Hôm nay,  

Đường Lên 'thiên Quốc'

01/11/200800:00:00(Xem: 6475)
Đường Lên 'Thiên Quốc'
Trần Hùng
Xin nói ngay rằng đã không có trường hợp "chuyển sang từ trần" nào cả trong thời gian qua. Ở đây chỉ ghi lại những chi tiết đáng lưu ý trong chuyến đi của thủ tướng CSVN Nguyễn Tấn Dũng đến Bắc Kinh tuần rồi, nơi xứ sở của những người tự xưng là "con trời".
Sau cùng thì ông Dũng cũng đã đi sứ sang Tầu, công việc mà lẽ ra ông ta đã phải làm ngay từ khi nhậm chức thủ tướng vào mùa hè năm 2006. Trong 2 năm vừa qua, ông đã đi nhiều nơi, Nhật, Mỹ, Âu.... và vừa rồi, đến Úc. Nhưng ông chưa một lần bệ kiến "Thiên triều". Điều này khiến có người cho rằng ông thuộc phe theo Mỹ, nên không hạp với Tầu. Cũng có ý kiến khác nói rằng ông không được sự tin tưởng của người anh lớn phương bắc, nên họ chưa chịu tiếp ông. Sau cùng thì cả 2 bên đều đồng ý thu xếp việc gặp gỡ này một cách thích hợp nhất: trong dịp tham dự hội nghị ASEM 7 tổ chức ở Bắc Kinh, ông Dũng sẽ đến sớm vài ngày để được những nhà lãnh đạo Trung cộng tiếp kiến. Như vậy, Bắc Kinh hài lòng vì không phải nâng hình ảnh của CSVN lên ngang tầm với mình, mà Hà Nội cũng hể hả vì với cái thế đàn em của mình, họ không thể mong đợi nhiều hơn.
Đường lên phiá Bắc bao giờ cũng gian nan, tuy nhiên trong chuyến đi này, ông Dũng còn được đôi niềm an ủi. Bởi vì, ở Tầu, ông được ra vào vào bằng cửa chính, không phải chui lòn cửa hậu như trong những cuộc công du khác. Ngoài niềm vui này ra, chuyến đi của ông chỉ còn là những nỗi nhọc nhằn.
Nhọc nhằn đầu tiên vì lộ trình gian nan. Ông Dũng không được bay thẳng đến Bắc Kinh mà phải "nhập cảnh" qua một cửa ải ở phiá Nam. Ngày 21-10, ông đến tỉnh Hải Nam để tham dự "Diễn Đàn Doanh Nghiệp Việt Nam - Trung Quốc". Tỉnh trưởng Hải Nam La Bảo Danh đã giới thiệu về tình hình xây dựng và phát triển của đặc khu kinh tế Hải Nam trong 20 năm qua. Tuy nhiên đây không phải là chủ đích chính. Việc buộc ông Dũng phải ghé qua Hải Nam trước khi đến Bắc Kinh nhằm giảm nhẹ hơn nữa tư thế của Nguyễn Tấn Dũng, đồng thời nhắc nhở ông Dũng 2 điều quan trọng:
