Hôm nay,  

Về Bến

12/03/201300:00:00(Xem: 12939)
Hôm nay Thứ năm 7-3-2013.Tại nhà hàng Paracel ở Nam California, có một cuộc gặp mặt thân mật giữa các cựu Hải Quân VNCH nhân cựu Tư Lệnh Hạm Đội, Hải Quân VNCH là HQ Đại Tá Nguyễn Xuân Sơn(1973-1975)từ Florida qua Nam California. Dự buổi gặp mặt ngày hôm nay có sự tham dự của cựu Phó Đề Đốc Vũ Đình Đào và cựu HQ Đại Tá Phạm Mạnh Khuê cùng các cựu Hải Quân từng quen biết và làm việc với NT Sơn.

Đầu tiên chiến hữu Lưu Thanh Vương đến tặng NT Đào, NT Sơn, NT Khuê mỗi người một cuốn ambum ảnh nghệ thuật “My Homelands” do anh thực hiện với nhiều hình ảnh quê hương Việt Nam và quê hương thứ hai Hoa Kỳ.

Xin nhắc lại,Hạm Đội HQ/VNCH gồm 3 Hải Đội. Hải Đội1 Tuần duyên (gồm các loại chiến hạm PGM, LSIL, LSSL), Hải Đội 2 Chuyến vận(gồm các loại chiến hạm LST,LSM LCU, YOG), Hải Đội 3 Tuần dương (gồm các loại chiến hạm PCE, WHEC, DER).Các chiến hạm Hạm Đội được biệt phái hoạt động khắp bốn vùng chiến thuật từ Vĩ tuyến 17 đến Phú Quốc,bao gồm cả hai quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa. Trước NT Sơn làm Tư Lệnh Hạm Đội là Phó Đề Đốc Nguyễn Thanh Châu. Những ngày cuối cùng cuộc chiến HQ Đại Tá Phạm Mạnh Khuê được bổ nhiệm thay thế NT Sơn.Trong cuộc họp mặt nầy có khoảng 40 cựu chiến hữu Hải Quân tham dự trong đó có nhiều cựu Hạm Trưởng của các chiến hạm LSM, LST, PCE, WHEC…

