Hôm nay,  

Sống Từ Bi Giữa Trời Giông Bão

18/04/202500:00:00(Xem: 2792)

Hình-lớn-trang-nhất-02-JATAKA-Hoang-tu-tang-voi-trang

Món quà voi trắng của Vessantara (một tiền thân của Đức Phật Thích Ca), minh họa trên một cuộn giấy từ Kalasin, Thái Lan, năm 1975. Ảnh chụp lại của Giáo sư Leedom Lefferts.

 
Tháng tư là tháng kết thúc Cuộc chiến Việt Nam. Kết thúc không hẳn có nghĩa là chấm dứt bạo lực, thù hận, truy bức... Đó là chuyện của nửa thế kỷ trước, và có lẽ còn kéo dài trong tâm nhiều người còn sống hiện nay. Trong khi đó, thế giới chúng ta trong nhiều ngàn năm, tháng nào và ngày nào cũng có chiến tranh, chết chóc, căm thù. Vẫn đang có những cái chết hàng ngày ở Ukraine, Gaza, Myanmar và nhiều nơi khác. Bao giờ thế giới thực sự hòa bình? Đó là câu hỏi muôn đời sẽ vẫn được nêu lên, vì hình như thế giới sẽ không bao giờ ngưng chiến tranh.

Tôn giáo yêu chuộng hòa bình nhất là Phật giáo, nơi giáo lý bất hại được dạy trong tất cả các kinh điển, và là giới đầu tiên cho Phật tử. Cách lý giải đôi khi khác nhau, và những lựa chọn hành động hiển nhiên là khác nhau tùy theo hoàn cảnh. Khi Vua Trần Nhân Tông và các Phật tử nhà Trần, trong đó có Tuệ Trung Thượng Sỹ, quyết định ra trận chống quân phương Bắc để bảo vệ dân tộc cũng là một lựa chọn, cân nhắc theo giáo lý nhà Phật để bảo vệ dân tộc, chấp nhận một nghiệp sát vì lòng từ bi.  Hay là lựa chọn ra đi hay bạo động của các nhà sư Tây Tạng khi quân Trung Quốc xâm chiếm lãnh thổ trên vùng Hy Mã Lạp Sơn. Hay là lựa chọn dị biệt của các Phật tử trong nước Nga hiện nay khi bị tổng động viên để sang Ukraine “hành quân đặc biệt” mấy năm qua – có người trốn ra ngoài nước Nga, và có người tuân lệnh Tổng Thống Putin.

Kinh điển nhà Phật có nhiều trường hợp được ghi lại khi Phật tử đối diện với các lựa chọn bạo lực, khi bị đẩy vào giữa trời bão lửa. Trong đó, một chuyện nổi bật là trường hợp của ngài Sariputta (Xá Lợi Phất). Kinh Pháp Cú có hai bài kệ 389 và 390 do Đức Phật đọc lên là liên hệ tới chuyện này.

Nhà sư Sariputta thường được nhiều người khen ngợi vì tâm kham nhẫn và chịu đựng của ngài. Các học trò của ngài thường nói về ngài như thế này: “Thầy của chúng tôi là người có lòng kham nhẫn và sức chịu đựng cực độ. Nếu bị người khác chửi mắng hoặc thậm chí bị họ đánh đập, ngài không mất bình tĩnh mà vẫn điềm đạm, từ ái chịu đựng."

01 VUA ASHOKA

Hình trên là tranh tường ở Chùa Nava Jetavana, Công viên Jetavana, Shravasti, Uttar Pradesh, do Anandajoti chụp: Vua Asoka (áo xanh) ngồi trong Đại hội kết tập kinh điển Phật giáo lần thứ ba.


Nổi giận khi nghe lời ca ngợi nhà sư Sariputta, một Bà la môn có tà kiến đã tuyên bố với những người ngưỡng mộ ngài Sariputta rằng ông ta sẽ chọc giận ngài Sariputta. Vào lúc đó, nhà sư Sariputta xuất hiện, đang đi khất thực. Tích truyện Pháp Cú kể rằng người Bà la môn kia đuổi theo ngài, dùng tay đánh mạnh vào lưng ngài. Nhà sư Sariputta không ngoảnh lại xem ai là người đã tấn công mình mà vẫn tiếp tục đi như thể không có chuyện gì xảy ra. Nhìn thấy lòng độ lượng và sức kham nhẫn của vị cao tăng, vị Bà-la-môn kia vô cùng bàng hoàng. Ông quỳ xuống chân nhà sư Sariputta, thừa nhận rằng mình đã hành hung vị cao tăng và xin được tha thứ. Vị Bà-la-môn nói tiếp, "Thưa Tôn giả, nếu Tôn giả tha thứ cho tôi, xin hãy đến nhà tôi để khất thực."