- Thứ nhất, tỉnh Hải Nam có đơn vị hành chánh Tam Sa bao gồm 2 quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa, mà Quốc vụ viện Trung Hoa đã ban hành quyết nghị thành lập vào đầu tháng 12 -2007.
- Thứ hai, tỉnh Hải Nam còn có căn cứ hải quân bí mật Tam Á, là nơi đồn trú của các tầu ngầm thuộc hạm đội Nam Hải của Trung cộng. Hạm đội này có khả năng khống chế biển Đông, và theo một kế hoạch đã bị tiết lộ, thì đây là lực lượng chủ lực trên biển trong một cuộc tấn công Việt Nam khi cần thiết.
Ngay sau đó, Nguyễn Tấn Dũng đã chứng kiến "lễ ký kết thoả thuận hợp tác giữa chính quyền nhân dân tỉnh Hải Nam và Bộ Công Thương Việt Nam". Việc Trung cộng thực hiện lễ ký kết bất tương xứng về đẳng cấp như vậy, cho thấy họ vẫn luôn coi Việt Nam chỉ ngang hàng với một tỉnh, huyện của Trung cộng!. Đây là thói hành xử ngạo mạn quen thuộc của Trung cộng đối với CSVN, mà Hà Nội vì đã quen với thân phận "chư hầu" ăn sâu vào não trạng nên phải cúi đầu chấp nhận.
Đến Bắc Kinh, Nguyễn Tấn Dũng được gặp gỡ thủ tướng Trung cộng Ôn Gia Bảo và chủ tịch Hồ Cẩm Đào. Những nhà lãnh đạo Trung cộng trong dịp này đã buông ra những lời phát biểu đầy trịch thượng, được Tân Hoa Xã loan đi nhưng báo chí quốc doanh của Hà Nội không dám tường thuật một chữ nào, đại loại như: "Hai nước Trung - Việt phải nắm vững phương hướng đúng đắn phát triển quan hệ hai nước, tăng thêm sự tin cậy chiến lược", và rồi: "mối quan hệ phải theo phương thức sớm giải quyết những bất đồng giữa hai bên.... kịp thời trao đổi về vấn đề quan trọng trong quan hệ hai nước, xử lý ổn thoả vấn đề tồn tại trong quan hệ hai nước, hết sức giữ gìn đại cục hữu hảo Trung Việt"...
 Trước những lời huấn dụ của lãnh đạo Trung cộng, Nguyễn Tấn Dũng đã bầy tỏ tấm lòng quy phục của mình bằng cách nhắc lại 16 chữ vàng do Giang Trạch Dân đề ra xưa kia: "Láng giềng hữu nghị, Hợp tác toàn diện, Ổn định lâu dài, Hướng tới tương lai", cũng như "4 tốt" mà Hồ Cẩm Đào vừa thêm sau này: "Láng giềng tốt, Bạn bè tốt, Đồng chí tốt và Đối tác tốt."

