Hôm nay,  

Công Án

13/04/200700:00:00(Xem: 13861)

Công án: Hãy lắng nghe tiếng vỗ của một bàn tay" Khi công an bịt miệng Cha Lý.

Bước vào cửa thiền, ít thiền sinh nào không biết đến công án nổi tiếng “Tiếng vỗ của một bàn tay”.

Khi Thiền-sư Bạch Ẩn đưa một bàn tay lên và bảo lớp thiền-sinh đang lặng lẽ, chăm chú ngước nhìn ngài, là hãy lắng nghe tiếng vỗ của một bàn tay, thì tất cả thiền sinh hiện diện đều ngơ ngẩn vì trong tâm phân biệt đã lập tức khởi niệm “Chỉ có một bàn tay, làm sao tạo nên âm thanh của tiếng vỗ"”.

Chẳng phải môi trường nào cũng có một Ma-Ha-Ca-Diếp như trong pháp Hội Linh Sơn, để khi Đức Thế Tôn im lặng đưa bông sen lên thì khắp chúng hội ngơ ngác và bận rộn với ý nghĩ “Đức Thế Tôn đang làm gì đó" Sao giơ bông sen mà chẳng dạy chi"” Chỉ mình Ma-Ha-Ca-Diếp an nhiên, thanh thoát lặng lẽ mỉm cười vì đang thực sự tiếp xúc với giây phút hiện tại, với sự có mặt của bông sen chứ không quẩn quanh với sự việc bông sen được đưa lên. Bông sen đang có mặt. Ma-Ha-Ca-Diếp đang có mặt và người đang mỉm cười với hoa. Qua con mắt của chánh-pháp-nhãn-tạng, Đức Thế Tôn đã nhìn thấy người đệ tử vừa đạt ngô. Và giai thoại Niêm Hoa Vi Tiếu là thực chứng sự mầu nhiệm của vô ngôn, bất khả tư nghì.

Vậy, âm thanh nào là tiếng vỗ của một bàn tay"

Chính từ dấu hỏi mà câu nói này trở thành công án vì công án, nếu được hiểu theo nghĩa đơn giản chỉ là vấn đáp giữa thiền-sư và thiền-sinh, do vị thầy muốn dẫn đạo đệ tử đặt trọng tâm quán sát vào điều gì thì thầy đặt ra đề án về điều đó để khai ngộ thiền-lý cho trò. Khi thiền-sinh quán chiếu đề án mà thầy đặt ra - danh từ thiền gọi là tham công án - thì thiền sinh cần ngồi trong tư thế tĩnh lặng, gom thân, tâm, ý về một mối. Đó là tọa thiền, là một, trong những phương tiện để giải đáp công án.

Sở dĩ tôi chợt nhớ lại công án “Tiếng vỗ của một bàn tay” của thiền-sư Bạch Ẩn vì suốt nhiều ngày qua, trên mạng lưới toàn cầu đều phổ biến tấm hình độc đáo, cảnh công an CSVN mặc thường phục, đưa tay bịt miệng Cha Nguyễn Văn Lý trong phiên tòa dựa theo luật rừng mỗi khi chính quyền muốn bắt bớ, giam cầm một người dân nào đòi quyền làm người.

Tôi phải xin lỗi thiền-sư Bạch Ẩn vì khi nhìn tấm hình đó, tôi bật ngay ra một “cong án” (cong, chứ không phải công!) Phàm cái gì cong là vì đã bị uốn, bị bẻ, bị nắn, bị biến dạng. Cái cong án tôi nhìn thấy từ tấm hình đó là:

“Tiếng nói của một bàn tay”.

Thật là tuyệt vời!

Một bàn tay đưa lên bịt miệng Cha Lý để Cha không nói lên được sự thật, đã có tác dụng nói giúp Cha gấp ngàn lần những điều mà Cha muốn nói trong phiên tòa đó, vì Cha sẽ không đủ thì giờ để nói, dù Cha không bị bàn tay kia bịt miệng. Bởi lẽ, tuyên bố kết quả luật rừng xong, tất, Cha sẽ bị dẫn đi ngay.

