Hôm nay,  

Tháng 6, Tiền Nhân Và Thân Phụ

19/06/202207:46:00(Xem: 3726)

Tạp ghi -- Ngày Của Cha

anh-hung-nguyen-thai-hoc-400x300

                                                                                                    


Ở những quốc gia có "Ngày Của Cha" (Father’s Day) vào ngày chủ nhật thứ ba của tháng 6, người ta đều nhớ đến thân phụ của mình (dù còn sinh tiền hay đã quá vãng). Với người Việt Nam, tháng 6 còn mang về hình ảnh hào hùng của Nguyễn Thái Học và các anh hùng Việt Nam Quốc Dân Đảng với những lời cuối "Việt Nam muôn năm".

 

Với người Việt lưu vong, tháng 6 còn mang về hoài niệm vừa đáng tự hào, vừa đầy nỗi ngậm ngùi: ngày Quân lực Việt Nam Cộng Hòa 19 tháng 6.

 

Riêng chúng tôi, mỗi tháng 6, chúng tôi nhớ Ba của mình hơn bao giờ hết chỉ đơn giản là vì ngày chúng tôi còn nhỏ, Ba vẫn kể chuyện anh hùng Nguyễn Thái Học và lời nói đầy khí phách của một thanh niên 28 tuổi "Không thành công cũng thành nhân”. Câu chuyện này, thế hệ của chúng tôi – may mắn được học bậc Tiểu học (cấp 1/ Elementary school) dưới thời VNCH – cũng nghe kể nhiều lần trong lớp học với không khí trầm buồn có nước mắt tiếc thương các anh hùng VNQDĐ của cả Thầy lẫn trò. Một câu chuyện lịch sử nghe hoài không bao giờ chán.

 

Mà không chỉ có thế hệ chúng tôi, các thế hệ khác sinh ra trong thế  kỷ 20 (cùng thế kỳ với các anh hùng VNQDĐ) được đào tạo từ nền giáo dục nhân bản của VNCH  đều ít nhiều được thừa hưởng tinh thần yêu nước và khí thế của Nguyễn Thái Học.

 

Tháng 6 dương lịch hằng năm luôn nhắc nhớ quốc tang Yên Bái có những người Việt Nam tuổi chưa đến 30 đã hy sinh vì Tổ quốc. (Người trẻ nhất là Đỗ Thị Tâm vừa tròn 18 tuổi khi tự sát trong tù để bảo toàn khí tiết và sự an nguy của các đồng chí của mình).

 

 

Tháng 6 cũng gợi nhớ ngày Quân Lực VNCH 19/6, ngày khai sinh của một quân đội non trẻ, oai hùng đã giữ được hai mươi năm tự do cho miền Nam.

 

Vào mỗi tháng 6, hình ảnh của các người cha luôn rõ nét hơn bao giờ hết, những người cha đã làm hết sức để các con có một đời sống bình an, hạnh phúc, dù đôi  khi “I do my best but it’s not good enough” .

 

Nhân tháng 6 man mác ngậm ngùi, xin ghi lại một chuyện thật có đủ màu sắc của một người Việt Nam thừa hưởng được tinh thần "không thành công cũng thành nhân", tính kỷ luật của một cựu sĩ quan QLVNCH, và tấm lòng của một người cha.

 

*

 

Ngược dòng thời gian về đầu thập niên, "chàng tuổi trẻ" LT Thịnh vừa xong Trung học, "xếp bút nghiên theo việc đao cung" trong tình hình Quân đội VNCH đang cần tuyển mộ nhiều thanh niên trẻ vào quân đội để bảo vệ tự do và nền giáo dục nhân bản rất non trẻ của miền Nam.

  

Anh Thịnh vào quân trường Thủ Đức, được huấn luyện với hơn một ngàn Sinh Viên Sĩ Quan khóa 17. Ngày 23 tháng 10 năm 1964, Chuẩn úy  LT Thịnh ra trường và được binh chủng Thủy Quân Lục Chiến tuyển mộ nhờ chiều cao "cò hương" hơn hẳn các tân Chuẩn úy khác.

