Hôm nay,  

Lương Y Hà Nội Bây Giờ

15/11/200600:00:00(Xem: 12785)

Lương Y Hà Nội Bây Giờ

Hai tháng trời ra công khai, đương đầu với bạo lực cộng sản, tôi nhận được bao nhiêu tấm lòng bạn bè trên khắp thế giới, một trong những lá thứ đó là của một người Hà Nội, xa quê hương đã tròn 28 năm, thư viết:

"Chào chị Trần Khải Thanh Thuỷ, thư này tôi chỉ muốn tâm sự với chị nỗi nhớ Hà Nội, nỗi nhớ mà thời gian đầu mới sang, tôi chỉ có thể mượn lời của cụ Tiên Điền Nguyễn Du (khi làm sứ bộ của Trung Quốc) để thốt lên:

Xa nước ba tuần lòng tựa chết

Ra đường toàn mắt lạ nhìn lên,

Chỉ vì sống trong lòng chế độ xã hội chủ nghĩa, nơi một cái cột điện - nếu biết đi cũng phải bỏ đi - như lời cụ Nguyễn Tuân nói, mà tôi phải chia tay với gia đình, người thân, cũng là chia tay với nền văn minh cùng chung... hố xí do Đảng tạo lập. Tuy thế, tôi vẫn không nguôi nhớ về Hà Nội và luôn miệng hỏi Hà Nội mình trong thời mở cửa, mở hướng, hội nhập toàn cầu có thay đổi nhiều không" Cụ thể như thế nào""

Tất nhiên cái nền văn minh ấy cơ bản đã bị triệt tiêu từ đầu thập kỷ 90, song điều đáng buồn là cùng với sự đi lên về kinh tế là sự xuống cấp đạo đức trầm trọng của các ngành nghề, đặc biệt là hai ngành y học và giáo dục. Thay vì những từ mỹ miều, đẹp đẽ, người ta dùng cho các bác sĩ và nhân viên y tế trong bệnh viện như một thời cụ Hồ vẫn gọi: Lương y như từ mẫu, thầy thuốc như mẹ hiền thì bây giờ trong cơn xoáy lốc của đồng tiền, giữa thời cơ chế thị trường, nơi các quan tham ăn rỗng ruột dân, và bệnh viện đè ngửa bệnh nhân ra để lấy tiền, người dân đặt cho nó một cái tên chính xác hơn: Lương y kiêm... hà bá, thầy thuốc như... mẹ mìn.

Bệnh viện C Hà Nội - nơi tôi may mắn được sinh ra, một thời với cái tên vô cùng bình dị, thiêng liêng là: Bệnh viện bảo vệ bà mẹ và trẻ em, bây giờ bị gọi chệch thành: Bệnh viện... mặc mẹ bà mẹ và trẻ em vì tính chất phi luân của nó:

Có tiền thì có tình thương,

Không tiền mặc sức kêu suông, hỡi người

50% người bệnh tự đào mồ chôn sống mình ngay tại nhà,giữa tuổi đời 40, 45, chỉ vì không có tiền trang trải viện phí, thuốc men nơi bệnh viện. Thay vì vịn vai đời để sống, người ta thi nhau vịn vai bệnh nhân ốm yếu, cõi còm để ních đầy túi tham, không một chút dằn vặt, đau xót...

Thế là, dưới sự trị vì của một lũ bất tài, sự quản lý lỏng lẻo của các quan ôn, đứng đầu là bộ y tế, hai ngành "nhất y, nhì dược" đã bắt tay nhau để cùng đẩy bệnh nhân xuống đáy bể khổ. Nói một cách chính xác, bên cạnh những tiêu cực phí phải trả cho những ca mổ, những căn bệnh hiểm nghèo để giữ lại mạng sống của mình thì người bệnh lại bị trấn lột trắng trợn lần nữa qua những đơn thuốc "trục lợi" với giá cắt cổ, dã man. Chưa khi nào người bệnh ở Việt Nam lại hoang mang, dao động nặng nề như trong thời điểm này, khi thông tư của bộ y tế về việc phải niêm yết giá thuốc ra đời (lần đầu yêu cầu có hiệu lệnh từ cuối năm 2004), làm giá thuốc tăng vô tội vạ (từ 20-60 %), hệt mỗi lần chính phủ thực hiện chế độ bù giấy vào lương thay vì bù giá vào lương sau cơn khủng hoảng do vụ đổi tiền 1985 gây ra)...

