Hôm nay,  

Gặp Gỡ Trên Xe Lửa

14/07/201000:00:00(Xem: 16499)

Gặp gỡ trên xe lửa

Bút ký của: Đoàn Thanh Liêm
Trong hai thứ xe chuyên chở hành khách, thì đi xe lửa có nhiều tiện nghi hơn là đi xe bus. Một phần vì xe lửa có chỗ ngồi rộng rãi và thỏai mái, đàng khác hành khách lại có thể đi lại từ toa này đến toa xe khác. Vả lại trên xe còn có chỗ bán đồ ăn thức uống và còn phục vụ cả bữa ăn cho hành khách nữa. Cũng như hành khách có thể ngồi chơi, nhâm nhi lon bia và chuyện trò thỏai mái trên toa “vọng cảnh” (sightseeing) nữa. Nói chung sinh họat của số đông hành khách trên xe lửa thì thật là sinh động, vui tươi bởi lý do là vào mùa hè, học sinh được nghỉ học, nên cha mẹ, ông bà thường dẫn các cháu đi du lịch bằng xe lửa, để vừa ngắm cảnh, vừa thực tập về môn địa lý nữa.
Nhưng riêng đối với tôi, thì tôi rất thích cái cơ hội gặp được những người khách ngồi bên cạnh mình, mà có thể chuyện trò trao đổi tâm sự một cách thân tình thỏai mái, tựa như giữa hai người bạn tâm giao mà đã gắn bó với nhau từ lâu lắm rồi. Và trong thực tế, tôi đã có cái may mắn gặp được nhiều người bạn đồng hành mà có thể trao đổi chuyện trò tậm đắc với nhau, chẳng khác gì như trong các dịp tôi đến thăm viếng bạn hữu tại nhà của họ vậy, mà tôi gọi là “vãng gia” (home visit). Dưới đây, tôi xin kể lại một số trường hợp cụ thể gặp gỡ các bạn đồng hành trong các chuyến đi xe lửa vừa mới sốt dẻo vào cuối tháng 6 vừa qua vậy nhé.
1 – Chuyện trò với Eva, sinh viên ngữ học người Đức.
Ngày Thứ Hai 21 tháng Sáu, anh Nguyễn Xuân Sơn chở tôi ra ga xe lửa Rochester NY để đi Worcester MA. Khi lên tàu kiếm chỗ ngồi, thì tôi chọn được một ghế còn trống bên cạnh một cô gái cỡ tuổi 25-26. Sau vài câu chuyện xã giao, tôi thấy cách nói tiếng Anh của cô rất chỉnh, y hệt như của một người Mỹ chính hiệu. Cô gái có thân hình hơi dềnh dàng chứ không được thon gọn son sẻ như của một sinh viên bình thường. Nhưng bù lại thì cô có một khuôn mặt thanh tú với đôi mắt nâu hiền dịu. Cô tự giới thiệu tên là Eva, sinh viên môn ngữ học, sinh trưởng tại nước Đức và hiện đang du lịch khắp nước Mỹ và Canada trong 2 tháng mùa hè. Và thường thì cô đến ở chung nhà với các bạn, chứ không ở tại khách sạn như là một khách du lịch bình thường. Mà đó cũng là cái thói quen của tôi, được gọi là home visit tại nhà của bà con hay bạn bè.
Vì thời gian đi trên xe kéo dài đến 7-8 tiếng, nên chúng tôi đã có thể trao đổi chuyện trò với nhau về đủ mọi lọai đề tài. Eva cho biết cô tuy là người Đức, nhưng lại được sinh sống tại nhiều nơi trên thế giới vừa để đi học, vừa để đi làm. Nhờ vậy mà có nhãn quan rộng mở hơn so với các sinh viên mà it có cơ hội đi đây đi đó như trường hợp của cô. Vì Eva chưa đi tới Việt nam bao giờ, nên tôi phải giải thích cho cô về cái tình trạng của trên 3 triệu người Việt nam ở hải ngọai, đó là những người tỵ nạn chính trị, vì không thể chấp nhận sống với chế độ độc tài chuyên chế cộng sản ở nơi quê hương bản quán của mình, nên đã phải sống lưu vong trên các quốc gia khác. Cụ thể như là trường hợp của chính bản thân tôi lúc này đang phải tỵ nạn trên đất Mỹ vậy.