Buổi tối, các nhà sư khác trình lên Đức Phật rằng Tôn giả Sariputta đã đến nhà một vị Bà-la-môn đã đánh ngài để khất thực. Hơn nữa, họ nhận thấy rằng vị Bà-la-môn này chắc chắn sẽ trở nên táo bạo hơn và ông ta cũng sẽ sớm hành hung các nhà sư khác. Đức Phật trả lời các Tỳ kheo đó, "Này các Tỳ kheo, một Bà-la-môn chân chính không đánh một Bà-la-môn chân chính khác; chỉ có một người đàn ông bình thường hoặc một Bà-la-môn bình thường mới đánh một vị A-la-hán trong cơn giận dữ và ác ý.” Sau đó, Đức Phật nói lên hai bài kệ. Bản dịch của Thầy Thích Minh Châu như sau:

389. "Chớ có đập Phạm chí!
Phạm chí chớ đập lại!
Xấu thay đập Phạm chí
Đập trả lại xấu hơn!"
.
390. "Đối vị Bà-la-môn,
Đây không lợi ích nhỏ.
Khi ý không ái luyến,
Tâm hại được chận đứng,
Chỉ khi ấy khổ diệt,"
.
Nghĩa là, người tu không làm hại bất kỳ ai, và khi tâm hại biến mất thì lúc đó sầu khổ biến mất. Người tu sẽ không đánh trả, ngay cả khi bị hành hung vô lý. Đó là nội dung của hai bài Kệ Pháp Cú trên. Đó là một lý do cho thấy đa số Phật tử đều có tâm chủ hòa, trừ trường hợp bị đẩy vào đường cùng. Trường hợp các Phật tử nhà Trần ra trận, kể cả các đại Thiền sư như các vua Trần, và cả Tuệ Trung Thượng Sỹ, là một đón nhận sát nghiệp vì lòng từ bi. Vì không thể để người dân bị giết, bị nô lệ lao động, phải bị lập lại thời nô lệ nhiều trăm năm trước, một viễn ảnh theo Bình Ngô Đại Cáo ghi qua lời Nguyễn Trải về khổ nạn, theo bản dịch Ngô Tất Tố:

"...Bại nhân nghĩa nát cả đất trời.
Nặng thuế khoá sạch không đầm núi.
Người bị ép xuống biển dòng lưng mò ngọc, ngán thay cá mập thuồng luồng.
Kẻ bị đem vào núi đãi cát tìm vàng, khốn nỗi rừng sâu nước độc.
Vét sản vật, bắt dò chim trả, chốn chốn lưới chăng.
Nhiễu nhân dân, bắt bẫy hươu đen, nơi nơi cạm đặt."
 
Trong cốt tủy, người tu phải luôn luôn giữ tâm từ bi, cho dù là đang đứng giữa trời mưa đạn. Bởi vì, chính tâm mình sẽ là nghiệp đưa mình đi. Kinh SN 42.3 ghi lời Đức Phật dạy một chiến binh thời đó (thời nhân loại chưa có bom, chưa có súng đạn) rằng chính ý nghĩ trong tâm mình sẽ dẫn tới các cảnh tương lai, trích bản dịch của Thầy Thích Minh Châu:

Này Chiến đấu sư, đối với chiến đấu viên nào trong chiến trường hăng say, tinh tấn, tâm của vị ấy trước đó phải có những ý nghĩ thấp kém, ác ý, ác nguyện như sau: “Mong rằng các loài hữu tình ấy bị giết, bị bắt, bị tàn sát, bị tàn hại!”, hay: “Mong họ chớ có tồn tại!” Do vị ấy hăng hái, tinh tấn như vậy, nếu vị ấy bị người khác tàn sát, đánh bại, thời người ấy, sau khi thân hoại mạng chung, bị sanh vào địa ngục tên là Saràjità. Nếu người ấy có tà kiến như sau: “Vị chiến đấu viên nào giữa chiến trường hăng say, tinh tấn; do hăng say, tinh tấn như vậy, bị người khác tàn sát, đánh bại, vị ấy, sau khi thân hoại mạng chung, được sanh cọng trú với chư Thiên tên là Saràjità”. Như vậy là tà kiến. Ai rơi vào tà kiến này, này Chiến đấu sư, Ta nói rằng, người ấy chỉ có một trong hai sanh thú: Một là địa ngục, hai là súc sanh.” (hết trích)

