Hôm nay,  

Dầu Khí Và Mỹ Kim

06/09/200800:00:00(Xem: 11101)
...Mỹ kim tăng giá rất mạnh trong nay mai...

Thứ Hai vừa qua, giá dầu thô đã giảm mạnh, chỉ còn 105 Mỹ kim một thùng so với 147 đồng vào ngày 11 tháng Bảy. Đồng thời, tỷ giá đồng Mỹ kim cũng tăng mạnh so với các ngoại tệ khác. Có quan hệ gì về giá cả giữa hai loại tài sản đó hay không" Có phải vì Mỹ kim lên giá mà dầu thô sụt giá hay vì dầu thô giảm giá mà Mỹ kim tăng giá trên thế giới" Diễn đàn Kinh tế đài RFA tìm hiểu vấn đề này qua phần trao đổi cùng kinh tế gia Nguyễn Xuân Nghĩa do Việt Long thực hiện sau đây.

Hỏi: Thưa ông Nguyễn Xuân Nghĩa. Khi được biết trận bão Gustav trong vùng Vịnh Mexico đã giảm cường độ và không gây thiệt hại cho khu vực khai thác dầu khí của Hoa Kỳ ở tại đây, giá dầu thô trên thế giới lập tức giảm mạnh và sáng thứ hai chỉ còn 105 Mỹ kim một thùng. Cùng lúc ấy, người ta cũng thấy tỷ giá đồng Mỹ kim có tăng mạnh so với nhiều ngoại tệ khác trên thế giới và có thể ảnh hưởng tới tình hình kinh tế và lạm phát tại Việt Nam. Vì vậy, trong chương trình hôm nay, chúng tôi xin đề nghị là chúng ta cùng tìm hiểu là giá dầu xuống làm tiền Mỹ lên, hay ngược lại vì tiền Mỹ tăng giá mà dầu thô sụt giá" Ông nghĩ sao về vấn đề này"

- Ta khó tìm ra tương quan nhân quả giữa giá dầu và hối suất Mỹ kim, tức là dầu khí hay đô la là nguyên nhân gây hậu quả khiến giá cả hai loại sản phẩm này biển chuyển nghịch chiều. Nhưng rõ ràng là từ ngày 11 tháng Bảy đến nay, dầu thô sụt giá đều, ngay cả trong vụ khủng hoảng tại Georgia. Đồng thời, từ 15 tháng Bảy đến nay, đồng đô la đã lên giá so với các ngoại tệ khác như đồng Euro Âu châu hay đồng Yen của Nhật. Chúng ta nên tìm hiểu vấn đề này như ông đề nghị vì có thể giúp ta nhìn ra các yếu tố chi phối và nhất là ứng phó với hiện tượng đảo giá của đồng Mỹ kim khiến nhiều người tại Việt Nam nói đến việc vay tiền theo hối suất đô la.

Hỏi: Như mọi khi, xin đề nghị ông trình bày cho thính giả rõ bối cảnh của vấn đề, là sự thăng trầm giá cả của dầu thô và đô la Mỹ trong thời gian qua, sau đó ta mới phân tích về lý do.

- Quả thật là trong nhiều năm liền và tới tháng Bảy vừa qua, kinh tế thế giới bị ảnh hưởng nặng của hai hiện tượng song hành. Thứ nhất, dầu thô tăng giá và tăng đến mức kỷ lục khiến lạm phát lây lan ra nhiều quốc gia, nhất là các nước phải nhập khẩu năng lượng. Thứ hai là Mỹ kim sụt giá so với các ngoại tệ mạnh khác và điều ấy cũng ảnh hưởng đến việc xuất nhập khẩu của các nước trên thế giới nếu họ giàng giá đồng nội tệ của mình vào tiền Mỹ. Thế rồi từ tháng Bảy, tình hình có đảo ngược như ta đã trình bày trong một chương trình cách đây một tháng. Sự đảo ngược này đang gây hy vọng lạc quan cho các nền kinh tế vì dầu thô giảm giá sẽ có lợi cho sản xuất và Mỹ kim tăng giá khiến nhiều nước dễ ứng phó hơn với nguy cơ suy trầm sản xuất.