 

Thế là từ đó Chuẩn úy Thịnh (sau này trở thành Thiếu úy, Trung úy, Đại úy, rồi Thiếu tá) bắt đầu đời sống của một người lính Tổng trừ bị trong một đất nước chiến tranh. Suốt 11 năm dài (1964-1975), ông Thịnh hình như chỉ mặc quân phục. Hết địa danh này đến địa danh khác, trải dài từ phía Nam vĩ tuyến 17 đến tận Cà Mau, cùng với quân đội VNCH, đặc biệt là các binh chủng tác chiến (Thủy Quân Lục Chiến và Nhảy Dù), ông Thịnh đã hoàn thành sứ mạng của QLVNCH "bảo quốc an dân", không có giờ nghĩ đến tình riêng.

 

Đơn vị của Trung úy Thịnh được bổ sung bảo vệ Bưu Điện Trung ương ở Sài gòn. Giữa rừng sâu hay ngay trung tâm Sài Gòn, ông Thịnh và đồng đội vẫn làm cùng nhiệm vụ, vẫn trong quân phục, vẫn có vũ khí sẵn sàng chiến đấu. Cái khác duy nhất là ở tiền tuyến chỉ có rừng cây, bầu trời, và đồng đội cùng đối phương; giữa Sài Gòn còn có dân chúng và nhân viên Bưu Điện.

 

Giữa một Sài Gòn chiến tranh có giới nghiêm, có những người lính tổng trừ bị túc trực để đẩy Việt Cộng ra khỏi thủ đô miền Nam, ông Trung úy Thủy Quân Lục Chiến lọt vào mắt xanh của một cô nhân viên Bưu điện xinh xắn. Không lâu sau đó, họ có một đám cưới đơn giản, nhưng đầy đủ nghi lễ cổ truyền, và ấm cúng với bên đàng trai đa số là lính TQLC bạc màu áo trận. Họ từ mặt trận bay về Sài Gòn về dự hôn lễ của đồng đội, rồi quay ngay lại mặt trận giữa một đất nước chiến tranh. Chú rể cũng chỉ được ở lại Sài Gòn lâu hơn họ dăm ba ngày, Trung úy Thịnh từ giã gia đình nhỏ, bỏ lại cô vợ mới cưới sau lưng, quay ngay ra trận với đồng đội, với nhiệm vụ của một người lính thời chiến.

 

Tất cả mọi thứ xảy ra nhanh như chớp mắt. Chẳng ai có thì giờ than phiền tại sao mình phải hy sinh nhiều thứ, ngay cả những năm tháng đẹp nhất đời người. Đất nước đang có chiến tranh, những thiệt hại nhân mạng hằn sâu trong tâm trí của một vài thế hệ. Những mất mát của mỗi cá nhân không đáng kể so với thiệt thòi của đất nước.

 

Rồi Đại úy Thịnh có hai đứa con lần lượt chào đời vào đầu thập niên 70, những ngày cuối cuộc chiến. Vì chiến trận, ông cũng không thể có mặt lúc bà "vượt cạn". Thảng hoặc từ chiến trận, ông lấy được vài ngày phép, về ôm con trong tay, khoác vai an ủi vợ phải nuôi con một mình như bao nhiêu người vợ lính khác thời chiến tranh;  rồi lại biền biệt từ mặt trận này đến tiền đồn khác.

 

*

 

Biến cố 30 tháng 4 năm 1975 một lần nữa đảo lộn đời sống của hơn hai mươi triệu người dân miền Nam.

 

Với tinh thần kỷ luật cao của một người lính VNCH, Thiếu tá Thịnh cùng đồng đội buông súng – theo lệnh của ông "Tổng thống hai ngày" Dương Văn Minh – lòng đầy uất ức.

 

Hơn mười năm "tù không tội" trong các trại cải tạo từ Nam ra Bắc, rồi từ Bắc vô Trung, dọc theo chiều dài đất nước, cùng cả chục ngàn cựu sĩ quan QLVNCH, ông Thịnh chịu nhiều cơ cực, và tủi nhục hơn bao giờ hết.

