi hướng đến 25 năm tới, chúng ta hãy tiếp tục khích lệ thế hệ kế tiếp—những blogger, thi sĩ, tiểu thuyết gia, nhà phê bình, nhà văn trẻ—để họ tìm thấy tiếng nói của chính mình và kể lại sự thật của họ, dù đó là thử thách hay niềm vui. Bởi văn chương không phải là một thứ xa xỉ; đó là sự cần thiết. Đó là cách chúng ta chữa lành, cách chúng ta ghi nhớ, và là cách chúng ta tìm thấy nơi chốn của mình một cách trọn vẹn.

Xin cảm ơn quý vị.

NHẬN TIN QUA EMAIL
Vui lòng nhập địa chỉ email muốn nhận.