Hỏi: Ông nói rằng giới kinh tế vẫn khó tìm ra tương quan nhân quả giữa hai loại sản phẩm đó. Nghĩa là thật ra chưa rõ rằng đô la lên đã đẩy giá dầu xuống hay ngược lại, dầu thô giảm giá đã nâng đồng đô la lên" Vì vậy mà trong hoàn cảnh có thể là tốt đẹp hơn kể từ tháng Tám vừa qua, ta vẫn chưa biết tình hình sẽ xoay chuyển thế nào"

- Nếu theo dõi thống kê dài hạn của chỉ số giá dầu và chỉ số Mỹ kim, người ta có cảm tưởng - mà chỉ là cảm tưởng thôi - rằng Mỹ kim mới ảnh hưởng đến giá dầu, chứ không phải ngược lại. Chẳng hạn như cho tới năm 2003, dầu thô lên giá khiến các nước bán dầu có thêm đô la, gọi là petrodollars, và họ chuyển lại tài sản đó vào thị trường Mỹ nên điều ấy lại nâng giá Mỹ kim. Nhưng qua năm 2004, tình hình không còn như vậy và tới năm 2006 lại còn đảo ngược, là dầu thô lên giá mà tiền Mỹ vẫn mất giá. Bây giờ, ta đang thấy chiều hướng đối nghịch về giá cả của hai mặt hàng. Cho nên, ta cần tìm ra một chuỗi yếu tố chi phối giá cả dầu thô và đô la và vì sao có sự đối nghịch đó. Tôi xin được nói trước rằng đây là một vấn đề hơi rắc rối khó hiểu.

Hỏi: Nếu vậy, xin ông phân tích cho yếu tố đầu tiên trong một chuỗi các yếu tố đó. Cụ thể là giá dầu có ảnh hưởng gì đến hối suất đồng đô la hay không"

- Ngày xưa, các nước bán dầu có petrodollar thì chuyển ngược về Mỹ. Từ mấy năm sau này, họ có nhiều thị trường khác để đầu tư hơn nên tiền thu từ bán dầu không mặc nhiên trút hết về Mỹ để nâng tỷ giá Mỹ kim như trong mấy năm trước. Lồng bên dưới, ta còn có hiện tượng khác là các nước bán dầu không nhất thiết chỉ nhập khẩu hàng Mỹ mà còn nhập khẩu hàng hoá Âu châu, và ngày một nhiều hơn. Lý do chủ yếu là việc thống nhất đồng bạc Âu châu và sự ra đời của đồng Euro đã khiến các nước bán dầu trong Hiệp hội OPEC có nhiều chọn lựa hơn trong việc sử dụng tài sản bằng Mỹ kim của họ. Vì vậy, dầu thô lên giá không nhất thiết kéo theo tỷ giá đô la. Trong khi ấy, ta còn một yếu tố thứ hai nữa....

Hỏi: Yếu tố đó có phải là sự sút giảm trị giá Mỹ kim vì lý do nội tại của Mỹ là kinh tế bị nhập siêu, tức là nhập nhiều hơn xuất khẩu, hay không"

- Thưa chúng ta nên thận trọng trong việc phân tích sự chuyển biến giá cả giữa hai mặt hàng và về yếu tố chi phối, là cái gì kéo cái gì. Mỹ kim sụt giá chủ yếu là vì kinh tế Mỹ bị thiếu hụt ngoại thương và khiếm hụt cán cân vãng lai hay cán cân chi phó như ông vừa hỏi. Đây là lý do nội tại. Nhưng, nếu kết hợp thêm hiệu ứng dầu thô vào bài toán, ta thấy dầu thô càng tăng giá, kinh tế Mỹ càng bị nhập siêu nặng hơn nên giá dầu tăng làm tỷ giá Mỹ kim càng giảm. Tuy nhiên, kể từ năm 2005, tình hình không xoay chuyển một chiều như vậy. Vẫn biết Mỹ kim xuống giá khiến Mỹ bán hàng rẻ hơn, dễ hơn, và số nhập siêu ngày càng giảm, nhưng, đi vào chi tiết của số nhập siêu đó thì ta cần phân biệt hai loại hàng là dầu thô và các mặt hàng khác. Mỹ bị nhập siêu nặng hơn về dầu thô mà nhẹ hơn về các mặt hàng khác. Nói cho dễ hiểu, Mỹ kim sụt giá có cải thiện cán cân ngoại thương của Mỹ, nhưng dầu thô lên giá lại giảm thiểu sự cải thiện đó.