 

Ông thường chỉ được nhận "quà đeo"(tiếng lóng để chỉ các phần quà được thân nhân các bạn tù mang theo giúp vì gia đình không có khả năng tài chính hoặc sức khỏe, hoặc đã ở một nơi khác ngoài Việt Nam). Ông Thịnh không hề than van, mà nhẫn nại chịu đựng. Cái dáng cao gầy của ông từ thời đi học trở thành một "bộ xương biết đi”. Vậy mà trời xanh tiếp tục đánh ghen, cựu Thiếu tá TQLC LT Thịnh vẫn lành lặn trong hơn 10 năm biền biệt từ mặt trận này sang tuyến đầu khác đã phải bỏ lại một con mắt trong trại tù Long Giao (Xuân Lộc, Long Khánh). Ông bị một mắt kẽm gai văng vào mắt, không thật sự làm hỏng đồng tử của mắt nhưng thời đó, cuối thập niên 70 của thế kỷ 20, Việt Nam chỉ có một thứ thuốc làm từ lá và rễ cây, có cái tên "Xuyên tâm liên" (giống tiếng Tàu nhiều hơn tiếng Việt), để thay trụ sinh Penicillin nên tầm nhìn của ông chỉ còn một nửa.

Giữa thập niên 80, sau khi đã bóc lột hết sức lao động, ông Thịnh được trở về nhà tù lớn từ nhà tù nhỏ. Ông mang hết sức của mình làm đủ mọi nghề để nuôi con. Trời cao còn có mắt, nên đầu thập niên 90, ông đưa được gia đình sang Mỹ theo diện HO. Một lần nữa, ông lại cật lực làm việc để nuôi gia đình. Nền y tế tiến bộ hàng đầu thế giới ở Mỹ đã giúp ông phục hồi thị lực lên đến 30% từ con mắt mù lòa do một tai nạn trong những ngày cơ cực ở trại tù Long Giao (Xuân Lộc, Long Khánh) từ tháng 8 năm 1975.

 

*

 

Trong những thành công của thế hệ thứ hai của người Việt lưu vong, có sự hy sinh vô bờ của những ông cha nhìn bề ngoài  phẳng lặng như đại dương, nhưng bên trong là cả một day dứt không nguôi. Cũng như các ông cha khác, ông Thịnh vẫn tự an ủi mình bằng câu nói khí khái của anh hùng Nguyễn Thái Học "Không thành công cũng thành nhân" .

 

Cùng với ông Thịnh, các cựu Sĩ Quan QLVNCH đã được đền bù những tháng ngày cơ cực bằng cách mang con mình đến đất nước tự do. Không phải chỉ qua chính sách HO, mà từ năm 1977 đến năm 1989, cả chục ngàn con em của các cựu Sĩ quan QLVNCH từ các trại tỵ nạn nhanh chóng được đến Mỹ khi chứng tỏ được thân sinh của mình đã hoặc đang bị đày ải trong các trại cải tạo.

 

Kết quả nào cũng có cái giá phải trả. Thế hệ con của các cựu Sĩ quan QLVNCH luôn biết ơn sự chịu đựng của các bậc sinh thành, nhất là những ông cha đã  hy sinh thời thanh xuân của mình cho hai mươi năm tự do của miền Nam. Đâu đó trên đường phố của nước Mỹ đầy bận rộn, chúng ta có thể tìm thấy ông Thịnh, người Sĩ quan QLVNCH năm xưa, đã cận kề tuổi 80, nhưng lưng vẫn thẳng như thói quen ông vẫn giữ từ khi vào trường Võ khoa Thủ Đức.

 

Năm xưa, thời thanh xuân, ông Thịnh đã từng đứng đầu một Tiểu đoàn Thủy Quân Lục Chiến, chịu trách nhiệm cho sự an toàn của cả trăm đồng đội. Tháng ngày hoàng hôn của cuộc đời, người cựu quân nhân đã hoàn thành bổn phận với đất nước, với các con, vẫn đang lo toan cho người bạn đời sức khỏe đã hao mòn.

 

Mỗi độ tháng 6, xin thành kính tưởng nhớ ngày quốc tang Yên Bái 17 tháng 6, ngày Quân Lực VNCH 19 tháng 6, và ngày từ phụ (Father’s Day), chủ nhật thứ ba của tháng 6 hằng năm, được kỷ niệm ở 111 quốc gia trên khắp thế giới.

 

Tiền nhân, các bậc sinh thành đã hy sinh thân mình vì lý tưởng tự do, vì an nguy của dân tộc. Thế hệ của chúng tôi cũng xin ghi khắc lời dạy của anh hùng Nguyễn Thái Học "không thành công cũng thành nhân", và sống xứng đáng với sự hy sinh, với lòng kỳ vọng của thân phụ.

