Hôm nay,  

Miệng Đời

14/11/201900:00:00(Xem: 8175)

Hậu về ôm bà Hai nức nở thủ thỉ:

- Con khổ quá mẹ, bác sĩ nói con vô sinh!

Bà Hai vỗ về:

- Bác sĩ nói nhưng mình cứ cố gắng hết sức, chừng nào không thể được hẵng hay.

- Con đã đi bác sĩ Tây y, Đông y, cầu tự… đã làm đủ cách mọi người chỉ bảo nhưng hoàn toàn không có kết quả. Con nghĩ  chắc số phận con như thế rồi! 

Bà Hai thở dài, lặng im một lát rồi hỏi:

- Vậy  ý chồng con thế nào?

- Anh ấy rất thương và thông cảm với con. Anh ấy nói dù thế nào cũng không bỏ con. Anh ấy còn bảo có thể nhận trẻ mồ côi về làm con. Con rất cảm động với tình yêu anh ấy dành cho con, nhưng lòng con vẫn  đầy lo lắng. Mẹ biết không? Vô sinh đã là nỗi đau lớn ấy vậy mà nhiều người hết sức nhẫn tâm. Họ noí bóng gió sau lưng con:” Cây độc không trái, gái độc không con”. Con có đắc tội với ai đâu mà họ nỡ lòng làm cho vết thương lòng càng thêm đau.

Bà Hai lòng dạ cũng đau không kém gì con mình, tâm can như cào xé, gịong bà trở nên thiểu não:

- Miệng đời vốn hay đơm đặt, đưa đẩy những chuyện không hay. Họ cười cợt trên nỗi đau của người khác, biết làm sao được hả con, thôi thì mình giữ phận mình, gắng sống cho tử tế, giữ tròn phận mình thì trời Phật sẽ gia hộ.

Hậu im lặng, lòng thấy thương mẹ vô cùng, mình vô tình làm cho mẹ thêm buồn lo. Hậu gượng cười:

- Thôi mẹ đừng buồn nữa, con sẽ không sao đâu, sông có khúc người có lúc mà!

Bà Hai tiễn con ra cữa nhìn theo bóng dáng Hậu cho đến khi  khuất nơi cuối phố mới quay vào nhà. Bà gọi ông:

- Ba con Hậu đâu rồi?

Ông từ trên lầu bước xuống hỏi:

- Có chuyện gì mà bà kêu tui vậy?

- Thì chuyện con gaí của mình chứ chuyện gì!

- Con gái mình sao?

- bác sĩ noí nó vô sanh.

Ông thở dài bảo:

- Tôi cũng biết rồi, thiệt tình tui nghe hết  hai mẹ con bà tâm sự. Tui vẫn khấn nguyện cho con, vẫn hồi hướng công đức cho con và các pháp giới chúng sanh. Mình làm hết khả năng của mình thôi, vô sinh kể cũng bất hạnh thật nhưng con gái cũng còn dư phước, gặp được thằng chồng hết lòng yêu thương và tử tế biết bao. Đời mà bà , nhiều khi mất cái nọ laị được cái kia!

Hậu về đến nhà thấy Hỷ đã về từ trước bèn noí:

- Tan sở em ghé về thăm mẹ nên về trễ.

Hỷ cười noí:

- Em khoẻ không? thỉnh thoảng tranh thủ ghé thăm mẹ cho mẹ vui

- Em đã noí với mẹ chuyện vô sinh rồi,

- Thế mẹ có nói gì không?

- Mẹ buồn và an uỉ em nhiều lắm. Mẹ khuyên sống tử tế. Anh, cuối tuần này mình lên chùa lễ Phật nghe anh?

- Ừ, thì đi!

Cuối tuần chùa khá nhộn nhịp, sau thời kinh mọi người thọ trai xong lần lượt ra về, chờ vãng khách Hậu mới thưa với thầy:

- Con bị vô sinh, đã chạy chữa moị cách nhưng hoàn toàn vô vọng. Thầy ơi! Không biết kiếp trước thế nào mà kiếp này con chịu đau khổ thế này?