03 JATAKA Tibetan painting

Tranh vẽ từ thế kỷ 18 của Phật Giáo Tây Tạng, bán đấu giá ngày 18/9/2013 ở công ty Christie’s: Đức Phật ngồi trên bệ hoa sen trên ngai sư tử sơn mài vàng và đỏ, bao quanh bởi ba câu chuyện tiền thân. 


Một câu chuyện Phật giáo kể về một thuyền trưởng một chiếc phà đang chở 500 vị Bồ tát (những hành giả tu theo hạnh Bồ Tát) trong kiếp đó đang là những thương gia. Một tên cướp trên tàu đã lên kế hoạch giết tất cả mọi người và để cướp hàng hóa của tàu. Thuyền trưởng, chính là một vị Bồ tát tên là Đại Bi (một tiền thân của Đức Phật Thích Ca Mâu Ni), đã nhìn thấy ý định giết người của người đàn ông và nhận ra rằng tội ác này sẽ dẫn đến sự đày đọa hàng triệu năm trong địa ngục cho kẻ giết người. Với lòng từ bi của mình, thuyền trưởng đã sẵn sàng chịu sự đày đọa của địa ngục bằng cách giết tên cướp để ngăn chặn sự đau khổ nghiệp chướng mà tên cướp sẽ chịu đựng nếu y giết 500 người đang tu hạnh Bồ Tát. Lòng từ bi của thuyền trưởng là vô tư; động cơ của ông hoàn toàn vô ngã, nhưng ông cũng sẽ gánh chịu nghiệp sát.

Đức Đạt Lai Lạt Ma đời thứ 14 khi phân tích câu chuyện trên, từng nói rằng, cũng nên tránh ngay cả cái lựa chọn “giết người vì lòng từ bi” nếu có thể chọn cách khác, vì ngay như thế cũng có nghiệp dữ. Ngài nói như thế với học giả Hank Troemel trong cuộc phỏng vấn ngày 6 tháng 5 năm 1994, về sau được in lại trong tuyển tập do Hank Troemel biên tập, nhan đề “Theosophie und Buddhismus” (Satteldorf: Adyar Verlag, 1994).

Đức Đạt Lai Lạt Ma nhận định về việc giết người (thí dụ, giết một kẻ sắp giết người hàng loạt) trong những trường hợp đặc biệt vì động cơ thuần túy của lòng từ bi: “Nếu ai đó quyết tâm phạm một tội ác nào đó sẽ tạo ra nghiệp chướng tiêu cực, và nếu không có lựa chọn nào khác để ngăn cản người này phạm tội và do đó nghiệp chướng cực kỳ tiêu cực sẽ xảy ra trong suốt các kiếp tương lai của người đó, thì động cơ thuần túy của lòng từ bi về mặt lý thuyết sẽ biện minh cho việc giết người này.”

Đức Đạt Lai Lạt Ma nhấn mạnh rằng nói chung "tốt hơn là không nên sử dụng phương pháp này", vì "giết người vì lòng từ bi" (killing out of mercy) là một nguyên tắc "luôn có nguy cơ gây ra những lý do và cảm xúc tiêu cực".

Nhà sư Tây Tạng Chagdud Tulku Rinpoche viết về những gì nhìn thấy trên thế giới hiện nay:

“Bây giờ, khi tôi viết những dòng này, Trung Đông đang bùng cháy vì chiến tranh. Xem tin tức trên truyền hình, tôi cầu nguyện rằng cuộc chiến này sẽ ngăn chặn những cuộc chiến lớn hơn, những đau khổ lớn hơn và những người phản đối chiến tranh sẽ phát triển các kỹ năng để mang lại hòa bình đích thực. Chúng ta không thể phân biệt hoàn toàn động cơ của bất kỳ người tham gia nào vào cuộc chiến, nhưng không có khả năng nhiều người có khả năng mang lại sự giải thoát tối thượng cho cả bạn bè và kẻ thù, hoặc họ sẽ có thể duy trì lòng từ bi vô tư của Bồ tát khi họ tham gia vào cuộc xung đột.

