Hôm nay,  

CSCĐ sợ gì?

10/06/201816:50:00(Xem: 10306)
CSCĐ sợ gì?
 
Vũ Thạch

 

Bài này không nhằm cổ võ bạo động nhưng để bà con chúng ta biết Cảnh Sát Cơ Động (CSCĐ) có những chỗ yếu nhược nhất định. Họ không phải là bức tường hoàn toàn kiên cố để trấn áp biểu tình như những kẻ cầm quyền độc tài tô vẽ.

 

Sau đây là một số điểm tóm tắt rút từ những lời chia sẻ của một số CSCĐ từng phục vụ trong các chế độ cựu độc tài trên thế giới. Những cựu CSCĐ này đã xin lỗi người dân, chấp nhận các hình phạt, và nay chia sẻ lại các nỗi sợ của họ trong những ngày tháng đối đầu với nhân dân biểu tình.

 

1. Chó nghiệp vụ vô dụng trước một số đông quá lớn:

Công dụng chính của chó nghiệp vụ là dùng mũi đánh hơi ra được các đồ vật dấu kín hoặc các con người đang ẩn nấp. Chúng cũng có công dụng tấn công một vài cá nhân riêng lẻ đang bỏ chạy hay có vũ khí cầm tay. Còn đối diện với một số đông dân chúng quá lớn, chó nghiệp vụ hoàn toàn vô dụng vì những lý do sau đây:

  1. Con chó thấp nên có thể bị xịt đủ loại thuốc, từ keo xịt tóc đến thuốc xịt muỗi, thuốc sát trùng, ... Mũi chó rất khốn khổ vì các bình xịt đơn giản đó. Thân chó thường cũng không có gì bảo vệ nên dễ bị thương vì gạch đá ném tới.
  2. Kẻ giữ chó cũng ít khả năng tự bảo vệ hơn đồng đội. Vì một hoặc cả hai tay phải kềm chó, tên này vừa không có lá chắn, vừa không còn tay để đỡ gạt các đồ vật bay tới.
  3. Tên giữ chó cũng không dám thả chó xông vào cắn người vì chó vừa rời khỏi tay thì kẻ giữ chó không còn lý do gì khiến người biểu tình ngần ngại xông vào "làm thịt" hắn ta.
  4. Và khi số đông biểu tình xông lên quá gần, cảnh "bỏ chó chạy lấy người" khá phổ biến.

Tóm lại khi số đông dân chúng đủ lớn, những CSCĐ với chó nghiệp vụ, nhìn thì có vẻ hung hãn, nhưng lại là những chỗ hở và yếu nhất.

 

2. Tấm khiên bị che phủ là mù:

Mỗi CSCĐ được huấn luyện để dựa rất nhiều vào tấm khiên (hay lá chắn). Mỗi tấm có thể dùng làm vật che chắn, làm vũ khí phang đập, làm bức tường đẩy lùi đám đông, hay ngay cả làm cáng tải thương.  Nhưng chỗ nhược của mỗi tấm chắn là chỉ cần bị che khuất 1/3 phía trên là người cầm nó trở nên ... mù và dễ mất tinh thần giữa cảnh hỗn loạn.

Vật liệu để che khuất 1/3 phía trên tấm khiên rất đơn giản. Đó là một ít sơn, một ít nhựa đường (hắc ín), hay ngay cả mắm tôm (đặc sản Á Châu) đựng trong 1 bao nhựa mỏng dễ ném và dễ vỡ. Với các vật liệu này càng lấy tay gạt xóa sẽ càng trải rộng nó ra trên tấm khiên.

Thế giới nói chung không xem những túi sơn nho nhỏ này là vũ khí bạo động. Nó không khác gì ném trứng. 

 

3. Rất ngán vật nặng rơi từ trên xuống:

Tại hiện trường, CSCĐ dễ thấy rõ vật gì đang bay ngang tới để hoặc ngăn lại bằng tấm khiên (nếu nhẹ) hoặc nhảy tránh qua bên (nếu nặng). Nhưng những vật rơi từ trên xuống thì họ thường không thấy cho đến khi chúng đụng tới mũ sắt. Nghĩa là nếu đó là vật nặng thì đã quá trễ ... cho cần cổ.

Chiếc mũ sắt, có khi đi kèm với miếng nhựa dày bảo vệ gáy khiến họ rất khó ngẩng đầu nhìn lên. Nếu mặc áo giáp bó thân trên và hạ bộ, họ càng khó ngửa người lên xem. Vì vậy để nhìn lên họ thường phải cong cả 2 đầu gối để nghiêng hẳn 3/4 người về phía sau.