Trước khi dùng cơm trưa, tất cả ra trước nhà hàng Paracel mà nay gọi là nhà hàng Hoàng Sa để chụp một tấm hình lưu niệm.Chụp hình xong vào bàn ăn, NT Tôn Thât Đôn trưởng ban tổ chức cho biết đây là buổi gặp mặt thân mật, tình chiến hữu nay thành tình bạn già cho nên ai muốn hỏi gì NT Sơn cứ hỏi. NT Sơn vui nhộn như ngày nào, ông nhìn quanh mình với bao khuôn mặt quen thân,những cái ôm, những cái bắt tay với bao tiếng cười, nói rộn rã.Trước hết NT Sơn vui cười phát biểu: “Hôm nay tôi vô cùng vui sướng gặp lại các bạn ở đây.Trong thời gian làm việc với tôi, nếu tôi có điều gì làm các bạn không bằng lòng thi đây là dịp cho tôi được xin được nói lời giải thích.”.
ve_ben_hai_quan_hoi_ngo
Hình của nhiếp ảnh gia Lưu Thanh Vương.
Người đầu tiên hỏi NT Sơn là chiến hữu Trương Văn Song, Hội Trưởng Hội Hải Quân Cửu Long hỏi lý do NT Sơn bị cách chức Tư Lệnh Hạm Đội vào những ngày cuối tháng tư năm 1975. Theo lời của NT Sơn thì: “Vào tháng 3 năm 1975, tình hình chiến sự tại Quân khu I rất sôi động. HQVN có rất nhiều chiến hạm hoạt dộng tăng phái cho BTL/HQ V I ZH. NT Sơn thân hành di chuyển ra Đà Nẵng để trực tiếp yểm trợ cho Đô Đốc Thoại, TL/HQVIZH. Trong dịp nầy có một giai thoại đáng ghi nhớ là NT Sơn có đi trực thăng cùng với Thiếu tướng Nguyễn Văn Điềm Tư Lệnh Sư Đoàn 1 Bộ Binh ra vùng biển Thuận An để điều hành cuộc triệt thối của Sư Đoàn I/BB bằng đường biển. Trong lúc bay trong khu vực cửa Thuận, trực thăng bị địch bắn trúng thùng xăng. Xăng chảy ra rất nhiều. Trực thăng buộc phải đáp khẩn cấp xuống bải cát ngoài xa. Cơ may nhờ có một trực thăng khác bay qua tiếp cứu NT Sơn và Thiếu Tướng Điềm cùng phi hành đoàn đưa về Đà Nẵng. NT Sơn nói tiếp:”Trong suốt thời gian yểm trợ triệt thối hai Quân Đoàn I và Quân Đoàn I I vào trong Nam, tôi đã chứng kiến nhửng cảnh hổn độn của các đơn vị bạn trên đường triệt thối mà nhiều tác giả đã mô tả đầy đủ. Cuối tháng 3, 1975 khi về Bộ Tư Lệnh Hạm Đôi, tôi hội họp với các vị Chỉ Huy Trưởng các Hải Đội và các vị Hạm trưởng hiện diện tại Saigon để bàn thảo về việc nâng cao tình trạng sẵn sàng của các chiến hạm Hạm Đội phòng những chuyện bất trắc của thời cuộc và phòng những tai biến tương tợ như những gì mà các đơn vị bạn đã trải qua trên đường triệt thối. Đặc biệt các quý vị làm việc với tôi rất chú trọng đến vấn đề gìn giữ tinh thần của các cấp điều hành chiến hạm. Vì sự chú trọng đặc biệt đó nên tôi có quyết định cho phép gia đình nhân viên chiến hạm được theo chiến hạm công tác. Trong lúc đôn đốc để nâng mức sẵn sàng của các chiến hạm được đến điểm cao nhất vào những ngày cuối tháng 4, 1975 thì bất ngờ tôi nhận được lệnh bàn giao chức vụ Tư Lệnh Hạm Đội cho HQ Đại Tá Phạm Mạnh Khuê. Lúc bấy giờ, tôi không biết rõ lý do thuyên chuyển vì tôi không được TL/HQ nói với tôi lời nào. Chỉ có một công điện thượng khẩn với một chỉ thị độc nhất là bàn giao cấp tốc. Có nhiều dư luận bàn ra tán vào. Sau nầy, vài năm sau khi đã di tản, tôi mới biết lý do thuyên chuyển là sự xung khắc giữa ý định của tôi muốn đem Hạm Đội ra biển và ý định của TL/HQ muốn đem chiến hạm về miền Tây. Việc tôi cho phép nhân viên chiến hạm được đem theo gia đình trên chiến hạm chỉ là “giọt nước làm tràn ly nước”. Phải nói là tôi rất hài lòng về cuộc hành trình cuối cùng của Hạm Đội HQVN.”


Các thủy thủ già có mặt hôm nay như những cánh chim hải âu bay lượn khắp bốn phương trời nay mỏi cánh tụ họp về đây để nghe lại tiếng hót của những con chim già đầu đàn, kể cho nhau nghe những hình ảnh xa xưa của một thời sông biển.Có chiến hữu ở xa như Đào Trung Phú ở San Diego, NT Huỳnh Duy Thiệp ở Riveside cũng lên gặp NT Sơn. NT Lê Tấn Đạt (sĩ quan cơ khí) và chiến hữu Lý Văn Hải (vận chuyển) kể lại những kỷ niệm với NT Sơn khi lảnh Hộ Tống Hạm Kỳ Hòa (HQ 09) ở Hoa Kỳ năm 1961.Lính biển thì có nhiều chuyện tiếu lâm lắm!

Buổi găp mặt không có MC,không có micro nhưng đầy tiếng cười.Mọi người nhiệt tình đến với NT Sơn như để xã hết nổi lòng sau bao năm tháng chưa được hàn huyên,chưa được chia xẻ những vui buồn trong cuộc sống. Vì ai cũng ý thức rằng nay mai cũng phải vĩnh viễn về bến nghỉ dù dưới lòng đất, trên không hay biến cả.

Những thủy thủ già từng ngang dọc đó đây nay tìm kiếm nhau để nói chuyện và chụp hình trong lúc các bà đi theo ngồi im lặng để lắng nghe môt thời vàng son của chồng mình.Những lần gặp nhau đều là những lần diễm phúc cho mỗi người.Trừ những chiến hữu dưới 70 tuổi, chắc sẽ còn nhiều lần gặp nhau, nhiều lần vui nữa.Nhưng các chiến hữu trên 70 hay 80 tuối thì lần gặp mặt nào cũng là lần gặp mặt cuối.Và mỗi người lại chuẩn bị cho mình ngày về bến dù ngày đó không ai biết trước lúc nào.