Thầy từ tốn noí:

- Vô sinh kể cũng buồn thật, theo lẽ đời thì cho là bất hạnh nhưng theo lý đạo thì có thể con không có ân oán gì nên kiếp này họ không đến tìm con! Theo thầy thì con cũng có thể nhận trẻ mồ côi về làm con. Xã hội này cò biết bao nhiêu phận đời hẩm hiu. Con là Phật tử thuần thành  hãy coi trẻ mồ côi cũng như con ruột thì ít ra cũng cưú vớt được một người. Ấy cũng là niềm vui của con mà cũng là phước đức của cả hai.

- Thưa thầy, vợ chồng con cũng tính như thế! Thầy biết không ? vô sinh đã là nỗi đau buồn ấy vậy mà nhiều người độc miệng cứ bảo:” Cây độc không trái, gái độc không con.”

nghe là tủi lắm. Con phải làm gì với những lời bóng gió này?

- Con chẳng cần làm gì cả, con cứ sống tốt, cứ giữ phận mình. Trời đất quỉ thần biết. Bồ tát gia hộ con. Con không biết rằng miệng đời vốn độc sao? người mình vốn hay cười cợt trên nỗi đau của người  khác, đem những khiếm khuyết của người ta gắn vào tên mà gọi như: Tám cụt,  Tư rỗ, Bảy thọt… Người mình nhẫn tâm đặt ra những câu như:” Nhứt lé nhì lùn tam hô tứ sún” hoặc như:

“Những phường ti hí mắt lươn

Trai thì trộm cướp gái buôn chồng người”

Con thấy đấy! người Nhật, Hàn, Tàu, Việt… phần nhiều mắt ti hí không lẽ ai cũng trộm cướp, làm điếm hết sao? đặc điểm về hình thức nhân chủng chẳng liên can gì đếm tư cách, phẩm chất con người! ấy vậy người mình vẫn cứ tin, vẫn cứ nói… Họ vô tình làm cho nỗi đau của những kẻ bất hạnh càng đau thêm. Họ vô tình tạo nghiệp bất thiện về miệng. Mình học Phật, tu theo Phật phải có chánh kiến, phải biết “chấn tác” những cái sai quấy và nếu có thể mình mạnh dạn phân tích cho người chung quanh mình hiểu.  Giờ quay laị việc của con, con hãy vững tin vào Tam Bảo đừng vì cái bất hạnh của mình mà sanh lòng suy thoái hay có ý nghi ngờ nghe con!

 Hậu cùng chồng đồng đứng dậy  chắp tay xá thầy:

- Chúng con cảm ơn thầy chỉ dạy, chúng con nhất định làm theo lời thầy!

Trên đường về Hậu cảm thấy lòng nhẹ nhõm hơn rất nhiều. Hậu vòng tay ôm lấy Hỷ thỏ thẻ:

- Em cảm thấy an tâm nhiều lắm, nhờ thầy an ủi, chỉ dạy. Em cũng biết ơn anh nhiều lắm, vì em vô sinh mà anh vẫn không bỏ em!

Hỷ cười ấm áp:

- Anh sẽ không cho em chạy thoát khoỉ tay anh đâu, dù em có tìm cách bỏ trốn anh cũng sẽ bắt em về , dù cho thế nào đi nữa anh cũng không bỏ em.

Hậu siết chặt vòng tay ôm Hỷ, duị mặt vào lưng Hỷ giọt lệ nóng  từ khoé mắt thấm qua làn áo Hỷ. Hỷ cảm nhận được và anh noí tiếp:

- Bây giờ mình sẽ nhận một bé mồ côi về nuôi dưỡng, sau này dư dả hơn anh muốn nhận thêm sao cho đủ một đội banh. Lúc đó em tha hồ mà chăm sóc!