Trong lúc phải đứng tấn trong tư thế đối phó với tình hình trước mặt, họ không thể ngã 3/4 người về phía sau được và do đó luôn trong tình trạng phập phồng lo lắng về những thứ sắp rơi từ trên xuống.

Đó là lý do tại sao các vật bay vào CSCĐ hay xuất phát từ các nhà cao tầng hay được ném cầu vồng.

 

4. Rất sợ bị bỏ rơi lại phía sau:

Nỗi lo thường xuyên của mỗi CSCĐ là bị bỏ lại phía sau khi đồng đội rút lui mà không biết vì không nghe được lệnh rút giữa quá nhiều tiếng động và hỗn loạn.

Cũng có những trường hợp nội bộ CSCĐ trả thù nhau bằng cách hô xung phong cho cả đội lao vào đám đông dân chúng rồi hè nhau rút đi, cố tình không vỗ vai ra hiệu cho 1, 2 đồng đội. Thế là có cậu mải miết đánh người biểu tình đến khi nhìn lại thì chỉ còn ... ta với ta.

Do đó khi có lệnh hô xung phong, đa số CSCĐ chỉ làm vừa đủ để cấp trên đứng từ xa quan sát không trừng phạt họ sau đó. Họ luôn trong tư thế sẵn sàng chạy lập tức khi được lệnh, kể cả "bỏ bạn chạy lấy người".

Đây là tâm lý của CSCĐ mà người biểu tình rất cần biết.

 

5. Sợ nhất là vấp ngã:

Chính từ nỗi sợ bị bỏ lại phía sau mà mỗi CSCĐ rất sợ vấp ngã. Với mớ mũ sắt, lá chắn, áo giáp, miếng che đùi, miếng che đầu gối, miếng che ống khuyển, giày nặng bảo vệ chân, và một mớ dụng cụ lỉnh kỉnh khác, đứng trở dậy sau khi ngã là việc khá khó khăn và chậm chạp.

Thực tế cho thấy CSCĐ lo đối phó với tình huống chung quanh nên ít nhìn xuống chân khi chạy. Và trong suốt khoảng thời gian từ chạm đất đến đứng dậy đó, họ cũng không thấy được toàn cảnh chung quanh để biết ai đang nhào tới và vì thế càng sợ, càng cuống.

Tại một số nơi người biểu tình có khi căng dây thấp bất ngờ hoặc ném dầu nhớt trơn trượt ra đường rút của CSCĐ.

 

Kết luận: Chúng ta không chủ trương bạo động nhưng rất cần biết và quảng bá CSCĐ SỢ GÌ để từng bước giúp nhau tiến dần đến lằn mức SỢ GÌ CSCĐ!

 

GHI CHÚ CỦA VIỆT BÁO:

Bài viết trên của tác giả Vũ Thạch có thể giúp người dân hiểu rõ  phản ứng của Cảnh sát Cơ động, đặc biệt là trong trường hợp CSCĐ đàn áp dân ở Bình Thuận (xem trên YouTube). 

 