Leo cao nhất là kháng sinh và biệt dược trị các bệnh hiểm nghèo, các loại thuốc bổ như vitamin, B1, C...nhân cơ hội có một không hai cũng trở thành xuất ăn theo một cách ngẫu nhiên. Trong điều kiện ô nhiễm môi trường, phát triển sản xuất, kinh tế bất chấp sự an toàn thực phẩm vệ sinh, phòng bệnh. 90 % dân số Việt Nam mắc một loại bệnh thông thường: Đau bụng, cảm cúm, đau đầu, sốt... 60 % mắc từ hai bệnh trở lên và 30 % còn lại mắc đồng loạt ba loại bệnh cùng lúc,hoặc một số chứng bệnh hiểm nghèo như ung thư gan, phổi, sỏi thận...

Việt Nam quả là nơi lý tưởng cho những lương y kiêm hà bá hành nghề. Nhờ vậy tuy luôn đứng ở vị trí 184 trên tổng số 200 nước trên thế giới (tính từ trên xuống) với thu nhập bình quân đầu người vẻn vẹn một ngày không nổi 1,5 USD (440 GDP/ năm, người Việt Nam vẫn phải mua thuốc với giá cao hơn cả người Châu Âu có thu nhập cao. Thật là "một cổ hai tròng" đối với bệnh nhân, trong khi cái gọi là y đức trôi nổi tận đâu. Lẽ thường người bệnh đi khám phải mua thuốc theo đơn chỉ đạo của bác sĩ.

Theo tiêu chuẩn sử dụng thuốc hợp lý của tổ chức y tế thế giới, trị số tối ưu của một lần kê đơn là từ một đến năm loại thuốc, nhưng ở Việt Nam - xứ sở của quan tham, dịch bệnh, ô nhiễm, lũ lụt thì người bệnh chưa bao giờ bị dùng ít đến thế. Thanh tra bộ y tế cho biết, bình quân một đợt điều trị của bệnh nhân nội trú là 7 loại, ngoại trú là ba loại, trong đó chỉ có 12,2 % bệnh nhân được dùng hai loại thuốc kháng sinh và biệt dược theo đúng quy định, còn 88,8 % là vượt mức cho phép, đến mức... S0S. Không cần đợi lưỡi dao oan nghiệt của thầy thuốc như câu ví dân gian: Sổ Nam Tào, dao thầy thuốc mà trong thời điểm hiện tại này chỉ cần... sổ y bạ, đơn thầy thuốc, bệnh nhân đã tự tra tên vào sổ Nam Tào của Hà Bá, Diêm Vương rồi. Một thành tựu mà chỉ nền y học Việt Nam mới có, do các bác sĩ Việt Nam tạo nên.

Trước kia theo quy định về sử dụng thuốc của ngành, với các đối tượng dùng thuốc kéo dài, quá liều, phải được trưởng khoa, phó giám đốc, hoặc giám đốc bệnh viện trực tiếp chỉ định, theo dõi, giám sát để kịp điều chỉnh xử lý... thì bây giờ, giữa thời buôỉ nhộn nhạo, gần tiền ắt hẳn hôi tanh mùi tiền... hầu hết các lương y kiêm hà bá, càng kê được nhiều loại thuốc, càng bắt bệnh nhân sử dụng thuốc kéo dài và càng giúp nhà thuốc bán với giá cắt cổ, tỷ lệ "hoa hồng" được hưởng càng cao, từ 20-30%, thậm chí với các loại như ung thư tiền liệt tuyến - bệnh mà đa phần nam giới ở độ tuổi trung niên trở lên mắc phải, với giá 3 triệu đồng một mũi tiêm, còn được hưởng tỷ lệ cao tót vời. Nhiều bệnh nhân điều trị một đợt hết cả trăm triệu đồng thì giá hoa hồng mà mẹ mìn và hà bá được hưởng, còn hơn cả một năm lương (khoảng vài ngàn USD).