Hậu đấm lưng Hỷ:

- Trời! mười một cầu thủ cộng anh nữa là thành mười hai sứ quân, chắc “ chiến tranh” trong nhà sẽ liên miên đây!

Cả hai cùng cười to trên đường về chiều lộng gió.

 

Đồng Thiện

Đồ Bàn thành, 2018 

Gửi ý kiến của bạn
Vui lòng nhập tiếng Việt có dấu. Cách gõ tiếng Việt có dấu ==> https://youtu.be/ngEjjyOByH4
Tên của bạn
Email của bạn
)
Lực lượng “ăn cháo đá bát” rất đông và lan nhanh như bệnh dịch, nhưng chưa bao giờ được công khai cho dân biết để dân bàn, dân kiểm tra. Ngược lại, dân lại là nạn nhân của đám ong nuôi trong tay áo từ bao năm nay. Chúng nằm trong ngành Tuyên giáo, trước đây gọi là Ban Tư tưởng-Văn hóa Trung ương và Ban Khoa giáo Trung ương. Sau lưng đảng còn có đội ngũ chuyên nghề nói thuê và viết mướn gồm Báo cáo viên và Dư luận viên được trả lương bằng tiền thuế của dân.
Vào sáng ngày 1 tháng 5-1975 Trung tá bác sĩ Hoàng Như Tùng, nguyên chỉ huy trưởng Quân Y viện Phan Thanh Giản - Cần Thơ, mặc đồ dân sự, trong tư thế quân phong, đưa tay lên chào vĩnh biêt Tướng Nguyễn Khoa Nam, Tư lênh Quân Đoàn IV, Quân Khu IV, Vùng 4 Chiến Thuật, trước sự kinh ngạc của một nhóm sĩ quan cấp cao của bộ đội cộng sản vì sự dũng cảm của bác sĩ Trung Tá Hoàng Như Tùng. Một sĩ quan của bộ đội cộng sản mang quân hàm thiếu tá tiến đến và yêu cầu bác sĩ Hoàng Như Tùng nhận diện Tướng Nguyễn Khoa Nam.
Sách này sẽ được ghi theo hình thức biên niên sử, về các sự kiện từ ngày 8/5/1963 cho tới vài ngày sau cuộc chính biến 1/11/1963, nhìn từ phía chính phủ Hoa Kỳ. Phần lược sử viết theo nhiều tài liệu, trong đó phần chính là dựa vào tài liệu Bộ Ngoại Giao Hoa Kỳ “Foreign Relations of the United States 1961-1963”, một số tài liệu CIA lưu giữ ở Bộ Ngoại Giao, và một phần trong sách “The Pentagon Papers” của Bộ Quốc Phòng Hoa Kỳ, ấn bản Gravel Edition (Boston: Beacon Press, 1971). Vì giờ tại Việt Nam và Hoa Kỳ cách biệt nhau, cho nên đôi khi ghi ngày sai biệt nhau một ngày.
Tôi là anh trưởng trong gia đình, với 9 đứa em cả trai lẫn gái, nên trách nhiệm thật khó khăn, từ nhân cách cho đến cuộc sống. Nhưng may mắn tôi gặp được những người anh ngoài xã hội để noi gương và học hỏi. Một trong số những nhân vật hiếm hoi đó, chính là anh Nguyễn Văn Tánh, người mà tôi đã có cơ hội được tiếp tay hỗ trợ và đồng hành cùng anh trong suốt 20 cuộc Diễn Hành Văn Hóa Quốc Tế Liên Hiệp Quốc tại thành phố New York từ 20 năm qua.
Tôi tha phương cầu thực gần như trọn kiếp (và may mắn lạc bước đến những nơi không thiếu bơ thừa sữa cặn) nên bất ngờ nhìn thấy mảnh đời cùng quẫn thì không khỏi chạnh lòng. Nghe tiếng mời chào khẩn thiết, nhìn những khuôn mặt khẩn cầu của đồng bào mình mà muốn ứa nước mắt.