“Điều chúng ta có thể biết là tâm trí của chính mình. Chúng ta có thể tuân thủ các lý tưởng Phật giáo trong các hoạt động của mình, cho dù chúng ta là người chiến đấu, người biểu tình, người ra quyết định hay nhân chứng quan tâm. Chúng ta có thể cầu nguyện rằng bất kỳ đức tính nào trong tình huống này đều chiếm ưu thế, rằng hòa bình thực sự sẽ được thiết lập. Đức Phật đã dạy rằng trong vô số kiếp, tất cả chúng sinh đều là cha mẹ của chúng ta và đã cho chúng ta thấy lòng tốt lớn lao. Bây giờ họ đã rơi vào sự thống trị của chất độc của tâm là tham muốn, sân giận, vô minh và họ phải chịu đau khổ khủng khiếp. Liệu chúng ta có thể loại trừ bất kỳ ai khỏi lòng trắc ẩn của mình nhiều hơn mặt trời có thể loại trừ bất kỳ ai khỏi sự ấm áp và rạng rỡ của các tia sáng của nó không.

“Khi chúng ta khao khát hòa bình, bây giờ và trong các chu kỳ tương lai của sự tồn tại của mình, chúng ta không thể phủ nhận khả năng rằng mỗi người chúng ta có thể phải đối mặt với nhu cầu can thiệp đầy giận dữ để ngăn chặn tác hại lớn hơn. Mong rằng việc khai thác tinh thần mà chúng ta đang thực hiện hiện nay cho phép chúng ta bước vào những tình huống như vậy mà không bị ảo tưởng về chất độc của tâm. Mong rằng chúng ta hành động với lòng trắc ẩn tự phát để mang lại sự giải thoát cuối cùng cho tất cả mọi người, cả nạn nhân và kẻ xâm lược."

hình nhỏ 2 cột phía dưới trang nhất 04 JATAKA bowl
Một tô tròn khắc họa câu chuyện Vessantara Jataka, bằng hợp kim bạc, khoảng Thế kỷ 18-19. Myanmar.

Điều đẹp nhất trong lịch sử nhân loại luôn luôn là hành động buông vũ khí để trở thành một chiến sĩ cho hòa bình. Khi đã ý thức rằng bạo lực là nghiệp bất thiện, và quyết định quy y theo Phật giáo sau một trận chiến tàn sát hàng trăm ngàn người, Ashoka Đại đế (trong Phật giáo thường gọi là Vua A Dục) đã trở thành một hành giả tinh tấn và là một người hoằng pháp vĩ đại. Cuộc chiến đó có tên là Cuộc chiến Kalinga War, kết thúc vào khoảng năm 261 trước Tây lịch, diễn ra ở Ấn Độ cổ đại giữa Đế chế Maurya dưới thời Ashoka Đại đế và Kalinga, một vương quốc phong kiến ​​độc lập nằm ở bờ biển phía đông, thuộc tiểu bang Odisha ngày nay và các vùng phía bắc Andhra Pradesh. Lịch sử kể rằng trận chiến diễn ra trên đồi Dhauli ở Dhauli nằm trên bờ sông Daya là một trong những trận chiến lớn nhất và đẫm máu nhất trong lịch sử Ấn Độ. Đây là cuộc chiến lớn duy nhất mà Vua Ashoka tham gia sau khi lên ngôi, cuộc chiến đã cướp đi sinh mạng của gần 250.000 người.

Lý do xâm lược Kalinga là để mang lại hòa bình và quyền lực. Kalinga nằm dưới sự cai trị của Đế chế Nanda, những người đã cai trị khu vực này từ thủ đô của họ ở Magadha cho đến khi họ sụp đổ vào năm 321 trước Tây lịch. Ông nội của Vua Ashoka là Chandragupta đã cố gắng chinh phục Kalinga nhưng đã bị đẩy lùi. Vua Ashoka tự đặt ra cho mình nhiệm vụ chinh phục và sáp nhập Kalinga vào Đế chế Maurya rộng lớn ngay sau khi ông đã khẳng định được vị thế của mình là Hoàng đế.