Cũng theo thanh tra của bộ y tế báo cáo, số thuốc ngoại chiếm thị phần tới 80%, còn thuốc nội, chỉ vẻn vẹn chưa đầy 20%, thậm chí các bệnh viện lớn trong thành phố còn quyết tâm bỏ hàng nội, dùng hàng ngoại vì quan niệm: "đậu phụ là chính mì chính là phụ" (tỷ lệ phần trăm hoa hồng là chính, đồng lương khám, chữa bệnh chỉ là phụ) nên cả nền y học cổ truyền, y học hiện đại cùng lương tâm đạo đức người thầy đều bị "gai hoa hồng" chọc thủng. Khẩu hiệu "người Việt Nam dùng hàng Việt Nam", và "dùng hàng nội tức là yêu nước" xem ra đã quá lạc hậu so với các bác sĩ nhân viên lãnh đạo bộ y tế. Người chịu đau đớn nhất có lẽ là vị giáo sư tiến sĩ Đỗ Tất lợi... Năm 1955, để tìm ra loại thuốc đặc hiệu chữa bệnh suy tim, ông đã từng phải "ba cùng" (ăn cùng, ngủ cùng, ở cùng) cả chục năm ròng với những người dân bản nơi núi rừng Việt Bắc hoang sơ để chiết suất từ lá cây trúc anh đào ra loại thuốc Neriolin. Năm 1958, thay vì nhập một loạt các loại thuốc trợ tim đắt tiền của Anh, Nga, Pháp như Daicozit, Strrophatin, Digitoxin...chính phủ ta đã sản xuất hàng triệu viên thuốc này, tiết kiệm cho nhà nước hàng tỷ đồng, vì giá thành chiết xuất từ lá trúc anh đào rất rẻ, hầu như không đáng kể, nào ngờ giữa thập kỷ 80, loại thuốc này bị loại khỏi dây chuyền sản xuất và ngừng hẳn vào đầu thập kỷ 90 để nhập khẩu trở lại.

Trước tình trạng đó, các con bệnh chỉ còn một cách duy nhất là bỏ tiền ra mua với giá đắt gấp 3 lần (của Nga), 10 lần (của Pháp). Báo Pháp Luật đặt câu hỏi: Nguyên nhân bộ y tế loại ra khỏi dây chuyền sản xuất để tự đứng ra nhập khẩu phân phối loại thuốc này liệu có phải vì lý do duy nhất là được nhận hoa hồng từ nhiều phía" Trong khi thương trường là chiến trường thì người quản lý, tự giơ súng bắn vào đồng bào, dân tộc mình. Vì lợi nhuận, vì muốn chiếm đựơc sự sủng ái của các nhà phân phối thuốc ngoại, họ sẵn sàng bóp chết đứa con của mình như Võ Tắc Thiên đã từng bóp chết con đẻ để loại bỏ hoàng hậu.

Ở Việt Nam bây giờ, khôn ngoan là phải cảnh giác cao độ - dù là bệnh viện tư nhân, bệnh viện nhà nước, kẻo lơ tơ mơ là bị... bóp cổ, siết họng, lòi ra hàng chục bệnh khác nhau, gây tâm lý hoang mang lo ngại đã đành, chưa kể bước chân đến nhà thuốc còn phải biết cách mặc cả, nếu dại dột mua theo giá niêm yết là tự chui đầu vào... thòng lọng ngay. Lẽ ra với một chứng bệnh đơn giản như đau đầu, viêm họng, cảm cúm nhẹ nhàng, chỉ vài chục nghìn tiền thuốc nội là khỏi, song có tới 90% các thầy thuốc là... mẹ mìn nên người dân thấp cổ bé họng, thật thà như đếm cứ tưởng mạng sống của mình đang nghìn cân treo sợi tóc, phải cố kiết tìm mua đủ các loại thuốc theo đơn hướng dẫn của bác sĩ với giá cắt cổ mà không hề biết giữa bệnh viện và nhà thuốc có sự móc ngoặc, thông đồng, đi đêm để móc túi, vơ vét số tiền còm cõi dành dụm bao năm qua của cả đại gia đình mình. Kết cục tiền mất, bệnh vẫn mang, vì khỏi nhanh bệnh này lại mắc ngay bệnh khác... Bao nhiêu lượng thuốc quá liều, gan, thận phải giơ ra chống đỡ, từ chỗ hóa nhờn, gây loạn, đến chỗ sinh ra các tác dụng phụ và hậu họa lâu dài, chỉ là một bước chân. Thật là "oan này còn một kêu cầu ai đây""