Vô tình, “Tiếng nói của một bàn tay” đã nối giáo cho giặc (Cha bị coi là giặc mà!)

Cám ơn Cong Án tuyệt chiêu này. Nhiều phần tôi có thể tin người công an này chưa từng là thiền sinh hay Phật tử gì vì CS vô thần mà! Nhưng trong một sát-na kỳ diệu anh ta đã đưa ra một Công Án (bây giờ là công, chứ không cong nữa) có sức công phá toàn bộ những đàn áp về thực trạng cai trị của CSVN đối với người dân và những che dấu thực trạng đó đối với quốc tế! Công án này tuyệt chiêu tới mức không cần phương tiện tọa thiền mà chỉ nhìn tấm hình là có trọn vẹn lời giải đáp ngay. Bất cứ thiền-sinh nào tham công án “Tiếng nói của một bàn tay”, bảo đảm đều đạt ngay! ngộ ngay! chứng đắc ngay! Tôi không thể không nghĩ rằng, ở nhiều kiếp trước, người công an này đã từng mon men vào cửa thiền. Không những thế, người này còn có thể từng là đệ tử của thiền-sư Bạch Ẩn không chừng. Phải từng tọa thiền, tham công án “Tiếng vỗ của một bàn tay” đến vỡ đầu vỡ óc nên kiếp này mới có thể bật ra “Tiếng nói của một bàn tay” đúng lúc và đúng chỗ tới mức tuyệt đối như thế được.

Chắc lúc bị bịt miệng, Cha Lý buồn cười lắm! Thế nào thầm cám ơn xong, Cha cũng sẽ thầm cầu nguyện cho kẻ đang bịt miệng mình vì chắc Cha biết rằng, sau phiên tòa, Cha thì vào tù nhưng anh công an được mang đi đâu, có trời biết !!!

Bất ngờ, tấm hình mang công án “Tiếng nói của một bàn tay” đã được phổ biến toàn cầu, mọi ghi chú đều không cần thiết vì công án đã được giải đáp ngay sau khi công án được trưng ra. Vấn đề còn lại là những ai còn tin là CSVN đã thay đổi, đã cho người dân-nói chung-, và Tôn Giáo-nói riêng- được nếm chút tự do, những người đó có cần phải tọa thiền mới giải được công án “Tiếng nói của một bàn tay” hay không" Có lời giải đáp rồi thì phải có cái nhìn nào đối với CSVN"

Tự Do không tự nhiên mà có và không cuộc tranh đấu nào không phải trả giá. Những gì đang xẩy ra ở Việt Nam đã khiến những ai quan tâm, sẽ nhớ về cuộc tranh đấu trường kỳ của nhân dân Ba Lan với Đảng Cộng Sản Ba Lan từ nhiều thập niên trước. Qua nhiều cái giá phải trả bằng máu và nước mắt, cuối cùng, Nghiệp Đoàn Công Nhân Liên Kết do người-công- nhân-tranh-đấu Lech Walesa đã thực hiện được mỹ từ “Đoàn Kết” mà kết hợp được 3 thành phần nòng cốt trong dân chúng là: Nghiệp Đoàn Công Nhân Liên Kết, Nghiệp Đoàn Nông Dân Liên Kết và Tổng Hội Sinh Viên Độc Lập để cùng bền bỉ tranh đấu bất bạo động như đình công, biểu tình, thắp nến …v…v… đưa đến thành công trong ngày bầu cử tháng sáu năm 1989.

Trong suốt lịch trình tranh đấu, câu nói lịch sử mà Công Nhân Ba Lan trả lời Jaruzelski, Tổng bí thư Đảng CS Ba Lan là:

“Chúng tôi xác quyết chúng tôi là công nhân, chúng tôi không bao giờ là nô lệ, ngay cả khi ông trói tay hay bịt miệng chúng tôi.”