Chiến tranh Kalinga diễn ra giữa Đế chế Maurya và quốc gia Kalinga, một vương quốc quan trọng kiểm soát các tuyến đường thương mại với Đông Nam Á. Ashoka, vua Maurya, muốn chiếm Kalinga nên đội quân hùng mạnh của ông đã đến đó vào năm 262 trước Công nguyên. Cuộc chiến đã kết thúc vào năm thứ tám dưới triều đại của Ashoka, theo Sắc lệnh Ashoka của chính ông, có lẽ là vào năm 261 trước Tây lịch. Sau một trận chiến đẫm máu giành ngai vàng sau cái chết của cha mình, Ashoka đã thành công trong việc chinh phục Kalinga – nhưng hậu quả của sự tàn bạo đã thay đổi quan điểm của Ashoka về chiến tranh và khiến ông cam kết không bao giờ tiến hành một cuộc chiến tranh xâm lược nữa.

Theo Megasthenes, nhà sử học Hy Lạp tại triều đình Chandragupta Maurya, những người cai trị Kalinga có một đội quân hùng mạnh gồm bộ binh, kỵ binh và voi. Sau năm đó, 150.000 nam nữ liên hệ “chế độ cũ” đã bị trục xuất ra khỏi Kalinga và buộc phải “đi kinh tế mới” – phải làm việc để dọn sạch các vùng đất hoang để định cư trong tương lai, và họ bị cấm không bao giờ được trở về quê hương cũ của mình. Con cháu của những người Kalinga chiến bại sau đó di cư đến Sindh. Từ đó, họ di cư đến Ba Tư, Lưỡng Hà, Ai Cập và Châu Âu. Con cháu của họ có thể cũng là người Roma của Châu Âu.

Mặc dù đã giành chiến thắng trong cuộc chiến, Vua Ashoka nhận ra sự vô ích của chiến tranh. Ông đã chứng kiến ​​cảnh đổ máu và đau khổ của gia đình những người lính và thề sẽ không bao giờ chiến đấu nữa. Ông đã cải sang Phật giáo và dành phần đời sau này để giúp đỡ thần dân của mình. Ông đã ngừng chinh phục sau khi giành chiến thắng trong một cuộc chiến. Ông đã viết những dòng chữ khắc trên nhiều trụ đá vì muốn con trai và cháu trai của mình cũng không bao giờ nghĩ đến chiến tranh. Ông quyết định tuân theo Dhamma (Chánh Pháp), một quy tắc ứng xử chung và cũng được truyền cảm hứng từ những lời dạy của Đức Phật. Ông đã cử nhiều học giả Phật giáo đến những vùng đất xa xôi để truyền bá Phật pháp. Người ta nói rằng hàng trăm nghìn người đã chết trong cuộc chiến này. Nhiều chỉ dụ trên trụ cột và đá đã được viết về tội lỗi mà ông cảm thấy sau khi chứng kiến ​​cảnh đổ máu. Trong 30 năm cuối đời, Vua A Dục không còn nhìn thấy chiến tranh nữa. Ông đã từ bỏ chính sách DIGVIJAY (chinh phục lãnh thổ) và áp dụng DHARMAVIJAY (chinh phục bằng pháp).

Truyền thống Phật giáo Sri Lanka (Tích Lan) kể rằng Vua A Dục có một người con trai tên là Mahinda; Hoàng tử này xuất gia, được cử đến Sri Lanka với tư cách là một nhà truyền giáo Phật giáo. Tuy nhiên, nhà sư Huyền Trang, người hành hương từ Trung Quốc để học pháp và thỉnh kinh, viết rằng Mahinda là em trai của  Vua A Dục, chứ không phải con trai.

Cũng theo lịch sử Sri Lanka, Vua Ashoka có một người con gái tên là Sanghamitta, vị công chúa này cũng xuất gia, về sau cũng hướng dẫn một phái đoàn ni sang truyền giáo ở Sri Lanka.

Theo sách Ashokavadana, Vua Ashoka có một người anh trai cùng cha khác mẹ tên là Susima. Nhưng lịch sử Sri Lanka ghi rằng người anh trai này tên là Tissa, thời trẻ từng sống một cuộc sống xa hoa, về sau xuất gia và trở thành một vị A la hán. Bản Chú giải Theragatha (Trưởng Lão Tăng Kệ) gọi người anh trai này là Vitashoka. Tên gọi khác nhau, nhưng có lẽ chỉ là một vị cao tăng.