Nguyên nhân đầu tiên và nguyên nhân duy nhất là đồng lương của các lương y không vượt qua được đoạn cong xích ma - 2/3 dạ dày của họ. Trong khi giá thuốc bị thả nổi, cấp giấy phép nhập khẩu tràn lan... Thị trường thuốc vốn nhiều chủng loại, giá cả khó xác định lại chả có khó khăn gì phía các nhà quản lý nên nhanh chóng trở thành béo bở cho những kẻ nào muốn làm giàu bất chính. Bất kỳ ai, kể cả doanh nghiệp tư nhân, công ty trách nhiệm hữu hạn, không hề hoạt động trong lĩnh vực y tế, không hiểu biết tí ti gì về biệt dược cũng được tham gia nhập khẩu thuốc, miễn là có giấy phép. Đơn giản, gọn nhẹ nhất là nhập khẩu từng chuyến một, cứ thấy có lời là trực tiếp đặt hàng với hãng dược phẩm nước ngoài, sau đó phân phối độc quyền với giá cắt cổ, gặp phải loại thuốc trong nước sản xuất (theo quy định không được nhập khẩu nữa) họ lặng lẽ bò qua cửa ải bộ y tế, dùng cơn "mưa phong bì" từ cấp bộ xuống cấp sở, hòn, cục, rồi dưới sự "bày binh bố trận" của từng hãng, thông qua cả mạng lưới trình dược viên đông đảo, thuốc được tiếp thị đến tận tay toàn bộ hệ thống y bác sĩ trong bệnh viện và nhân viên cửa hiệu thuốc trên thị trường Hà Nội, bóp chết luôn cả tỷ tỷ viên thuốc nội như trường hợp đã bóp chết thuốc Neriolin của dược sĩ cấp cao Đỗ Tất Lợi.

Mối lợi kếch xù thu về từ tiền lời bán thuốc, thông qua 72 phép biến hóa của Tôn Hành Giả - từ việc tặng dụng cụ văn phòng, đồng hồ, sổ sách đến tổ chức hội thảo ở các... bãi biển, nhà hàng, thậm chí mời quan chức bệnh viện và lãnh đạo ngành đi nghỉ mát tham quan, kết hợp dự hội thảo giới thiệu thuốc ở nước ngoài...

Tất cả khoản "tích cực phí" được cộng dồn vào thành giá thuốc và dĩ nhiên người bệnh phải trả cả khoản tiền "ngu phí" cũng là chênh lệch phí đó. Phó giám đốc bệnh K (bệnh viện Lao trung ương, mang học hàm phó giáo sư, tiến sĩ) Đoàn Hữu Nghị cho biết: Trung bình một ngày bệnh viện K sử dụng khoảng 100 triệu đồng tiền thuốc (một tháng 3 tỉ đồng, tiền VN). Nguồn thuốc đến từ các nước có nền công nghiệp phát triển như Anh, Pháp, Italia. Cao nhất là ống thuốc Zoladex của Anh, trị ung thư tiền liệt tuyến, giá sấp sỉ 200 USD. Các loại dạng viên trị giá 40 -50 USD trị các bệnh ung thư phổi, gan...không hiếm...