Tôi trao cho Eva một số tài liệu của Mạng Lưới Nhân Quyền Việt nam, đặc biệt là Bản Tường Trình về Tình Hình Nhân Quyền tại Việt nam trong năm 2009 vừa qua. Eva đã chăm chú đọc các tài liệu này, và đã đặt cho tôi nhiều câu hỏi để nhờ tôi làm sáng tỏ hơn những thắc mắc của cô về tình hình phức tạp ở các nước như Việt nam, Trung quốc v.v…Tôi thấy rõ ràng là Eva có thái độ cởi mở để tiếp thu những lời trình bày của tôi, đặc biệt về vấn đề tranh đấu bất bạo động để đòi hỏi sự công bằng xã hội. cũng như để bảo vệ phẩm giá và nhân quyền cho số đông quần chúng bị khai thác bóc lột và bị kỳ thị áp bức. Ngòai ra, tôi cũng còn chia sẻ với Eva một số đồ ăn mà chị Nguyễn Xuân Sơn đã gói quá nhiều cho tôi lúc tôi lên tàu, điển hình là món xôi với muối mè là thứ mà Eva rất thích vì lạ miệng. Eva cứ tíu tít khen cái tài nấu nướng của các bà nội trợ Việt nam của tôi. Đó thiết nghĩ cũng là một cách thức để giới thiệu về văn hóa Việt nam nữa vậy.
2- Chuyện trò với Gene, một luật sư ở Baltimore.
Ngày 30 tháng Sáu, trên chuyến tàu từ Philadelphia để đi Washington DC, tôi đã gặp và làm quen được với Gene là một luật sư hiện đang hành nghề tại Baltimore. Tình cờ chúng tôi lại vào thẳng toa bán đồ ăn, và chiếm hẳn một bàn còn trống ở đó. Vào gần ban trưa, nên Gene có dề nghị muốn mời tôi một ly café. Tôi gật đầu đồng ý, và Gene đã mua thêm cả bánh ngọt cho Gene và tôi ăn kèm với ly café nữa. Tiếp theo là câu chuyện rôm rả giữa Gene và tôi là hai đồng nghiệp luật sư một trẻ, một già. Gene cho biết cha mẹ anh gốc gác ở Hòa Lan, nên anh có dịp nói được tiếng Pháp, và chúng tôi có nói chuyện với nhau vài câu tiếng Pháp. Gene cũng lại biết cả tiếng Nga, mà tôi thì cũng còn có thể nói lõm bõm vài chữ tiếng Nga tôi đã học sau năm 1975 ở Saigon lúc làm trong Bộ Tư Pháp với ông Trương Như Tảng được mấy tháng.


Vì đọan đường ngắn do Gene phải rời khỏi xe lúc đến Baltimore, nên câu chuyện không thể kéo dài lâu được. Dầu vậy, trong hơn một giờ chuyện trò bên ly café, chúng tôi cũng đã nói với nhau được nhiều điều mà hai bên đều quan tâm, điển hình như về chính sách của Mỹ đối với người di dân, mà hiện đang gây tranh cãi trong dư luận do việc chính quyền tiểu bang Arizona vừa mới công bố luật lệ có tính cách hạn chế ngặt nghèo đối với người di dân. Tôi nói : Bản thân tôi là người mới đến định cư tại nước Mỹ, nên tôi thông cảm với những nỗi khó khăn bế tắc nhọc nhằn và cả tủi nhục của người di dân, và tôi mong ước rằng chính phủ Mỹ sẽ tìm được một giải pháp tương đối thỏa đáng cho vấn đề khúc mắc này.
Dĩ nhiên là tôi cũng cho anh bạn biết về tình hình nhân quyền tại Việt nam hiện nay thì rất là tồi tệ, bởi lẽ chánh quyền cộng sản vẫn ra tay đàn áp nặng nề đối với những người tranh đấu cho Tự do, Dân chủ, cho sự Công bằng Xã hội và Nhân quyền của người dân Việt nam. Tôi cũng biếu Gene bản brochure của Mạng Lưới Nhân Quyền Việt nam, mà tôi là một thành viên họat động, đồng thời tôi cũng ghi địa chỉ e-mail của tôi trên bản brochure đó, để Gene có thể liên lạc thư từ với tôi sau này. Đến trạm Baltimore vào ban trưa, thì chúng tôi chia tay nhau vì Gene phải rời con tàu tại đây.
3 – Glen sinh viên khoa Tâm lý học tại Đại học Notre Dame.