 

– Nguyễn Trần Diệu Hương

(Father’s Day 2022)

 

Gửi ý kiến của bạn
Vui lòng nhập tiếng Việt có dấu. Cách gõ tiếng Việt có dấu ==> https://youtu.be/ngEjjyOByH4
Tên của bạn
Email của bạn
)
Người họa sĩ ấy đã đi xa mười năm. Nhưng qua cuốn sách này với những tranh ảnh cùng phụ chú, cho tôi cảm giác như anh vẫn đâu đây, bên bạn bè và người thân, ấm áp.
Trong thế giới nhiễu động hôm nay, khi nhịp tiện nghi càng tăng thì khoảng cách giữa con người và thiên nhiên dường như càng xa, tranh của Ann Phong như một nốt lặng giữa biến tấu thời đại, đưa người xem tìm lại chính mình giữa cơn quay cuồng của văn minh. Mời tham dự cuộc triển lãm: Ann Phong: Làm Hòa Với Trái Đất - Triển lãm: Making Peace with the Earth, 415 Avenida Granada, San Clemente, CA 92672, Thời gian: 15 tháng Giêng – 8 tháng Ba, 2026, Địa điểm: Casa Romantica Cultural Center and Gardens
Tôi có một số kỷ niệm với Miền Đông Hoa Kỳ. Nhớ những ngày cùng theo nhà thơ Giang Hữu Tuyên ôm báo dưới mưa tuyết lất phất. Nhớ những buổi chiều ngồi tới khuya ở nhà anh Ngô Vương Toại, một nhà báo nổi tiếng từ thơi sinh viên ở Sài Gòn vì bị bắn trên một sân khấu nhạc ngoài trời và cuối đời trở thành một nhà truyền thông nổi tiếng trên đài Á Châu Tự Do RFA. Tôi nhớ giáo sư Nguyễn Ngọc Bích, người cực kỳ uyên bác với vốn học và nghiên cứu, và cũng là người cực kỳ thơ mộng với các phân tích về thơ Việt Nam và quốc tế. Và nhớ tới họa sĩ Đinh Cường, người khi vừa mới tới định cư ở Hoa Kỳ là đã có những cuộc triển lãm sôi nổi.
Biết cụ từ lâu, nhưng chúng tôi không được vào lớp học của cụ, tuy vậy có nhiều lần thầy Nguyễn Đăng Thục, mời cụ thỉnh giảng ở đại học văn khoa Saïgon, chúng tôi đã được nghe những lời giảng giải, , những lời vàng ngọc của cụ, hôm đấy cụ nói về vấn đề “dinh tê”, là chỉ dậy cho thanh niên sinh viên tại sao lại có vấn đề dinh tê, là việc đi kháng chiến, rồi lại đổi ý về thành phố… đã lâu rồi, tôi vẫn nhớ lơ mơ là thầy giảng cặn kẽ từ đầu, từ ngôn từ… dinh là đi, là đi về (như trong câu: anh đưa nàng về dinh, vậy đó, vậy đó, phải đúng không, anh Nguyễn Viết Sơn?) còn tê là nhại theo chữ tây thời Pháp thuộc, ý nghĩa của chữ rentrée! Nếu tôi nhớ lơ mơ thì xin một chữ đại xá! Tại vì lâu quá lâu rồi.
William Shakespeare và Anne Hathaway thành vợ chồng vào năm 1582. Chàng mới mười tám tuổi, nàng hai mươi sáu và đang mang thai. Một năm sau, Susanna ra đời. Đến năm 1585, cặp song sinh Judith và Hamnet xuất hiện, khiến căn nhà nhỏ ở Stratford-upon-Avon đầy thêm tiếng trẻ. Trong khi Anne ở lại quê chăm con và giữ nếp nhà, Shakespeare phần lớn thời gian sống giữa London—cách Stratford gần trăm dặm—nơi ông theo đuổi sân khấu và chữ nghĩa. Những năm tháng ấy, ông vẫn đều đặn đi về, nhưng cuộc sống gia đình đa phần đặt trên vai Anne.