Thử hỏi các bệnh viện khác như bệnh viện Saint paul, Việt Đức, Nhi Thụy Điển, Bạch Mai, Thanh Nhàn, Phụ Sản v.v... Số lượng tiền sử dụng thuốc một ngày là bao nhiêu" Cộng gộp tất cả các bệnh viện trong phạm vi thành phố lại sau mỗi tuần, mỗi tháng là bao nhiêu" và người dân Hà Nội cũng như 63 tỉnh thành cả nước đổ dồn về chữa bệnh phải trả cho khoản tiền chênh lệch này là bao nhiêu, không kể tiền tiêu cực phí cho chính nhân viên y sĩ, lao công bệnh viện, khi chỉ một mũi tiêm cũng phải lót tay 10.000 đồng, một lần thay băng 20.000 v.v bằng đúng một ngày lương của họ.

Trong thời đại khoa học phát triển như vũ bão, ngành y Việt Nam cũng như thế giới có những bước phát triển mới, phương tiện máy móc tối tân chưa từng thấy, nhưng lương tâm bác sĩ lại tồi đến mức không thể tồi hơn. Từ xưa đến nay, nghề y vốn được coi là một nghề cần thiết và vô cùng cao quý trong mọi nghề của trần gian, vì nó giúp người bệnh hồi phục trở lại, hòa nhập hữu ích với cộng đồng. Có sức khỏe là có tất cả, cho nên thế giới đã từng đúc tượng vàng về Hypôcrat, ông tổ của ngành y, để tôn vinh nghề này.

Tiếc thay những người có "mệnh thiên y", vừa thấu đáo về y lý, lại thông suốt về bệnh lý "bàn tay chạm vào đâu là ở đó nở hoa, kết trái, bệnh tật tiêu tan đến đấy... và cả những vị giáo sư bác sĩ, vốn coi y đức làm trọng, luôn tỏa cái vui vào bệnh nhân, giúp họ tin tưởng vào lương tâm, tay nghề... ở ba sáu phố phường Hà Nội bây giờ, ngày càng vắng bóng.

Tôi không phải là cái cột điện, nhưng với góc độ bệnh nhân, trong độ tuổi cút kít về già, từ tân hôn ngả màu... hoàng hôn, xe đời ga cuối đang chờ nên luôn phải chịu cảnh "một cổ hai tròng" cho đám lương y kiêm hà bá, thầy thuốc như mẹ mìn này. Thành thật rất muốn bỏ đi mà không có cách nào, đành chịu...

Và nếu không có những người bạn bè như chị và bà con hải ngoại đùm bọc, cưu mang, nhường cơm xẻ áo thì cũng như 50% bệnh nhân không may mắn của chế độ, phải đào mồ chôn mình giữa tuổi đời 45, 46, sau cả thời gian dài mặc sức kêu suông, hỡi người... vì không tiền.