Các định kiến tai hại đối với các phụ nữ Á Châu trong văn hóa đại chúng của Mỹ đã có từ ít nhất thế kỷ thứ 19. Từ đó, các nhà truyền giáo và binh sĩ Mỹ tại Á Châu đã xem phụ nữ mà họ gặp đó như là ngoại lai và dễ tùng phục. Các định kiến này đã ảnh hưởng luật di trú đầu tiên của Hoa Kỳ dựa vào chủng tộc, Đạo Luật 1875 Page Act, ngăn cản các phụ nữ Trung Quốc vào Hoa Kỳ. Giả thuyết chính thức là rằng, ngoại trừ được chứng minh ngược lại, các phụ nữ TQ tìm cách vào Hoa Kỳ đã thiếu tư cách đạo đức và là những gái mại dâm. Trên thực tế, nhiều người là vợ tìm cách đoàn tụ với những ông chồng là những người đã đến Hoa Kỳ trước đó. Khoảng cùng thời gian đó, các phụ nữ TQ tại San Francisco cũng bị làm dê tế thần bởi các viên chức y tế địa phương là những người sợ rằng họ sẽ lây truyền các bịnh lây lan qua đường tình dục cho các đàn ông da trắng, là những người sau đó sẽ lây lan cho các bà vợ của họ. Vào giữa thế kỷ 20, các căn cứ chiến tranh và quân sự của Hoa Kỳ tại TQ, Nhật, Phi Luật Tân,
Nguyễn Khoa Điềm, Nguyễn Bá Thanh, Nguyễn Thiện Nhân, Nguyễn Hòa Bình, Nguyễn Xuân Phúc … quả đúng là những kẻ thuộc giới ăn trên ngồi trốc. Họ là những hạt giống đỏ được gieo trồng từ miền Bắc, và đã ươm mầm thành cây. Loại cây này, học giả Phan Khôi gọi một cách lịch sự là cây Cộng Sản. Còn dân gian thì gọi là cây cứt lợn!
Nếu đảng đủ can đảm và ông Tổng Bí thư, Chủ tịch nước Nguyễn Phú Trọng còn đủ bản lĩnh của một Lãnh đạo gương mẫu trong công tác phòng, chống tham nhũng thì hãy công khai cho dân biết Tổ chức Thanh niên của đảng đã làm được những gì cho dân cho nước trong 90 năm qua. Hay ngót 7 triệu Đoàn viên TNCS chẳng làm được trò trống gì, ngoải vai trò tay sai đã tuyệt đối trung thành với đảng và với chủ nghĩa Mác-Lênin và tư tưởng Cộng sản Hồ Chí Minh?
Adam Smith và Karl Marx cùng được gọi chung là kinh tế cổ điển (classical economy) tức là lao động (labour) tạo ra giá trị (value.) Khác ở chổ Smith quan niệm thị trường tự do giúp mọi người hưởng thụ giá trị lao động còn Karl Marx lên án giá trị lao động của công nhân bị tư bản bóc lột. Vào đầu thế kỷ thứ 20 xuất hiện một cách nhìn mới là giá trị (value) do nơi tiện ích (utility) thay vì từ lao động (labour). Thí dụ một người đang khát uống ly nước đầu thì thật ngon, ly thứ nhì vừa vừa còn ly thứ ba đầy bụng nuốt không vô, tức là giá trị của mỗi ly nước giảm khi nhu cầu tiện ích hạ thấp. Quan điểm này gọi là Giá Trị Biên Tế hay Marginal Value.
Cùng với tác phẩm của Dương Thu Hương-"Những Thiên Đường Mù", Trần Mạnh Hão-"Ly Thân", Bảo Ninh-"Nỗi buồn Chiến tranh", Phạm Thị Hoài-"Thiên sứ", "Tướng về hưu"của Nguyễn Huy Thiệp đã tạo nên dòng văn học phản kháng.
NHẬN TIN QUA EMAIL
Vui lòng nhập địa chỉ email muốn nhận.