Gửi ý kiến của bạn
Vui lòng nhập tiếng Việt có dấu. Cách gõ tiếng Việt có dấu ==> https://youtu.be/ngEjjyOByH4
Tên của bạn
Email của bạn
)
Giáo hội xin tán thán tinh thần hộ đạo và tu đạo của quí Thiện nam Tín nữ trong hoàn cảnh tai ương đầy kinh hãi hiện nay. Tất cả năng lực và công đức lớn lao này của người đệ tử, chúng con xin dâng lên cúng dường đức Thế Tôn trong ngày Đản sinh. Hàng trăm ngàn trái tim, hàng vạn ngàn bàn tay siết chặt giữa những thương đau tràn ngập của nhân loại, chúng con nguyện quán chiếu thật sâu sự khổ nạn hiện nay để kiên nhẫn mà vượt qua.
Có lẽ cả Trung Cộng lẫn Hoa Kỳ đều không mong muốn việc khơi mào cho một cuộc xung đột vũ trang, nhưng trước thái độ xác quyết của tổng thống Joe Biden, Trung Cộng hiểu rằng họ đang đối đầu với một đối thủ nguy hiểm gấp bội lần so với những năm qua.
Với chế độ độc đảng toàn trị hiện hành, với bộ máy tam trùng hiện tại, với văn hoá tham nhũng hiện nay, và với chủ trương cấm tự do báo chí cố hữu … thì chuyện sống được bằng lương mãi mãi chỉ là một kỳ vọng xa vời. Vô phương thực hiện!
Hội nghị Paris là một quá trình đàm phán giữa Hoa Kỳ và Bắc Việt kể từ ngày 13 tháng 5 năm 1968, sau ngày 25 tháng 1 năm 1969 có thêm Việt Nam Cộng Hòa (VNCH) và Mặt trận Dân tộc Giải phóng Miền Nam (MTGPMN) tham gia. Ngoài 202 phiên họp chính thức của bốn bên, còn có thêm 24 cuộc mật đàm khác giữa Henry Kissinger và Lê Đức Thọ, Xuân Thủy. Cuối cùng, hội nghị kết thúc sau bốn năm chín tháng và bốn bên chính thức ký kết Hiệp định Paris để chấm dứt chiến tranh và lập lại hòa bình ở Việt Nam vào ngày 27 tháng 1 năm 1973.
Ngày 30 tháng Tư năm 1975 khép lại trang sử Việt của hai lực lượng dân tộc đối đầu nhau trong thế tương tranh quốc tế giữa tư bản và cộng sản. Thế tương tranh này kéo dài từ tranh chấp giữa hai triết thuyết xuất phát từ phương Tây – Duy Tâm và Duy Vật, đã làm nước ta tan nát. Việt Nam trở thành lò lửa kinh hoàng, anh em một bọc chém giết nhau trong thế cuộc đảo điên cạnh tranh quốc tế.
Galang là tên một đảo nhỏ thuộc tỉnh Riau của Indonesia đã được chính phủ nước này cho Cao ủy Tị nạn Liên Hiệp quốc sử dụng trong nhiều năm để người tị nạn Đông Dương tạm trú, trong khi chờ đợi được định cư ở một nước thứ ba. Trong vòng 17 năm, kể từ khi mở ra năm 1979 cho đến lúc đóng cửa vào năm 1996, Galang đã là nơi dừng chân của hơn 200 nghìn người tị nạn, hầu hết là thuyền nhân vượt biển từ Việt Nam và một số người Cam Bốt.
Hình ảnh thay cho ngàn lời nói, ghi nhận rõ "sự hấp hối" của chế độ Việt Nam Cộng Hòa, ghi lại cảnh hỗn loạn, sự hoảng hốt, nỗi lo sợ của dân chúng lũ lượt rời nơi đang sinh sống, đã bỏ nhà cửa trốn chạy trước khi VC tràn vào thành phố
Chúng ta liệu có thể đóng vai trò giúp đỡ những người nhập cư và tị nạn trong tương lai như là người Mỹ đã từng làm cho chúng ta không? Theo lời của Emma Lazarus, liệu chúng ta có nâng “... ngọn đèn bên cạnh cánh cửa vàng” cho “... kẻ bão táp, người vô gia cư ... người mệt mỏi, người nghèo khổ” không? Đối với chúng tôi, trong ngày 30 tháng 4 này, không có câu hỏi nào có ý nghĩa và tính quan trọng hơn câu hỏi này.
Khách đến Việt Nam ngày nay thấy nhiều nhà cao cửa rộng, xe chạy chật đường hơn xưa. Nhưng đa số người Việt Nam có vẻ không có cái nhu cầu dân chủ của người Myanmar hay người Hồng Kông. Hay là họ có, nhưng 20 năm chiến tranh đã làm họ mệt mỏi, xuôi xị chấp nhận chút đầy đủ vật chất, nhắm mắt với tương lai? Và Đảng Cộng sản Việt Nam có thể hy vọng người Việt sẽ ngoan ngoãn như người dân Bắc Hàn, không cần dự phần tự quyết cho tương lai của mình và con cháu mình?
Ngày 30/4 năm thứ 46 sau 1975 đặt ra câu hỏi: Còn bao nhiêu năm nữa thì người Việt Nam ở hai đầu chiến tuyến trong chiến tranh mới “hòa giải, hòa hợp” được với nhau để thành “Một Người Việt Nam”? Hỏi chơi vậy thôi chứ cứ như tình hình bây giờ thì còn mút mùa lệ thủy. Nhưng tại sao?
NHẬN TIN QUA EMAIL
Vui lòng nhập địa chỉ email muốn nhận.