Đống Đa 10-11-2006

Gửi ý kiến của bạn
Vui lòng nhập tiếng Việt có dấu. Cách gõ tiếng Việt có dấu ==> https://youtu.be/ngEjjyOByH4
Tên của bạn
Email của bạn
)
Hoa Kỳ đã bước sang tuần thứ ba của chiến tranh Iran. Mười ba binh sĩ Mỹ đã tử trận. Hàng ngàn thường dân Iran, bao gồm cả trẻ em, đã bỏ mạng. Các cuộc không kích liên tục diễn ra trên bầu trời Trung Đông, bất kể đó là trường học hay bệnh viện.
Ngay lối vào khu vực triển lãm tranh theo chủ nghĩa hiện thực lãng mạn ở bảo tàng Chrysler Museum of Art, Norfolk, Virginia, là bức tranh Washington Crossing the Delaware (ca. 1856–1871) của họa sĩ người Mỹ, George Caleb Bingham (1822–1979). Bức tranh này mô tả một thời khắc lịch sử của nước Mỹ trong thời lập quốc, nổi tiếng trong American Revolutionary War – Cuộc Cách Mạng Mỹ. Được vẽ vào năm 1871, tác phẩm Washington Crossing the Delaware tả cảnh George Washington cùng các binh sĩ của ông vượt qua sông Delaware vào năm 1776 (theo lịch sử là đêm 25-26/12/1776). Họa sĩ Bingham vẽ bức tranh này năm 1856, tức nhiều thập niên sau khi Cách Mạng Mỹ kết thúc, trong thời kỳ người Mỹ đang nghiền ngẫm về bản sắc quốc gia sau thời kỳ nội chiến. Trong suốt nhiều năm, bức tranh này nằm trong tình trạng dang dở, và phải đến tận mười tám năm sau kể từ khi bắt đầu thực hiện, nó mới thực sự được hoàn thiện.
Hai chính trị gia tham dự buổi bàn thảo lịch sử. Một theo bảo thủ. Một theo cấp tiến. Chính trị gia bảo thủ: Liên Hiệp Quốc hôm nay đông như lễ đăng quang của một hoàng đế mới. Tôi có mặt vì muốn nghe lời thật – từ một người đang làm tổng thống, và một kẻ từng dạy các ông vua cách không bị giết. Tôi tin: quyền lực là bản năng, đạo đức là trang sức. Chính trị gia cấp tiến: Tôi đến vì tò mò: thế kỷ 21 có còn chỗ cho triết lý của thế kỷ 16? Hay chỉ còn những bản sao mệt mỏi của lòng tham? Tôi mang sổ tay, anh ta mang cờ quốc gia.
Chế độ Cộng Sản Việt Nam vừa cho tiến hành cuộc bầu cử Quốc hội vào ngày 15 tháng Ba năm 2026. Xét về hình thức, họ vẫn tiếp tục duy trì một nghi thức chính trị quen thuộc đã tồn tại nhiều thập niên. Tuy nhiên, nếu đặt sự kiện này dưới góc nhìn pháp lý và so sánh với các chuẩn mực bầu cử tự do được công nhận rộng rãi trong luật quốc tế, thì nhiều vấn đề hạn chế lại tiếp tục bộc lộ. Những vấn đề đó không chỉ liên quan đến cách thức tổ chức bầu cử, mà còn liên quan đến bản chất pháp lý của quyền bầu cử, quyền ứng cử và nguyên tắc đại diện trong một cơ quan lập pháp. Theo các tiêu chuẩn quốc tế về bầu cử dân chủ, đặc biệt được ghi nhận trong International Covenant on Civil and Political Rights (ICCPR) – Công ước mà Việt Nam đã phê chuẩn – rằng mọi công dân phải có quyền tham gia vào việc quản lý đất nước thông qua các đại diện được bầu ra bằng các cuộc bầu cử định kỳ, tự do, công bằng và bằng bỏ phiếu kín.
Tại Diễn Đàn Kinh Tế Thế Giới ở Davos, Thụy Sĩ vào tháng 1 năm 2026, Tổng Thư Ký Liên Hiệp Quốc Antonio Guterres đã cảnh báo rằng pháp quyền ngày càng bị thay thế bởi “luật rừng,” trích lại theo bài viết “The Uncertainties of the New World Order Affect the Middle East” [Những Bất Ổn Của Trật Tự Thế Giới Mới Ảnh Hưởng Trung Đông] của Amal Mudallali. Lời cảnh báo của Tổng Thư Ký LHQ không phải bắt nguồn từ những suy diễn không thật mà là từ thực tế đang diễn ra trên thế giới hiện nay. Trật tự thế giới từ sau Thế Chiến Thứ Hai đã thay đổi nhiều lần vì sự cạnh tranh quyền lực trên thế giới của các siêu cường hay các liên minh khu vực. Nhưng nhờ lá chắn pháp quyền được thể hiện qua luật pháp quốc tế mà Mỹ là nước dẫn đầu xây dựng và duy trì nên suốt tám mươi năm qua thế giới đã có thể tương đối giữ được trật tự và sự ổn định để không rơi vào khủng hoảng nghiêm trọng. Tuy nhiên, mấy năm gần đây thế giới ngày càng bất ổn vì một vài cường quốc bất chấp luật pháp quốc tế đã dùng vũ lực quân sự