CSVN có cần giở lại trang sử về cuộc tranh đấu của nhân dân Ba Lan, khi đang bịt miệng những người đòi hỏi Nhân Quyền tại Việt Nam hay không """

(Như-Thị-Am, trung tuần tháng tư, 07)   

Gửi ý kiến của bạn
Vui lòng nhập tiếng Việt có dấu. Cách gõ tiếng Việt có dấu ==> https://youtu.be/ngEjjyOByH4
Tên của bạn
Email của bạn
)
Lực lượng “ăn cháo đá bát” rất đông và lan nhanh như bệnh dịch, nhưng chưa bao giờ được công khai cho dân biết để dân bàn, dân kiểm tra. Ngược lại, dân lại là nạn nhân của đám ong nuôi trong tay áo từ bao năm nay. Chúng nằm trong ngành Tuyên giáo, trước đây gọi là Ban Tư tưởng-Văn hóa Trung ương và Ban Khoa giáo Trung ương. Sau lưng đảng còn có đội ngũ chuyên nghề nói thuê và viết mướn gồm Báo cáo viên và Dư luận viên được trả lương bằng tiền thuế của dân.
Vào sáng ngày 1 tháng 5-1975 Trung tá bác sĩ Hoàng Như Tùng, nguyên chỉ huy trưởng Quân Y viện Phan Thanh Giản - Cần Thơ, mặc đồ dân sự, trong tư thế quân phong, đưa tay lên chào vĩnh biêt Tướng Nguyễn Khoa Nam, Tư lênh Quân Đoàn IV, Quân Khu IV, Vùng 4 Chiến Thuật, trước sự kinh ngạc của một nhóm sĩ quan cấp cao của bộ đội cộng sản vì sự dũng cảm của bác sĩ Trung Tá Hoàng Như Tùng. Một sĩ quan của bộ đội cộng sản mang quân hàm thiếu tá tiến đến và yêu cầu bác sĩ Hoàng Như Tùng nhận diện Tướng Nguyễn Khoa Nam.
Sách này sẽ được ghi theo hình thức biên niên sử, về các sự kiện từ ngày 8/5/1963 cho tới vài ngày sau cuộc chính biến 1/11/1963, nhìn từ phía chính phủ Hoa Kỳ. Phần lược sử viết theo nhiều tài liệu, trong đó phần chính là dựa vào tài liệu Bộ Ngoại Giao Hoa Kỳ “Foreign Relations of the United States 1961-1963”, một số tài liệu CIA lưu giữ ở Bộ Ngoại Giao, và một phần trong sách “The Pentagon Papers” của Bộ Quốc Phòng Hoa Kỳ, ấn bản Gravel Edition (Boston: Beacon Press, 1971). Vì giờ tại Việt Nam và Hoa Kỳ cách biệt nhau, cho nên đôi khi ghi ngày sai biệt nhau một ngày.
Tôi là anh trưởng trong gia đình, với 9 đứa em cả trai lẫn gái, nên trách nhiệm thật khó khăn, từ nhân cách cho đến cuộc sống. Nhưng may mắn tôi gặp được những người anh ngoài xã hội để noi gương và học hỏi. Một trong số những nhân vật hiếm hoi đó, chính là anh Nguyễn Văn Tánh, người mà tôi đã có cơ hội được tiếp tay hỗ trợ và đồng hành cùng anh trong suốt 20 cuộc Diễn Hành Văn Hóa Quốc Tế Liên Hiệp Quốc tại thành phố New York từ 20 năm qua.
Tôi tha phương cầu thực gần như trọn kiếp (và may mắn lạc bước đến những nơi không thiếu bơ thừa sữa cặn) nên bất ngờ nhìn thấy mảnh đời cùng quẫn thì không khỏi chạnh lòng. Nghe tiếng mời chào khẩn thiết, nhìn những khuôn mặt khẩn cầu của đồng bào mình mà muốn ứa nước mắt.