Nói đến thi ca “một thời” của Thầy thì khả năng nào để nói, chữ nghĩa nào để diễn đạt, và tư tưởng – tình cảm nào để thấu ý thơ. Thôi thì mình nói bằng tấm lòng chân thành, bằng chút ân tình quý kính mà Thầy trò một thời học tập, làm việc bên nhau. Do vậy, xin đừng bông đùa chữ nghĩa mà thất lễ. Tản mạn thi ca, người viết muốn nói đến vài ý thơ của Thầy đã rơi rớt đâu đó, ẩn núp dưới rặng chân mây, bên bờ vực thẳm, hay như là ủ mình nơi “không xứ” vượt thoát tử sinh của bậc Đại sĩ, mà hòa quyện với đời một thứ tình cảm thâm trầm, da diết của thi nhân.
LTS: Hòa Thượng Thích Tuệ Sỹ (1945-2023) là một học giả, nhà văn, nhà thơ, nhà phiên dịch Tam Tạng Kinh điển Phật Giáo của Việt Nam trong thời hiện đại. Thầy đã xuất bản hàng chục tác phẩm về Phật học, văn học và triết học. Thầy viên tịch vào ngày 24/11/2023 tại Chùa Phật Ân, Đồng Nai, Việt Nam. Việt Báo xin dành số báo đặc biệt kỳ này để tưởng niệm hai năm ngày Thầy viên tịch và cũng để tỏ lòng tri ân những đóng góp của Thầy cho nền văn hóa và văn học của Dân Tộc và Phật Giáo Việt Nam.
Với lòng kính cẩn và tri ân, xin được cùng hướng về vị Thầy chung của chúng ta: Hòa Thượng Thích Tuệ Sỹ, người đã một đời cống hiến cho sự nghiệp văn hoá, giáo dục và sự tồn vong của Chánh Pháp. Người là bậc Cao tăng, Thạc đức của Phật giáo Việt Nam. Người là hiện thân của Bồ-đề nguyện và Bồ-đề hành. Người là bậc Đại sĩ, bằng bi nguyện và hùng lực đã giữ vững con thuyền Đạo pháp trong lòng Dân tộc. Từ thuở thiếu thời, Người đã bộc lộ tài hoa, cốt cách và phẩm hạnh cao quý của Sa môn. Tuổi ba mươi đã phải khép lại những trang cảo thơm, lên rừng xuống biển, chịu lênh đênh cùng vận nước thăng trầm. Bản án tử hình không khiến Người dao động tâm tư, chỉ làm sáng thêm tinh thần “uy vũ bất năng khuất”. Tù đày và quản thúc không thể thay đổi được một người đã quyết tâm sống trọn vẹn với những giá trị mình đã lựa chọn.
Quán trọ là cõi tạm thế gian. Nẻo về là Niết-bàn lộ. Từ quán trọ đến Niết-bàn, nói xa thì muôn trùng vạn dặm của ba A-tăng-kỳ kiếp, mà nói gần thì chỉ cách nhau trong đường tơ kẽ tóc của một móng tâm. Tâm khởi động thì ở quán trọ. Tâm tịch lặng thì là Niết-bàn. Khi khởi tâm “nhớ nửa cung đàn” thì đang ở quán trọ. Nhưng hãy để ý chữ “nửa cung đàn” là cách ẩn dụ của nhà thơ Tuệ Sỹ. Nó diễn bày một cách tinh tế cảm thức siêu thoát của nhà thơ. Nhớ trọn cung đàn thì đó là thứ nhớ nhung bị vướng lụy của tình cảm phàm tình. Nhớ “nửa cung đàn” thì đó chỉ là dư âm lướt nhẹ qua tâm hồn rỗng lặng như cánh chim bay qua bầu trời xanh không để lại dấu vết gì. Thầy Tuệ Sỹ là người nghệ sĩ siêu thoát, như có lần nhà bình luận văn học Đặng Tiến đã viết về thơ của Thầy trong bài “Âm trầm Tuệ Sỹ”:“Thơ bao giờ cũng phản ảnh ba tính cách: môi trường xã hội trong lịch sử; ngôn ngữ trong những biến chuyển với thời đại; và tác giả, qua đời sống hàng ngày;
“Cụ tượng” – cái tên nghe vừa vụng, vừa ngang. Vụng, vì nó ngắt gọn một cách bất chấp quy phạm. Ngang, vì nó từ chối cả hệ thống gọi tên vốn dĩ đã quá đông đúc của nghệ thuật: nào “trừu tượng”, nào “biểu hiện”, nào “tối giản”. Bùi Chát không tham gia vào cuộc xếp loại ấy, anh chỉ muốn gọi đúng động tác của mình: cụ thể hóa những mảnh hỗn độn mù mờ bên trong.