Phía Cửa Bắc chợ Bến Thành, có một người đàn ông mấy mươi năm qua rất quen thuộc với người Sài Gòn. Có thể người ta không biết tên ông là Tạ Hữu Ngọc, nhưng nhắc đến người thợ sửa giày ở chợ Bến Thành, người Sài Gòn sẽ nhớ ngay đến ông. Giới thương gia, nghệ sĩ thường mang những đôi giày sang trọng, đắt tiền, nhờ ông sửa lại, vừa chân, để họ tự tin sải bước. Đôi giày càng vừa chân, càng thoải mái, người ta càng tự tin bước đến vạch thành công. Thế mà ở trời Tây xa xôi, có một anh chàng, đã phải loay hoay sửa mãi đôi giày của mình, chỉ để…vừa chân một người khác.
Về Thụy Điển thăm nhà vài tuần, đi tàu điện, uống cà phê, lang thang qua những góc phố, vỉa hè. Nhìn cách xã hội ở đây vận hành, tôi nghĩ đến những cuộc tranh luận ồn ào vô căn cứ của người Việt ở Mỹ về “xã hội chủ nghĩa”. “Xã hội chủ nghĩa Bắc Âu” thực ra chẳng hề giống với thứ “xã hội chủ nghĩa” mà Việt Nam từng trải qua. Đây cũng không phải cái “xã hội chủ nghĩa” mà nhiều người Việt ở Mỹ thường mang ra chụp mũ trong những cuộc cãi vã chính trị. Ba khái niệm tưởng cùng tên, nhưng bản chất rất khác nhau. Chỉ là từ lâu chúng vẫn bị đánh đồng một sàng một cách vô tình hay cố ý.
Ngày 5.03.2026, Khalaf Ahmad Al Habtoor đã công bố một bức thư sắc bén và thẳng thừng (1) gửi tới Tổng thống Donald Trump liên quan đến Iran, cũng như tầm ảnh hưởng của Benjamin Netanyahu trong việc định hình chính sách của Mỹ. Mặc dù các chính phủ vùng Vịnh không công khai ủng hộ hay bác bỏ bức thư này, sự im lặng của họ đã được hiểu như một dấu hiệu cho thấy những mối quan ngại của Habtoor đang âm thầm cộng hưởng trong khu vực.
Ngày 8/10/2025, trang mạng xã hội White House đăng tấm ảnh của tổng thống, tay ôm chồng hồ sơ, bước đi khoan thai trong Bạch Cung dưới ánh nắng vàng nhẹ chiếu qua gương mặt, đủ để lộ vẻ đăm chiêu về một chiến lược “Make America Great Again.” Tấm hình nổi bật thêm với dòng chữ to “THE PEACE PRESIDENT.” Trong những tháng trước cuộc bầu cử tổng thống năm 2024, một lời hứa vang vọng khắp các tiểu bang “chiến trường”, lặp đi lặp lại trong các cuộc phỏng vấn trên truyền hình, tạo ra sự tin tưởng gần như tuyệt đối: “Tôi sẽ bảo đảm an toàn cho con gái, con trai của quý vị. Tôi vốn dĩ là tổng thống đầu tiên của nước Mỹ thời hiện đại không châm ngòi những cuộc chiến mới, ” ứng cử viên Donald Trump tuyên bố.
Chúng ta đang sống trong một thời kỳ khủng hoảng niềm tin sâu rộng, khi những biến cố dồn dập khiến nhiều người rơi vào trạng thái hoang mang. Gần đây, vụ án Jeffrey Epstein đã trở thành tâm điểm tranh luận toàn cầu, buộc công chúng phải nhìn lại hình ảnh của giới tinh hoa quyền lực trong chính trường và thương trường quốc tế – những tầng lớp từng được xem là biểu tượng của trí thức và các giá trị đạo đức trong thượng tầng xã hội. Nhiều sự thật được phơi bày, trong khi nỗ lực phục hồi công lý vẫn còn được chờ đợi thực thi.
NHẬN TIN QUA EMAIL
Vui lòng nhập địa chỉ email muốn nhận.