Cuộc gặp mặt kéo dài gần 3 giờ và chia tay trong tình lưu luyến.Từ ngày xa quê hương cho đến nay đã gần 40 năm, nhưng trí nhớ của những thủy thủ già Việt Nam vẫn chưa phai mờ. Lòng ước mơ một quê hương Việt Nam thanh bình, dân chủ và tự do vẫn bùng cháy hơn bao giờ hết.Với niềm cảm xúc đó,tôi đã làm bài thơ “Về Bến”:

Con tầu rời khỏi bến
Ngẩn ngơ một dòng sông
Sài Gòn bao nghiệt ngã
Ngàn cây cùng muốn khóc
Đoàn tàu đi trong tối
Nhẹ lướt qua Nhà Bè
Gầm gừ trong Rừng Sát
Gối sóng ra Cần Giờ
Ngọn Hải Đăng chờ đón
Đàn hải âu lượn quanh
Bờ cát dài thổn thức
Quê hương gọn vòng tay
Bao năm cùng biển cả
Chưa hết mộng hải hồ
Bân khuâng tình dâu bể
Mòn mỏi bước tha phương
Quê hương cuồn cuộn sóng
Người thủy thủ già còn đây
Bao bóng hình nơi ấy
Khúc tình ca vươn đầy
Gào lên thành bão táp
Cho Việt Nam bừng sáng ngày mai
Để đoàn tàu về bến
Như một dòng sông
Tìm về với biển
Tam Giang Hoàng Đình Bảu