Chiều ngày 30 Tháng Sáu, tôi lại lên tiếp con tàu khác tại ga Union Station quen thuộc ở Washington DC để đi tiếp đến Chicago. Đọan đường này dài gần 1,000 miles, nên con tàu phải đi suốt cả đêm và mãi đến 9.00 sáng ngày 1 Tháng Bảy, thì mới đến thành phố được gọi là “Windy City” này. Tôi ngồi cạnh Glen là sinh viên vừa tốt nghiệp bằng Cao học (M A) về khoa Tâm lý tại Đại học Notre Dame trong tiểu bang Indiana. Chúng tôi đã có nhiều giờ trò chuyện trao đổi với nhau về đủ mọi thứ đề tài. Glen cho biết Notre Dame là một Đại học có đến 20,000 sinh viên và do các linh mục Công giáo thành lập đã lâu. Và theo chỗ tôi biết, thì vào hồi đầu thập niên 1950, cũng đã có một số sinh viên Việt nam theo học tại đây.
Glen còn cho biết sắp sửa di chuyển đến làm việc tại Đại học UC Santa Barbara ở California và dự tính sẽ hòan tất học trình ban Tiến sĩ tại đây trong mấy năm nữa. Qua trao đổi, tôi nhận thấy Glen có một sự hiểu biết khá sâu sắc về các vấn đề triết học cũng như về khoa học xã hội, và chúng tôi đã chuyện trò với nhau khá là tương đắc. Khi tôi cho Glen biết là tôi sắp sửa bước vào tuổi 76, thì anh nói luôn : “Bác cùng tuổi với bà ngọai của cháu đấy!” Tôi có đưa cho Glen coi một số bài tôi viết bằng tiếng Anh, thì anh rất thích bài “Reflexion on My Days in Jail” của tôi viết tại nhà tù Hàm Tân Phan Thiết vào năm 1995, lúc đã ở trong tù 66 tháng rồi. Glen xin tôi cho anh một bản để còn có dịp chuyền cho các bạn cùng đọc nữa.
Sáng sớm ngày hôm sau, thì Glen từ biệt tôi để xuống ga South Bend cũng gần với ga Elkhart, mà trước đó 2 tuần lễ tôi đã đáp tàu để đi tới Rochester thuộc tiểu bang New York thăm anh chị Nguyễn Xuân Sơn. Tôi có dặn Glen câu này : “Thế hệ của tôi đã già nua rồi, chẳng còn có thể làm được điều gì quan trọng đáng kể nữa. Tôi mong rằng lớp trẻ như anh sẽ tiếp nối công việc đang dở dang của chúng tôi và cố gắng mà làm cho tốt hơn lớp người đã già nua như chúng tôi. Như trong tiếng Việt chúng tôi có câu : “ Con hơn cha, nhà có phúc”. Mong lắm vậy thay…” Glen tỏ vẻ cảm động với câu nói này của tôi, và với nét mặt đăm chiêu anh nói với tôi : “Cháu sẽ cố gắng làm hết sức của mình” (I will do my best).
Đại khái, trong suốt cuộc hành trình dài ngày của tôi trên lục địa nước Mỹ từ nhiều năm qua, thì tôi hay gặp được những người già có, trẻ có mà đều có tinh thần cởi mở, phóng khóang như mấy người bạn đồng hành tôi mô tả lại trên đây. Nhờ vậy, mà tôi bớt được những sự nhọc mệt buồn chán, nhất là trong các chuyến đi vào ban đêm khiến cho hành khách không thể nào mà có thể ngủ yên giấc cho thỏai mái dễ chịu như ở tại nhà của mình được. Và như thế, tôi luôn giữ được sự lạc quan và tin tưởng nơi lương tri và sự thiện hảo của con người, mặc dầu trong  xã hội vẫn còn đày dãy những phức tạp và tranh chấp hận thù như ta thấy ngày nay vậy./
Arizona Giữa Tháng Bảy 2010 
Đòan Thanh Liêm

Gửi ý kiến của bạn
Vui lòng nhập tiếng Việt có dấu. Cách gõ tiếng Việt có dấu ==> https://youtu.be/ngEjjyOByH4
Tên của bạn
Email của bạn
)
Hoa Kỳ đã bước sang tuần thứ ba của chiến tranh Iran. Mười ba binh sĩ Mỹ đã tử trận. Hàng ngàn thường dân Iran, bao gồm cả trẻ em, đã bỏ mạng. Các cuộc không kích liên tục diễn ra trên bầu trời Trung Đông, bất kể đó là trường học hay bệnh viện.