Nói chung, thái độ đớn hèn của Hà Nội trước Trung cộng đã được thể hiện rõ nhất qua lời phát biểu của Nguyễn Tấn Dũng như sau: "Đảng, Chính phủ và nhân dân Việt Nam trước sau như một luôn hết sức coi trọng, chân thành mong muốn tăng cường quan hệ hữu nghị với Trung quốc và sẽ làm hết sức mình để vun đắp cho quan hệ giữa hai Đảng, hai nước ngày càng phát triển vững chắc". Vẫn là giọng điệu của cái thời nhận AK của Trung cộng để đem quân đi đánh miền Nam!.
Thông cáo chung sau đó cho biết, hai bên đã ký kết với nhau 8 văn kiện, trong đó có việc thành lập một đường giây điện thoại "nóng". Với phương tiện vừa thiết lập, lãnh đạo Trung Nam Hải sẽ nắm vững tình hình Việt Nam hơn, đồng thời sẽ ban hành mệnh lệnh trực tiếp và nhanh chóng hơn đến những "đối tác" tại Hà Nội. Những vấn đề khác được đề cập đến trong bản thông cáo chung liên quan đến việc "phát triển mối quan hệ láng giềng hợp tác hữu nghị", "tăng cường hợp tác kinh tế thương mại", "triển khai quan hệ đối tác hợp tác chiến lược toàn diện", "hoàn thành công tác phân giới trên bộ", "thực hiện tốt Hiệp định phân định Vịnh Bắc Bộ và Hiệp định hợp tác nghề cá Vịnh Bắc Bộ", "gìn giữ hòa bình ổn định ở Biển Đông"...
Nhưng đó chỉ là lớp sơn hào nhoáng bên ngoài. Thực tế là hoàn cảnh đau thương cho phiá Việt Nam.
Trước tiên là tình hình giao thương giữa 2 nước. Trung cộng là đối tác thương mại quan trọng của Việt Nam sau Hoa Kỳ. Trung cộng nhập 15%, so với Hoa Kỳ nhập 20% hàng hoá xuất cảng của Việt Nam. Tuy nhiên trong khi cán cân thương mại với Hoa Kỳ nghiêng về phiá Việt Nam, thì trong việc giao thương với Trung cộng, Việt Nam luôn bị thâm thủng nặng nề: năm 2006 là 3,8 tỷ đô la, năm 2007 lên đến 9 tỷ, và năm nay lên đến 13 tỷ đô la. Nếu gia tăng kim nghạch mậu dịch lên đến 25 tỷ đô la vào năm 2010 như Trung cộng vừa đòi hỏi, thì tất cả khối ngoại tệ dự trữ 20 tỷ đô la của Việt Nam chỉ vừa đủ để bù đắp cho khoản nhập siêu của Việt Nam. Ngoài ra chưa nói đến việc hàng lậu xâm nhập gây thiệt hại rất lớn cho Việt Nam về mặt thuế quan. Hay vấn đề phẩm chất độc hại của hàng hoá Trung cộng mà giới tiêu thụ Việt Nam phải gánh chịu.
Về vấn đề đất đai, lãnh hải, Việt Nam vẫn tiếp tục là phía bị thiệt thòi. Nhu cầu chiến lược về quốc phòng và kinh tế của Trung cộng là khống chế biển Đông và chiếm đoạt nguồn tài nguyên to lớn trong vùng biển này. Vì thế, trong những năm gần đây Bắc Kinh đã khai thác thế mạnh về quân sự và kinh tế để gia tăng áp lực trong các mối quan hệ với Hà Nội, đặc biệt về lãnh thổ, các hải đảo và biển Đông. Trung cộng liên tục lấn át Hà Nội theo kiểu "Cái gì của tôi là của tôi. Cái gì của anh mình xài chung". Thoả thuận chung nói trên quy định cho Trung cộng được cùng tuần tra, cùng hợp tác đánh bắt hải sản, cùng thăm dò dầu và gas, cùng khai thác dầu hỏa.... trong vịnh Bắc Bộ. Còn ngoài biển Đông là khu vực mà Trung cộng đang khống chế, thì Việt Nam phải "nỗ lực gìn giữ tình hình ổn định" cũng như "không được có hành động làm phức tạp hóa hoặc mở rộng thêm tranh chấp".
Thoả thuận chung cũng bầy tỏ "sự hài lòng đối với việc hoàn thành công tác phân giới trên bộ", tuy nhiên trên thực tế có nhiều điểm quan trọng về vấn đề này vẫn còn bị dấu diếm. Hà Nội vẫn luôn chống chế rằng sự mất mát là rất nhỏ căn cứ theo hiệp ước Pháp-Thanh. Phải chăng họ tối tăm đến độ không nhận ra rằng, chính hiệp ước đó đã gây thiệt hại lãnh thổ rất nhiều cho Việt Nam, vì chính quyền thực dân Pháp lúc đó đã đánh đổi đất đai của Việt Nam để được hưởng đặc quyền giao thương với Trung Hoa.
Đó là những gì mà Nguyễn Tấn Dũng đã thu lượm được trong chuyến đi Bắc Kinh vừa qua. Tất cả chỉ là những thoả thuận bất tương đồng. Trước những đe dọa đến từ cả trong lẫn ngoài, những người lãnh đạo CSVN luôn chọn lựa những giải pháp có mục tiêu bảo vệ quyền lợi cá nhân và củng cố chế độ độc tài, bất kể nó gây thiệt hại to lớn cho đất nước. Đối với một chính quyền như vậy, người dân Việt Nam khó có thể để số phận của đất nước nằm trong bàn tay của họ.