Hỏi: Ngoài việc sử dụng đồng petrodollar ở đâu và ảnh hưởng của giá dầu vào số nhập siêu của Mỹ, ta còn yếu tố nào đáng kể hay không"

- Ta có hai hệ thống ngân hàng trung ương với hai ưu tiên khác biệt nên chính sách lãi suất khác biệt. Ngân hàng Trung ương Hoa Kỳ có chức năng đa diện là bảo đảm tăng trưởng trong ổn định trong khi Ngân hàng Trung ương ECB của Âu châu có chức năng kiểm soát lạm phát là chính. Khi dầu thô tăng giá người ta chờ đợi ECB nâng lãi suất mạnh và sự chờ đợi ấy khiến đồng Euro tăng giá mạnh so với Mỹ kim làm đô la mất giá oan uổng, tức là bị đánh giá thấp. Mà giá dầu niêm yết và giao dịch bằng Mỹ kim càng khiến thị trường có cảm tưởng là nguy cơ lạm phát trầm trọng hơn vì hiệu ứng dầu thô.

- Bây giờ, người ta mới thấy ra sự thể không hẳn như vậy nên Mỹ kim mới bung mạnh. Và sẽ còn tăng khi thế giới thấy là kinh tế Mỹ không đến nỗi suy sụp như mọi người tưởng và nhất là như giới chính trị Mỹ báo động vì lý do tranh cử. Trong khi ấy, các nền kinh tế Nhật Bản và Âu châu còn bết bát hơn, Thủ tướng Nhật phải từ chức, Tổng trưởng Tài chánh Anh thì báo động là kinh tế Anh sẽ bị khủng hoảng nguy kịch nhất kể từ 60 năm nay. Những sự kiện đó càng khiến Mỹ kim tăng giá rất mạnh trong nay mai mà Ngân hàng Trung ương ECB thì gần như bị tê liệt.

Hỏi: Thú thật là câu chuyện này quá rắc rối như ông đã nói hồi nãy. Bây giờ, ông còn thấy những yếu tố gì khác làm chúng ta phải chú ý không"

- Ba yếu tố vừa nói, là thứ nhất petrodollars, thứ hai là cơ cấu nhập siêu của Mỹ và thứ ba tình hình kinh tế Mỹ so sánh với các nền kinh tế khác, khiến dầu thô có chi phối trực tiếp hay gián tiếp đồng Mỹ kim. Ngoài ra, ta lại còn ba loại yếu tố khác khiến Mỹ kim sẽ ảnh hưởng ngược đến giá dầu thô. Thứ nhất, Mỹ kim sụt giá khiến các nước giàng giá nội tệ vào đô la càng dễ xuất khẩu nhờ hàng hoá của họ cũng sụt giá theo, thí dụ như các nước Á châu. Từ ba năm nay, họ xuất khẩu mạnh nên càng nhập khẩu nguyên nhiên vật liệu và điều ấy càng đẩy giá dầu thô lên cao hơn. Thứ hai, giới đầu tư mà thấy Mỹ kim xuống giá và thương phẩm - tức là nguyên nhiên vật liệu, kim loại và nông sản - càng lên giá là họ càng mua thương phẩm để thủ thân khi đô la sụt giá. Phản ứng đó khiến Mỹ kim sụt giá lại càng đẩy giá dầu thô. Thứ ba, khi Mỹ kim xuống giá và dầu thô lên giá nhiều quốc gia đã xoay trở ngược, bằng cách nâng tỷ giá đồng bạc của họ đâm ra càng gây hiệu ứng lạm phát và đẩy lui một hiện tượng đáng lẽ phải xảy ra sớm hơn, là tiết giảm số cầu về dầu thô.

- Bây giờ, sự thể đang thay đổi và sẽ thay đổi sự tính toán của các nước, là điều ta rất nên theo dõi vì có thể thấy ra sự lầm lẫn trong cách ứng phó trong hoàn cảnh mình gọi là giao thời này.