Ngay lối vào khu vực triển lãm tranh theo chủ nghĩa hiện thực lãng mạn ở bảo tàng Chrysler Museum of Art, Norfolk, Virginia, là bức tranh Washington Crossing the Delaware (ca. 1856–1871) của họa sĩ người Mỹ, George Caleb Bingham (1822–1979). Bức tranh này mô tả một thời khắc lịch sử của nước Mỹ trong thời lập quốc, nổi tiếng trong American Revolutionary War – Cuộc Cách Mạng Mỹ. Được vẽ vào năm 1871, tác phẩm Washington Crossing the Delaware tả cảnh George Washington cùng các binh sĩ của ông vượt qua sông Delaware vào năm 1776 (theo lịch sử là đêm 25-26/12/1776). Họa sĩ Bingham vẽ bức tranh này năm 1856, tức nhiều thập niên sau khi Cách Mạng Mỹ kết thúc, trong thời kỳ người Mỹ đang nghiền ngẫm về bản sắc quốc gia sau thời kỳ nội chiến. Trong suốt nhiều năm, bức tranh này nằm trong tình trạng dang dở, và phải đến tận mười tám năm sau kể từ khi bắt đầu thực hiện, nó mới thực sự được hoàn thiện.
Hai chính trị gia tham dự buổi bàn thảo lịch sử. Một theo bảo thủ. Một theo cấp tiến. Chính trị gia bảo thủ: Liên Hiệp Quốc hôm nay đông như lễ đăng quang của một hoàng đế mới. Tôi có mặt vì muốn nghe lời thật – từ một người đang làm tổng thống, và một kẻ từng dạy các ông vua cách không bị giết. Tôi tin: quyền lực là bản năng, đạo đức là trang sức. Chính trị gia cấp tiến: Tôi đến vì tò mò: thế kỷ 21 có còn chỗ cho triết lý của thế kỷ 16? Hay chỉ còn những bản sao mệt mỏi của lòng tham? Tôi mang sổ tay, anh ta mang cờ quốc gia.
Chế độ Cộng Sản Việt Nam vừa cho tiến hành cuộc bầu cử Quốc hội vào ngày 15 tháng Ba năm 2026. Xét về hình thức, họ vẫn tiếp tục duy trì một nghi thức chính trị quen thuộc đã tồn tại nhiều thập niên. Tuy nhiên, nếu đặt sự kiện này dưới góc nhìn pháp lý và so sánh với các chuẩn mực bầu cử tự do được công nhận rộng rãi trong luật quốc tế, thì nhiều vấn đề hạn chế lại tiếp tục bộc lộ. Những vấn đề đó không chỉ liên quan đến cách thức tổ chức bầu cử, mà còn liên quan đến bản chất pháp lý của quyền bầu cử, quyền ứng cử và nguyên tắc đại diện trong một cơ quan lập pháp. Theo các tiêu chuẩn quốc tế về bầu cử dân chủ, đặc biệt được ghi nhận trong International Covenant on Civil and Political Rights (ICCPR) – Công ước mà Việt Nam đã phê chuẩn – rằng mọi công dân phải có quyền tham gia vào việc quản lý đất nước thông qua các đại diện được bầu ra bằng các cuộc bầu cử định kỳ, tự do, công bằng và bằng bỏ phiếu kín.