Các định kiến tai hại đối với các phụ nữ Á Châu trong văn hóa đại chúng của Mỹ đã có từ ít nhất thế kỷ thứ 19. Từ đó, các nhà truyền giáo và binh sĩ Mỹ tại Á Châu đã xem phụ nữ mà họ gặp đó như là ngoại lai và dễ tùng phục. Các định kiến này đã ảnh hưởng luật di trú đầu tiên của Hoa Kỳ dựa vào chủng tộc, Đạo Luật 1875 Page Act, ngăn cản các phụ nữ Trung Quốc vào Hoa Kỳ. Giả thuyết chính thức là rằng, ngoại trừ được chứng minh ngược lại, các phụ nữ TQ tìm cách vào Hoa Kỳ đã thiếu tư cách đạo đức và là những gái mại dâm. Trên thực tế, nhiều người là vợ tìm cách đoàn tụ với những ông chồng là những người đã đến Hoa Kỳ trước đó. Khoảng cùng thời gian đó, các phụ nữ TQ tại San Francisco cũng bị làm dê tế thần bởi các viên chức y tế địa phương là những người sợ rằng họ sẽ lây truyền các bịnh lây lan qua đường tình dục cho các đàn ông da trắng, là những người sau đó sẽ lây lan cho các bà vợ của họ. Vào giữa thế kỷ 20, các căn cứ chiến tranh và quân sự của Hoa Kỳ tại TQ, Nhật, Phi Luật Tân,
Nguyễn Khoa Điềm, Nguyễn Bá Thanh, Nguyễn Thiện Nhân, Nguyễn Hòa Bình, Nguyễn Xuân Phúc … quả đúng là những kẻ thuộc giới ăn trên ngồi trốc. Họ là những hạt giống đỏ được gieo trồng từ miền Bắc, và đã ươm mầm thành cây. Loại cây này, học giả Phan Khôi gọi một cách lịch sự là cây Cộng Sản. Còn dân gian thì gọi là cây cứt lợn!
Nếu đảng đủ can đảm và ông Tổng Bí thư, Chủ tịch nước Nguyễn Phú Trọng còn đủ bản lĩnh của một Lãnh đạo gương mẫu trong công tác phòng, chống tham nhũng thì hãy công khai cho dân biết Tổ chức Thanh niên của đảng đã làm được những gì cho dân cho nước trong 90 năm qua. Hay ngót 7 triệu Đoàn viên TNCS chẳng làm được trò trống gì, ngoải vai trò tay sai đã tuyệt đối trung thành với đảng và với chủ nghĩa Mác-Lênin và tư tưởng Cộng sản Hồ Chí Minh?
Adam Smith và Karl Marx cùng được gọi chung là kinh tế cổ điển (classical economy) tức là lao động (labour) tạo ra giá trị (value.) Khác ở chổ Smith quan niệm thị trường tự do giúp mọi người hưởng thụ giá trị lao động còn Karl Marx lên án giá trị lao động của công nhân bị tư bản bóc lột. Vào đầu thế kỷ thứ 20 xuất hiện một cách nhìn mới là giá trị (value) do nơi tiện ích (utility) thay vì từ lao động (labour). Thí dụ một người đang khát uống ly nước đầu thì thật ngon, ly thứ nhì vừa vừa còn ly thứ ba đầy bụng nuốt không vô, tức là giá trị của mỗi ly nước giảm khi nhu cầu tiện ích hạ thấp. Quan điểm này gọi là Giá Trị Biên Tế hay Marginal Value.
Cùng với tác phẩm của Dương Thu Hương-"Những Thiên Đường Mù", Trần Mạnh Hão-"Ly Thân", Bảo Ninh-"Nỗi buồn Chiến tranh", Phạm Thị Hoài-"Thiên sứ", "Tướng về hưu"của Nguyễn Huy Thiệp đã tạo nên dòng văn học phản kháng.
NHẬN TIN QUA EMAIL
Vui lòng nhập địa chỉ email muốn nhận.