Gửi ý kiến của bạn
Vui lòng nhập tiếng Việt có dấu. Cách gõ tiếng Việt có dấu ==> https://youtu.be/ngEjjyOByH4
Tên của bạn
Email của bạn
)
Trước hiện trạng kỳ thị, không chỉ bạo hành bằng lời nói, mà còn tấn công hung bạo và bắn giết khiến nhiều người đã thiệt mạng hoặc bị thương tích nặng, các chuyên gia và các nhà hoạt động đã đưa ra một số biện pháp để chống trả vấn nạn này và giúp các thành viên trong cộng đồng tự bảo vệ
Lực lượng “ăn cháo đá bát” rất đông và lan nhanh như bệnh dịch, nhưng chưa bao giờ được công khai cho dân biết để dân bàn, dân kiểm tra. Ngược lại, dân lại là nạn nhân của đám ong nuôi trong tay áo từ bao năm nay. Chúng nằm trong ngành Tuyên giáo, trước đây gọi là Ban Tư tưởng-Văn hóa Trung ương và Ban Khoa giáo Trung ương. Sau lưng đảng còn có đội ngũ chuyên nghề nói thuê và viết mướn gồm Báo cáo viên và Dư luận viên được trả lương bằng tiền thuế của dân.
Vào sáng ngày 1 tháng 5-1975 Trung tá bác sĩ Hoàng Như Tùng, nguyên chỉ huy trưởng Quân Y viện Phan Thanh Giản - Cần Thơ, mặc đồ dân sự, trong tư thế quân phong, đưa tay lên chào vĩnh biêt Tướng Nguyễn Khoa Nam, Tư lênh Quân Đoàn IV, Quân Khu IV, Vùng 4 Chiến Thuật, trước sự kinh ngạc của một nhóm sĩ quan cấp cao của bộ đội cộng sản vì sự dũng cảm của bác sĩ Trung Tá Hoàng Như Tùng. Một sĩ quan của bộ đội cộng sản mang quân hàm thiếu tá tiến đến và yêu cầu bác sĩ Hoàng Như Tùng nhận diện Tướng Nguyễn Khoa Nam.
Sách này sẽ được ghi theo hình thức biên niên sử, về các sự kiện từ ngày 8/5/1963 cho tới vài ngày sau cuộc chính biến 1/11/1963, nhìn từ phía chính phủ Hoa Kỳ. Phần lược sử viết theo nhiều tài liệu, trong đó phần chính là dựa vào tài liệu Bộ Ngoại Giao Hoa Kỳ “Foreign Relations of the United States 1961-1963”, một số tài liệu CIA lưu giữ ở Bộ Ngoại Giao, và một phần trong sách “The Pentagon Papers” của Bộ Quốc Phòng Hoa Kỳ, ấn bản Gravel Edition (Boston: Beacon Press, 1971). Vì giờ tại Việt Nam và Hoa Kỳ cách biệt nhau, cho nên đôi khi ghi ngày sai biệt nhau một ngày.
Tôi là anh trưởng trong gia đình, với 9 đứa em cả trai lẫn gái, nên trách nhiệm thật khó khăn, từ nhân cách cho đến cuộc sống. Nhưng may mắn tôi gặp được những người anh ngoài xã hội để noi gương và học hỏi. Một trong số những nhân vật hiếm hoi đó, chính là anh Nguyễn Văn Tánh, người mà tôi đã có cơ hội được tiếp tay hỗ trợ và đồng hành cùng anh trong suốt 20 cuộc Diễn Hành Văn Hóa Quốc Tế Liên Hiệp Quốc tại thành phố New York từ 20 năm qua.
Tôi tha phương cầu thực gần như trọn kiếp (và may mắn lạc bước đến những nơi không thiếu bơ thừa sữa cặn) nên bất ngờ nhìn thấy mảnh đời cùng quẫn thì không khỏi chạnh lòng. Nghe tiếng mời chào khẩn thiết, nhìn những khuôn mặt khẩn cầu của đồng bào mình mà muốn ứa nước mắt.
Các định kiến tai hại đối với các phụ nữ Á Châu trong văn hóa đại chúng của Mỹ đã có từ ít nhất thế kỷ thứ 19. Từ đó, các nhà truyền giáo và binh sĩ Mỹ tại Á Châu đã xem phụ nữ mà họ gặp đó như là ngoại lai và dễ tùng phục. Các định kiến này đã ảnh hưởng luật di trú đầu tiên của Hoa Kỳ dựa vào chủng tộc, Đạo Luật 1875 Page Act, ngăn cản các phụ nữ Trung Quốc vào Hoa Kỳ. Giả thuyết chính thức là rằng, ngoại trừ được chứng minh ngược lại, các phụ nữ TQ tìm cách vào Hoa Kỳ đã thiếu tư cách đạo đức và là những gái mại dâm. Trên thực tế, nhiều người là vợ tìm cách đoàn tụ với những ông chồng là những người đã đến Hoa Kỳ trước đó. Khoảng cùng thời gian đó, các phụ nữ TQ tại San Francisco cũng bị làm dê tế thần bởi các viên chức y tế địa phương là những người sợ rằng họ sẽ lây truyền các bịnh lây lan qua đường tình dục cho các đàn ông da trắng, là những người sau đó sẽ lây lan cho các bà vợ của họ. Vào giữa thế kỷ 20, các căn cứ chiến tranh và quân sự của Hoa Kỳ tại TQ, Nhật, Phi Luật Tân,
Nguyễn Khoa Điềm, Nguyễn Bá Thanh, Nguyễn Thiện Nhân, Nguyễn Hòa Bình, Nguyễn Xuân Phúc … quả đúng là những kẻ thuộc giới ăn trên ngồi trốc. Họ là những hạt giống đỏ được gieo trồng từ miền Bắc, và đã ươm mầm thành cây. Loại cây này, học giả Phan Khôi gọi một cách lịch sự là cây Cộng Sản. Còn dân gian thì gọi là cây cứt lợn!
Nếu đảng đủ can đảm và ông Tổng Bí thư, Chủ tịch nước Nguyễn Phú Trọng còn đủ bản lĩnh của một Lãnh đạo gương mẫu trong công tác phòng, chống tham nhũng thì hãy công khai cho dân biết Tổ chức Thanh niên của đảng đã làm được những gì cho dân cho nước trong 90 năm qua. Hay ngót 7 triệu Đoàn viên TNCS chẳng làm được trò trống gì, ngoải vai trò tay sai đã tuyệt đối trung thành với đảng và với chủ nghĩa Mác-Lênin và tư tưởng Cộng sản Hồ Chí Minh?
Adam Smith và Karl Marx cùng được gọi chung là kinh tế cổ điển (classical economy) tức là lao động (labour) tạo ra giá trị (value.) Khác ở chổ Smith quan niệm thị trường tự do giúp mọi người hưởng thụ giá trị lao động còn Karl Marx lên án giá trị lao động của công nhân bị tư bản bóc lột. Vào đầu thế kỷ thứ 20 xuất hiện một cách nhìn mới là giá trị (value) do nơi tiện ích (utility) thay vì từ lao động (labour). Thí dụ một người đang khát uống ly nước đầu thì thật ngon, ly thứ nhì vừa vừa còn ly thứ ba đầy bụng nuốt không vô, tức là giá trị của mỗi ly nước giảm khi nhu cầu tiện ích hạ thấp. Quan điểm này gọi là Giá Trị Biên Tế hay Marginal Value.
NHẬN TIN QUA EMAIL
Vui lòng nhập địa chỉ email muốn nhận.