Tại Diễn Đàn Kinh Tế Thế Giới ở Davos, Thụy Sĩ vào tháng 1 năm 2026, Tổng Thư Ký Liên Hiệp Quốc Antonio Guterres đã cảnh báo rằng pháp quyền ngày càng bị thay thế bởi “luật rừng,” trích lại theo bài viết “The Uncertainties of the New World Order Affect the Middle East” [Những Bất Ổn Của Trật Tự Thế Giới Mới Ảnh Hưởng Trung Đông] của Amal Mudallali. Lời cảnh báo của Tổng Thư Ký LHQ không phải bắt nguồn từ những suy diễn không thật mà là từ thực tế đang diễn ra trên thế giới hiện nay. Trật tự thế giới từ sau Thế Chiến Thứ Hai đã thay đổi nhiều lần vì sự cạnh tranh quyền lực trên thế giới của các siêu cường hay các liên minh khu vực. Nhưng nhờ lá chắn pháp quyền được thể hiện qua luật pháp quốc tế mà Mỹ là nước dẫn đầu xây dựng và duy trì nên suốt tám mươi năm qua thế giới đã có thể tương đối giữ được trật tự và sự ổn định để không rơi vào khủng hoảng nghiêm trọng. Tuy nhiên, mấy năm gần đây thế giới ngày càng bất ổn vì một vài cường quốc bất chấp luật pháp quốc tế đã dùng vũ lực quân sự
Phía Cửa Bắc chợ Bến Thành, có một người đàn ông mấy mươi năm qua rất quen thuộc với người Sài Gòn. Có thể người ta không biết tên ông là Tạ Hữu Ngọc, nhưng nhắc đến người thợ sửa giày ở chợ Bến Thành, người Sài Gòn sẽ nhớ ngay đến ông. Giới thương gia, nghệ sĩ thường mang những đôi giày sang trọng, đắt tiền, nhờ ông sửa lại, vừa chân, để họ tự tin sải bước. Đôi giày càng vừa chân, càng thoải mái, người ta càng tự tin bước đến vạch thành công. Thế mà ở trời Tây xa xôi, có một anh chàng, đã phải loay hoay sửa mãi đôi giày của mình, chỉ để…vừa chân một người khác.
Về Thụy Điển thăm nhà vài tuần, đi tàu điện, uống cà phê, lang thang qua những góc phố, vỉa hè. Nhìn cách xã hội ở đây vận hành, tôi nghĩ đến những cuộc tranh luận ồn ào vô căn cứ của người Việt ở Mỹ về “xã hội chủ nghĩa”. “Xã hội chủ nghĩa Bắc Âu” thực ra chẳng hề giống với thứ “xã hội chủ nghĩa” mà Việt Nam từng trải qua. Đây cũng không phải cái “xã hội chủ nghĩa” mà nhiều người Việt ở Mỹ thường mang ra chụp mũ trong những cuộc cãi vã chính trị. Ba khái niệm tưởng cùng tên, nhưng bản chất rất khác nhau. Chỉ là từ lâu chúng vẫn bị đánh đồng một sàng một cách vô tình hay cố ý.
Ngày 5.03.2026, Khalaf Ahmad Al Habtoor đã công bố một bức thư sắc bén và thẳng thừng (1) gửi tới Tổng thống Donald Trump liên quan đến Iran, cũng như tầm ảnh hưởng của Benjamin Netanyahu trong việc định hình chính sách của Mỹ. Mặc dù các chính phủ vùng Vịnh không công khai ủng hộ hay bác bỏ bức thư này, sự im lặng của họ đã được hiểu như một dấu hiệu cho thấy những mối quan ngại của Habtoor đang âm thầm cộng hưởng trong khu vực.
Ngày 8/10/2025, trang mạng xã hội White House đăng tấm ảnh của tổng thống, tay ôm chồng hồ sơ, bước đi khoan thai trong Bạch Cung dưới ánh nắng vàng nhẹ chiếu qua gương mặt, đủ để lộ vẻ đăm chiêu về một chiến lược “Make America Great Again.” Tấm hình nổi bật thêm với dòng chữ to “THE PEACE PRESIDENT.” Trong những tháng trước cuộc bầu cử tổng thống năm 2024, một lời hứa vang vọng khắp các tiểu bang “chiến trường”, lặp đi lặp lại trong các cuộc phỏng vấn trên truyền hình, tạo ra sự tin tưởng gần như tuyệt đối: “Tôi sẽ bảo đảm an toàn cho con gái, con trai của quý vị. Tôi vốn dĩ là tổng thống đầu tiên của nước Mỹ thời hiện đại không châm ngòi những cuộc chiến mới, ” ứng cử viên Donald Trump tuyên bố.
Chúng ta đang sống trong một thời kỳ khủng hoảng niềm tin sâu rộng, khi những biến cố dồn dập khiến nhiều người rơi vào trạng thái hoang mang. Gần đây, vụ án Jeffrey Epstein đã trở thành tâm điểm tranh luận toàn cầu, buộc công chúng phải nhìn lại hình ảnh của giới tinh hoa quyền lực trong chính trường và thương trường quốc tế – những tầng lớp từng được xem là biểu tượng của trí thức và các giá trị đạo đức trong thượng tầng xã hội. Nhiều sự thật được phơi bày, trong khi nỗ lực phục hồi công lý vẫn còn được chờ đợi thực thi.
NHẬN TIN QUA EMAIL
Vui lòng nhập địa chỉ email muốn nhận.