Gửi ý kiến của bạn
Vui lòng nhập tiếng Việt có dấu. Cách gõ tiếng Việt có dấu ==> https://youtu.be/ngEjjyOByH4
Tên của bạn
Email của bạn
)
Năm 1895, Alfred Nobel – nhà khoa học bị ám ảnh bởi cái giá mà nhân loại phải trả từ phát minh của mình – đã để lại di chúc năm 1895 rằng tài sản của ông sẽ dùng để tài trợ các giải thưởng “mang lại lợi ích lớn nhất cho nhân loại.” Đối với Nobel Hòa Bình, ông có phần đặc biệt: giải thưởng này sẽ được trao cho người đã “có nhiều hành động hoặc nỗ lực mang đến sự đoàn kết, hòa bình giữa các quốc gia, bãi bỏ hoặc giảm bớt quân đội thường trực, tổ chức và thúc đẩy các hội nghị hòa bình.” Sứ mệnh chọn lựa được giao cho Quốc Hội Na Uy, có lẽ vì ông tin rằng Na Uy – khi đó còn nhỏ bé và trung lập – sẽ ít bị cám dỗ bởi chính trị quyền lực.
Trung Hoa ngày nay như kinh thành giữa sa mạc, vẻ yên ổn bên ngoài chỉ là lớp sơn son thếp vàng phủ lên nền đá đã rạn. Thế giới đứng ngoài quan sát, vừa lo nó sụp, vừa biết nó trụ lại nhờ ảo ảnh quyền lực và niềm tin vay mượn. Dưới lớp hào nhoáng của “Giấc mộng Trung Hoa” là một cơ đồ quyền lực đang già nua trong chính tuổi trẻ của mình. Bởi sức mạnh của nó không khởi từ niềm tin, mà từ nỗi sợ — và nỗi sợ, tự thuở khai triều lập quốc, chưa bao giờ là nền tảng lâu bền.
Ngày 8 tháng 10 năm 2025, tại tòa án liên bang ở Alexandria, bang Virginia, cựu Giám đốc Cơ quan Điều tra Liên bang (FBI) James Comey không nhận tội đối với hai cáo buộc hình sự. Cáo trạng nêu rằng vào tháng 9 năm 2020, Comey đã nói dối Quốc Hội khi vẫn giữ nguyên lời khai trong buổi điều trần trước đó rằng ông không hề cho phép để lộ thông tin về cuộc điều tra của FBI liên quan đến Hillary Clinton. Theo nhiều bình luận gia pháp lý, từ cánh tả đến cánh hữu, việc truy tố Comey chủ yếu chỉ là do chính phủ liên bang đang cố tình nhắm vào kẻ mà Tổng thống “thấy không vừa mắt.” Comey là người đứng đầu cuộc điều tra nghi án Nga can thiệp bầu cử tổng thống 2016 và bị Trump lột chức vào năm 2017.
Sau sáu ngày đột ngột “bặt tiếng,” chương trình Jimmy Kimmel Live, của MC kiêm diễn viên hài và nhà biên kịch nổi tiếng, đã trở lại với khán thính giả vào tối 23/9/2025. Sự trở lại này, chỉ vỏn vẹn sau gần một tuần bị đình chỉ, không chỉ là tin vui với những người yêu tiếng cười đêm khuya của truyền hình Mỹ, mà còn là một hồi chuông cảnh tỉnh, kéo theo những bàn luận trái chiều, chạm đến cốt lõi của tự do ngôn luận, một trong những quyền thiêng liêng nhất trong thể chế dân chủ.
Texas, mùa thu 2025 – trên khuôn viên đại học giữa vùng đất vốn tự hào là “trái tim bảo thủ của nước Mỹ”, thay vì nghe tiếng lá thu rơi, người ta lại nghe tiếng giày đinh vang vọng, bước chân của bóng ma McCarthyism quay về - phiên bản thế kỷ 21 - trở lại giảng đường với tốc độ và sự kinh dị của thời đại kỹ thuật số. Ngày 9 tháng 9, trên bục giảng của trường Texas A&M University, giáo sư Melissa McCoul trong giờ văn học thiếu nhi, dùng hình một con kỳ lân tím để nói với sinh viên rằng bản sắc con người không chỉ có hai nửa nam–nữ. Một sinh viên giơ tay hỏi: “Điều này có hợp pháp không?” và viện dẫn sắc lệnh mà Tổng thống Donald Trump ký hồi tháng Giêng, tuyên bố chỉ có hai giới tính sinh học. Bà McCoul đáp bằng lý lẽ, không viện dẫn chính trị. Nhưng một chiếc điện thoại trong lớp đã ngầm quay lại hình ảnh. Và chỉ ít lâu sau, cả nước đều xem đoạn clip ấy – không phải để học, mà để phán xét.