Phước đức của một dân tộc là thái bình, thịnh trị. Bất hạnh của một dân tộc là khi rơi vào chiến tranh. Lời dạy của Đức Phật là Phật tử phải sống hạnh từ bi, yêu thương khắp các cõi chúng sanh. Ngay cả khi đất nước có rơi vào một thời kỳ giông bão hận thù, ngọn lửa từ bi cũng vẫn luôn luôn phải là ánh sáng soi đường cho người con Phật.

Sử gia Trần Quang Chỉ của Trung Quốc, thời nhà Minh, đã viết lời ca ngợi nếp sống đơn giản và lòng thương dân Vua Trần Nhân Tông (1258-1308) của Việt Nam, người sau nhiều thập niên chinh chiến về cuối đời đã xuất gia và sáng lập dòng Thiền Trúc Lâm: “Cho đến những năm cuối đời, ngài đi chẳng dùng xe, nắng không mũ nón, hình dung khô gầy, áo quần lam lũ, con dân trong nước gặp ngài, chẳng ai biết được đấy là vua.”

Mỗi buổi sáng, tôi thức dậy, mở máy tính lên, và ngồi dịch tin. Tôi không đếm nổi, và không nhớ nổi, số người chết trong các trận đánh hôm qua và hôm nay ở Ukraine, và rồi những người bị vùi lấp dưới các trận bom ở Gaza. Tôi ngồi gõ lên bản tin những con số, năm 2022, rồi năm 2025... và đôi khi tôi gõ chệch dòng chữ khi những tiếng bom trên màn hình TV làm ngón tay tôi run rẩy. Làm sao tôi dịch được nỗi đau của những bà mẹ ngồi bên cửa và lo sợ chờ tin con nơi chiến trường. Tôi nhìn thấy các bà mẹ ngồi như thế nơi các ngạch cửa ở Ukraine, Gaza, Myanmar... Một thời quê nhà tôi, hơn nửa thế kỷ trước, đã có những bà mẹ trên khắp nước Việt Nam cũng ngồi bên cửa như thế chờ tin con. Cõi này đầy nước mắt, có phải không.