Kính chào quý vị,

Tôi là Derek Trần, dân biểu đại diện Địa Hạt 45, và thật là một vinh dự lớn lao khi được đứng nơi đây hôm nay, giữa những tiếng nói, những câu chuyện, và những tâm hồn đã góp phần tạo nên diện mạo văn học của cộng đồng người Mỹ gốc Việt trong suốt một phần tư thế kỷ qua.
Hai mươi lăm năm! Một cột mốc bạc! Một cột mốc không chỉ đánh dấu thời gian trôi qua, mà còn ghi nhận sức bền bỉ của một giấc mơ. Hôm nay, chúng ta kỷ niệm 25 năm Giải Viết Về Nước Mỹ của nhật báo Việt Báo.

Khi những người sáng lập giải thưởng này lần đầu tiên ngồi lại bàn thảo, họ đã hiểu một điều rất căn bản rằng: Kinh nghiệm tỵ nạn, hành trình nhập cư, những phức tạp, gian nan, và sự thành công mỹ mãn trong hành trình trở thành người Mỹ gốc Việt – tất cả cần được ghi lại. Một hành trình ý nghĩa không những cần nhân chứng, mà cần cả những người viết để ghi nhận và bảo tồn. Họ không chỉ tạo ra một cuộc thi; họ đã và đang xây dựng một kho lưu trữ. Họ thắp lên một ngọn hải đăng cho thế hệ sau để chuyển hóa tổn thương thành chứng tích, sự im lặng thành lời ca, và cuộc sống lưu vong thành sự hội nhập.

Trong những ngày đầu ấy, văn học Hoa Kỳ thường chưa phản ánh đầy đủ sự phong phú và đa dạng về kinh nghiệm của chúng ta. Giải thưởng Viết Về Nước Mỹ thực sự đã lấp đầy khoảng trống đó bằng sự ghi nhận và khích lệ vô số tác giả, những người đã cầm bút và cùng viết nên một thông điệp mạnh mẽ: “Chúng ta đang hiện diện nơi đây. Trải nghiệm của chúng ta là quan trọng. Và nước Mỹ của chúng ta là thế đó.”


Suốt 25 năm qua, giải thưởng này không chỉ vinh danh tài năng mà dựng nên một cộng đồng và tạo thành một truyền thống.
Những cây bút được tôn vinh hôm nay không chỉ mô tả nước Mỹ; họ định nghĩa nó. Họ mở rộng giới hạn của nước Mỹ, làm phong phú văn hóa của nước Mỹ, và khắc sâu tâm hồn của nước Mỹ. Qua đôi mắt họ, chúng ta nhìn thấy một nước Mỹ tinh tế hơn, nhân ái hơn, và sau cùng, chân thật hơn.

Xin được nhắn gửi đến các tác giả góp mặt từ bao thế hệ để chia sẻ tấm chân tình trên các bài viết, chúng tôi trân trọng cảm ơn sự can đảm của quý vị. Can đảm không chỉ là vượt qua biến cố của lịch sử; can đảm còn là việc ngồi trước trang giấy trắng, đối diện với chính mình, lục lọi ký ức đau thương sâu đậm, và gửi tặng trải nghiệm đó đến tha nhân. Quý vị là những người gìn giữ ký ức tập thể và là những người dẫn đường cho tương lai văn hóa Việt tại Hoa Kỳ.

Với Việt Báo: Xin trân trọng cảm ơn tầm nhìn, tâm huyết, và sự duy trì bền bỉ giải thưởng này suốt một phần tư thế kỷ.
Khi hướng đến 25 năm tới, chúng ta hãy tiếp tục khích lệ thế hệ kế tiếp—những blogger, thi sĩ, tiểu thuyết gia, nhà phê bình, nhà văn trẻ—để họ tìm thấy tiếng nói của chính mình và kể lại sự thật của họ, dù đó là thử thách hay niềm vui. Bởi văn chương không phải là một thứ xa xỉ; đó là sự cần thiết. Đó là cách chúng ta chữa lành, cách chúng ta ghi nhớ, và là cách chúng ta tìm thấy nơi chốn của mình một cách trọn vẹn.

Xin cảm ơn quý vị.

NHẬN TIN QUA EMAIL
Vui lòng nhập địa chỉ email muốn nhận.