Trong bối cảnh toàn cầu hóa và chuyển đổi thể chế, phương Tây và Việt Nam đang phải đối diện trước những thách thức nghiêm trọng về cải cách chính sách để cho phù hợp với nhu cầu của thời đại mới, nhất là vai trò của pháp luật. Pháp luật là nền tảng thiết yếu cho sự vận hành ổn định và công bằng của xã hội. Là hệ thống quy phạm điều chỉnh hành vi con người, pháp luật không chỉ bảo vệ quyền lợi cá nhân và tập thể mà còn thúc đẩy sự phát triển bền vững. Trong xã hội hiện đại, vai trò của pháp luật được thể hiện rõ nét qua các lĩnh vực như bảo vệ an ninh quốc phòng, duy trì trật tự xã hội, bảo đảm quyền tự do cá nhân, phát triển phúc lợi xã hội, và thúc đẩy tinh thần hợp tác cũng như hội nhập.
Ngày 30 tháng 9 năm 2025, tại căn cứ Thủy Quân Lục Chiến ở Quantico, Virginia, Bộ trưởng Quốc phòng Pete Hegseth bước lên sân khấu trước hàng trăm tướng và đô đốc được triệu tập từ khắp nơi trên thế giới. Ông tuyên bố sẽ “cải tổ văn hóa quân đội” bằng mười chỉ thị mới, nhằm quét sạch cái mà ông gọi là “rác rưởi thức tỉnh” và khôi phục “tinh thần chiến binh”. Cụm từ ấy – nửa ca tụng bạo lực, nửa tán dương cơ bắp – nay đã trở thành thương hiệu chính trị của Hegseth. Trong cuốn Cuộc Chiến Chống Lại Những Chiến Binh (2024), ông cho rằng việc phụ nữ được đưa vào các vai trò chiến đấu đã “làm cạn kiệt” tinh thần này, khiến quân đội Hoa Kỳ “ít sát thương hơn.” Nghe qua, người ta tưởng quân đội chỉ tồn tại để đong máu đếm xác.
Ông bà xưa đã nói, nắm thì “nắm kẻ có tóc ai nắm kẻ trọc đầu.” Cách nói dân gian này rất cụ thể và dễ hình dung, người có tóc thì dễ bị nắm, bị túm, còn người trọc đầu thì không thể nắm được. Mang câu nói này vào chính trường Mỹ hiện tại, quả là khôi hài, nhưng không kém màu bi kịch. Nó phản ánh một sự thật trần trụi và không thể tránh khỏi: Quyền lực, chính sách, sắc lệnh hành pháp, các cuộc chiến pháp lý và ‘tuổi thọ’ chính trị của người đứng đầu nhánh hành pháp đang phụ thuộc vào sự phục tùng của các nhà lãnh đạo và những tài phiệt. Họ là ai? Họ là một mạng lưới của các quan chức, nhà lập pháp, giám đốc điều hành truyền thông, nhà tài trợ…, những người đã chọn chọ họ một thế đứng, xuôi theo những gì tổng thống muốn.
Bộ Tư Pháp Hoa Kỳ đang đánh một đòn nguy hiểm: huy động các văn phòng công tố đi điều tra mạng lưới từ thiện Open Society Foundations của gia đình Soros, một quỹ từ thiện quốc tế, nổi tiếng với việc tài trợ cho các dự án dân chủ, giáo dục và nhân quyền trên khắp thế giới. Danh sách cáo buộc nghe cứ như “vật lạ”: từ đốt phá đến tài trợ khủng bố. Open Society Foundations lập tức phản đối, khẳng định mình hoạt động hợp pháp, và nhắc lại điều mà bất cứ người tỉnh táo nào cũng hiểu: khi chính quyền có thể tùy tiện lấy một nhóm dân sự làm vật tế, thì quyền của mọi nhóm khác cũng chẳng còn gì bảo đảm.
Trong nhiều thập niên qua, giải pháp hai nhà nước luôn được xem là phương án khả thi nhằm mang lại hòa bình cho khu vực Trung Đông. Tuy nhiên, tiến trình này vẫn chưa đạt được kết quả cụ thể. Gần đây, cuộc tranh luận về việc công nhận nhà nước Palestine đang có những chuyển biến mới khi Pháp và Ả Rập Xê Út tổ chức một hội nghị quốc tế tại New York, ngay trước thềm Đại hội thường niên của Liên Hiệp Quốc.