Nguyên Giác Phan Tấn Hải
  

Gửi ý kiến của bạn
Vui lòng nhập tiếng Việt có dấu. Cách gõ tiếng Việt có dấu ==> https://youtu.be/ngEjjyOByH4
Tên của bạn
Email của bạn
)
Chúng ta đang sống trong một xã hội đầy bất an vì hận thù, chiến tranh, kỳ thị chủng tộc và giới tính, tàn bạo đối với di dân, nhẫn tâm đối với những người nghèo khổ, phát tán thông tin độc hại, tuyên truyền các chủ thuyết âm mưu, v.v… Chính vì thế, chúng ta cần sự bình an và tử tế trong cuộc sống hàng ngày hơn bao giờ hết! Đây là lý do tại sao khi cuộc hành trình “Đi Bộ Vì Hòa Bình” [Walk for Peace] của Tăng Đoàn Phật Giáo Nguyên Thủy (Theravada), gồm khoảng 20 vị Tăng thuộc nhiều sắc dân như Thái Lan, Lào, Việt, do Sư Tuệ Nhân (Venerable Bhikkhu Pannakara) lãnh đạo, bắt đầu vào ngày 26 tháng 10 năm 2025 từ Chùa Hương Đạo, thành phố Fort Worth, Texas đã được hàng ngàn người khắp nước Mỹ chú ý và ủng hộ, mà trong đó có các giới chức lập pháp và hành pháp liên bang, tiểu bang và địa phương nơi đoàn bộ hành đi qua. Sư Tuệ Nhân là người Mỹ gốc Việt đã đến định cư tại Hoa Kỳ năm 1997. Sư xuất gia với Hòa Thượng Bửu Đức, vị sáng lập và Trụ Trì Chùa Hương Đạo.
Tổ Đình Chùa Huệ Quang do Hòa Thượng Thích Minh Mẫn khai sơn, viện chủ đã long trọng tổ chức Lễ Hiệp Kỵ, Lịch Đại Tổ Sư và họp mặt Chư Tôn Đức Tăng Ni, buổi lễ diễn ra vào lúc 10 giờ sáng Thứ Năm ngày 25 tháng 12 năm 2025. Chứng minh tham dự buổi lễ khoảng 250 chư tôn Giáo Phẩm, Chư Tôn Đức Tăng, Chư Tôn Đức Ni và rất đông đồng hương Phật tử. Chư Tôn Đức chứng minh có quý Trưởng Lão: Hòa Thượng Thích Phước Thuận, HT. Thích Minh Tuyên, HT. Thích Thiện Long, HT. Thích Minh Mẫn, HT. Thích Viên Lý, HT. Thích Giác Ngôn, HT. Thích Minh Trí, HT. Thích Thông Hải, HT. Thích Quảng Mẫn, HT. Thích Tâm Thành… cùng chư Thượng Tọa Đại Đức Tăng, quý Ni Trưởng, Ni Sư cùng chư tôn đức Ni.
Sư ra đi một ngày mùa đông phương ngoại, trời mưa sụt sùi tiễn đưa ngày tang lễ. Di sản là những trang sách cặm cụi ngày đêm phiên dịch, sáng tác; và một nụ cười tự tại, hiền hòa, khó quên.
Đi bộ cầu nguyện, hành hương, tam bộ nhất bái, nhất bộ nhất bái…là những phương pháp thực hành vốn có lâu đời trong Phật giáo. Người Tây Tạng hàng ngày vẫn thực hành nhất bộ nhất bái, hàng năm đi bộ nhiễu quanh cung Potala ở Lhasa hoặc đi vòng quanh núi thiêng Kailash.
Trong một thế giới đầy biên giới, tường rào và những đoàn người lên đường tìm chốn sống còn, bài viết của Linh mục Michael Quang Nguyễn SVD gợi mở một suy tư sâu sắc về mầu nhiệm Giáng Sinh qua hình ảnh “Thiên Chúa Di Dân”. Từ bước chân vượt biên của Ngôi Lời nhập thể đến hành trình ly hương của con người hôm nay, tác giả cho thấy di dân không chỉ là một thực tại xã hội mà còn là ơn gọi của đức tin — nơi Thiên Chúa tự mặc khải như Đấng đồng hành, cùng chia sẻ và chúc phúc cho lịch sử đang chuyển dịch của nhân loại.
Theo tin tức từ tu viện Lộc Uyển, một trường trung tiểu học tư thục mang tên Thích Nhất Hạnh School of Interbeing sắp mở cửa tại vùng Escondido Nam California. Mục đích của trường là không chỉ giảng dạy kiến thức phổ thông như các trường khác, mà còn chú ý hướng dẫn đời sống tinh thần; để các em học sinh sau này có thể vừa thành công trong nghề nghiệp, vừa có khả năng chế tác hạnh phúc cho chính mình, cho gia đình và cho cộng đồng xã hội.
Trong không khí trang nghiêm và hoan hỷ của ngày Phật sự trọng đại, Đại Hội Hoằng Pháp kỳ III của Giáo Hội Phật Giáo Việt Nam Thống Nhất (GHPGVNTN) đã được long trọng cử hành trực tuyến qua hệ thống Zoom Meeting vào Thứ Sáu, ngày 19 tháng 12 năm 2025 (nhằm ngày 30 tháng 10 năm Ất Tỵ, Phật lịch 2569).
Một đời 80 năm của Sư, nói năng như Chánh pháp, im lặng như Chánh pháp. Nói hay im cũng vì Phật Pháp, vì lợi ích của số đông. Không ngại lên tiếng trước bạo quyền dù phải đối diện với án tử hình; và kham nhẫn im lặng đối với đồng đạo, tôn sư dù phải chịu bao điều tiếng thị-phi, oan ức. Có thể nói công hạnh như vậy là công hạnh của hàng Thánh giả.
Chớm thu hiu hắt đồi hoang cũ / Lối mòn cỏ lấp dấu chân xưa / Người đi vạn dặm không tung tích / Để lại muôn lời rơi như mưa.
Ông tên Nguyễn Văn Lịch quê quán tỉnh Mỹ Tho, theo nghiệp võ làm đến chức Quản Cơ triều đình Việt Nam. Khi Pháp chiếm ba tỉnh miền Đông, đau lòng trước cảnh nước mất nhà tan, đồng bào đau khổ. Ngài quy tụ nghĩa binh đánh phá quân Pháp bằng chiến thuật du kích, khôn ngoan, can đảm đã đạt được nhiều chiến thắng vẻ vang. Ông Nguyễn Trung Trực còn là thủ lĩnh phong trào chống Pháp vào cuối thế kỷ 19. Tên tuổi của ông là niềm tự hào của người dân Nam bộ và của cả nước với câu nói bất hủ : “Bao giờ người Tây nhổ hết cỏ nước Nam, thì mới hết người Nam đánh Tây”.