Kính chào quý vị,

Tôi là Derek Trần, dân biểu đại diện Địa Hạt 45, và thật là một vinh dự lớn lao khi được đứng nơi đây hôm nay, giữa những tiếng nói, những câu chuyện, và những tâm hồn đã góp phần tạo nên diện mạo văn học của cộng đồng người Mỹ gốc Việt trong suốt một phần tư thế kỷ qua.
Hai mươi lăm năm! Một cột mốc bạc! Một cột mốc không chỉ đánh dấu thời gian trôi qua, mà còn ghi nhận sức bền bỉ của một giấc mơ. Hôm nay, chúng ta kỷ niệm 25 năm Giải Viết Về Nước Mỹ của nhật báo Việt Báo.

Khi những người sáng lập giải thưởng này lần đầu tiên ngồi lại bàn thảo, họ đã hiểu một điều rất căn bản rằng: Kinh nghiệm tỵ nạn, hành trình nhập cư, những phức tạp, gian nan, và sự thành công mỹ mãn trong hành trình trở thành người Mỹ gốc Việt – tất cả cần được ghi lại. Một hành trình ý nghĩa không những cần nhân chứng, mà cần cả những người viết để ghi nhận và bảo tồn. Họ không chỉ tạo ra một cuộc thi; họ đã và đang xây dựng một kho lưu trữ. Họ thắp lên một ngọn hải đăng cho thế hệ sau để chuyển hóa tổn thương thành chứng tích, sự im lặng thành lời ca, và cuộc sống lưu vong thành sự hội nhập.

Trong những ngày đầu ấy, văn học Hoa Kỳ thường chưa phản ánh đầy đủ sự phong phú và đa dạng về kinh nghiệm của chúng ta. Giải thưởng Viết Về Nước Mỹ thực sự đã lấp đầy khoảng trống đó bằng sự ghi nhận và khích lệ vô số tác giả, những người đã cầm bút và cùng viết nên một thông điệp mạnh mẽ: “Chúng ta đang hiện diện nơi đây. Trải nghiệm của chúng ta là quan trọng. Và nước Mỹ của chúng ta là thế đó.”


Suốt 25 năm qua, giải thưởng này không chỉ vinh danh tài năng mà dựng nên một cộng đồng và tạo thành một truyền thống.
Những cây bút được tôn vinh hôm nay không chỉ mô tả nước Mỹ; họ định nghĩa nó. Họ mở rộng giới hạn của nước Mỹ, làm phong phú văn hóa của nước Mỹ, và khắc sâu tâm hồn của nước Mỹ. Qua đôi mắt họ, chúng ta nhìn thấy một nước Mỹ tinh tế hơn, nhân ái hơn, và sau cùng, chân thật hơn.

Xin được nhắn gửi đến các tác giả góp mặt từ bao thế hệ để chia sẻ tấm chân tình trên các bài viết, chúng tôi trân trọng cảm ơn sự can đảm của quý vị. Can đảm không chỉ là vượt qua biến cố của lịch sử; can đảm còn là việc ngồi trước trang giấy trắng, đối diện với chính mình, lục lọi ký ức đau thương sâu đậm, và gửi tặng trải nghiệm đó đến tha nhân. Quý vị là những người gìn giữ ký ức tập thể và là những người dẫn đường cho tương lai văn hóa Việt tại Hoa Kỳ.

Với Việt Báo: Xin trân trọng cảm ơn tầm nhìn, tâm huyết, và sự duy trì bền bỉ giải thưởng này suốt một phần tư thế kỷ.
Khi hướng đến 25 năm tới, chúng ta hãy tiếp tục khích lệ thế hệ kế tiếp—những blogger, thi sĩ, tiểu thuyết gia, nhà phê bình, nhà văn trẻ—để họ tìm thấy tiếng nói của chính mình và kể lại sự thật của họ, dù đó là thử thách hay niềm vui. Bởi văn chương không phải là một thứ xa xỉ; đó là sự cần thiết. Đó là cách chúng ta chữa lành, cách chúng ta ghi nhớ, và là cách chúng ta tìm thấy nơi chốn của mình một cách trọn vẹn.

Xin cảm ơn quý vị.

NHẬN TIN QUA EMAIL
Vui lòng nhập địa chỉ email muốn nhận.