Kính chào quý vị,

Tôi là Derek Trần, dân biểu đại diện Địa Hạt 45, và thật là một vinh dự lớn lao khi được đứng nơi đây hôm nay, giữa những tiếng nói, những câu chuyện, và những tâm hồn đã góp phần tạo nên diện mạo văn học của cộng đồng người Mỹ gốc Việt trong suốt một phần tư thế kỷ qua.
Hai mươi lăm năm! Một cột mốc bạc! Một cột mốc không chỉ đánh dấu thời gian trôi qua, mà còn ghi nhận sức bền bỉ của một giấc mơ. Hôm nay, chúng ta kỷ niệm 25 năm Giải Viết Về Nước Mỹ của nhật báo Việt Báo.

Khi những người sáng lập giải thưởng này lần đầu tiên ngồi lại bàn thảo, họ đã hiểu một điều rất căn bản rằng: Kinh nghiệm tỵ nạn, hành trình nhập cư, những phức tạp, gian nan, và sự thành công mỹ mãn trong hành trình trở thành người Mỹ gốc Việt – tất cả cần được ghi lại. Một hành trình ý nghĩa không những cần nhân chứng, mà cần cả những người viết để ghi nhận và bảo tồn. Họ không chỉ tạo ra một cuộc thi; họ đã và đang xây dựng một kho lưu trữ. Họ thắp lên một ngọn hải đăng cho thế hệ sau để chuyển hóa tổn thương thành chứng tích, sự im lặng thành lời ca, và cuộc sống lưu vong thành sự hội nhập.

Trong những ngày đầu ấy, văn học Hoa Kỳ thường chưa phản ánh đầy đủ sự phong phú và đa dạng về kinh nghiệm của chúng ta. Giải thưởng Viết Về Nước Mỹ thực sự đã lấp đầy khoảng trống đó bằng sự ghi nhận và khích lệ vô số tác giả, những người đã cầm bút và cùng viết nên một thông điệp mạnh mẽ: “Chúng ta đang hiện diện nơi đây. Trải nghiệm của chúng ta là quan trọng. Và nước Mỹ của chúng ta là thế đó.”


Suốt 25 năm qua, giải thưởng này không chỉ vinh danh tài năng mà dựng nên một cộng đồng và tạo thành một truyền thống.
Những cây bút được tôn vinh hôm nay không chỉ mô tả nước Mỹ; họ định nghĩa nó. Họ mở rộng giới hạn của nước Mỹ, làm phong phú văn hóa của nước Mỹ, và khắc sâu tâm hồn của nước Mỹ. Qua đôi mắt họ, chúng ta nhìn thấy một nước Mỹ tinh tế hơn, nhân ái hơn, và sau cùng, chân thật hơn.

Xin được nhắn gửi đến các tác giả góp mặt từ bao thế hệ để chia sẻ tấm chân tình trên các bài viết, chúng tôi trân trọng cảm ơn sự can đảm của quý vị. Can đảm không chỉ là vượt qua biến cố của lịch sử; can đảm còn là việc ngồi trước trang giấy trắng, đối diện với chính mình, lục lọi ký ức đau thương sâu đậm, và gửi tặng trải nghiệm đó đến tha nhân. Quý vị là những người gìn giữ ký ức tập thể và là những người dẫn đường cho tương lai văn hóa Việt tại Hoa Kỳ.

Với Việt Báo: Xin trân trọng cảm ơn tầm nhìn, tâm huyết, và sự duy trì bền bỉ giải thưởng này suốt một phần tư thế kỷ.
Khi hướng đến 25 năm tới, chúng ta hãy tiếp tục khích lệ thế hệ kế tiếp—những blogger, thi sĩ, tiểu thuyết gia, nhà phê bình, nhà văn trẻ—để họ tìm thấy tiếng nói của chính mình và kể lại sự thật của họ, dù đó là thử thách hay niềm vui. Bởi văn chương không phải là một thứ xa xỉ; đó là sự cần thiết. Đó là cách chúng ta chữa lành, cách chúng ta ghi nhớ, và là cách chúng ta tìm thấy nơi chốn của mình một cách trọn vẹn.

Xin cảm ơn quý vị.

NHẬN TIN QUA EMAIL
Vui lòng nhập địa chỉ email muốn nhận.