Hỏi: Trước khi nói đến những lầm lẫn đó, xin đề nghị là ông tổng kết lại về những viễn ảnh trước mắt.

- Thứ nhất, sự chuyển hướng nghịch chiều giữa Mỹ kim và dầu thô sẽ còn tiếp tục. Thứ hai, dầu thô sẽ còn sụt giá sau khi đã đụng đỉnh gần 150 đồng một thùng. Ngược lại, và thứ ba, Mỹ kim sẽ còn tăng giá so với các ngoại tệ mạnh vì kinh tế Mỹ không bị nguy ngập bằng các nền kinh tế kia. Tổng kết lại, thị trường thương phẩm sẽ được hạ nhiệt, tức là bớt tăng giá và thiên hạ cho rằng nguy cơ lạm phát không còn đáng sợ như tình hình cách đây vài tháng. Vì vậy mà dễ có chính sách sai lầm!

Hỏi: Câu hỏi cuối, thưa ông. Nhiều người tại Việt Nam đang nghĩ là lãi suất quá cao hiện nay sẽ cản trở sản xuất và trước nhất cản trở việc thu mua nông ngư sản cho xuất khẩu nên đề xuất việc trợ giúp bằng cách cho vay thao lãi suất nhẹ hơn của đồng Mỹ kim. Ông nghĩ sao về việc này"

- Trước hết, đây là một tin mừng khi người ta được rộng rãi thảo luận và đề xuất ý kiến cứu vãn kinh tế, thay vì cứ phó mặc cho đảng và nhà nước tự tiện tính toán trong bóng tối và gây ra tai họa. Tuy nhiên, ta không nên quá lạc quan với giải pháp gọi là cho vay với lãi suất đô la để người đi vay sẽ trả lãi nhẹ hơn được 60% so với lãi suất nội tệ. Lý do là sai biệt lãi suất này lập tức dẫn đến nạn đầu cơ và những người quyền thế nhất sẽ trục lợi nhanh nhất. Thứ hai, khi Mỹ kim tăng giá và mối lo lạm phát hết còn ám ảnh các quốc gia trên thế giới, lãi suất đô la cũng sẽ tăng. Hai yếu tố đó càng gây sức ép cho tỷ giá đồng bạc Việt Nam.

- Chúng ta nên nhớ rằng Thái Lan đã từng bị khủng hoảng năm 1997 vì hiện tượng ấy khi họ vay ngoại tệ với lãi suất rẻ để đem về cho vay lại với lãi suất cao hơn nên gây ra khủng hoảng ngoại hối và từ đó lan rộng thành khủng hoảng kinh tế!

Gửi ý kiến của bạn
Vui lòng nhập tiếng Việt có dấu. Cách gõ tiếng Việt có dấu ==> https://youtu.be/ngEjjyOByH4
Tên của bạn
Email của bạn
)
Hoa Kỳ đã bước sang tuần thứ ba của chiến tranh Iran. Mười ba binh sĩ Mỹ đã tử trận. Hàng ngàn thường dân Iran, bao gồm cả trẻ em, đã bỏ mạng. Các cuộc không kích liên tục diễn ra trên bầu trời Trung Đông, bất kể đó là trường học hay bệnh viện.
Ngay lối vào khu vực triển lãm tranh theo chủ nghĩa hiện thực lãng mạn ở bảo tàng Chrysler Museum of Art, Norfolk, Virginia, là bức tranh Washington Crossing the Delaware (ca. 1856–1871) của họa sĩ người Mỹ, George Caleb Bingham (1822–1979). Bức tranh này mô tả một thời khắc lịch sử của nước Mỹ trong thời lập quốc, nổi tiếng trong American Revolutionary War – Cuộc Cách Mạng Mỹ. Được vẽ vào năm 1871, tác phẩm Washington Crossing the Delaware tả cảnh George Washington cùng các binh sĩ của ông vượt qua sông Delaware vào năm 1776 (theo lịch sử là đêm 25-26/12/1776). Họa sĩ Bingham vẽ bức tranh này năm 1856, tức nhiều thập niên sau khi Cách Mạng Mỹ kết thúc, trong thời kỳ người Mỹ đang nghiền ngẫm về bản sắc quốc gia sau thời kỳ nội chiến. Trong suốt nhiều năm, bức tranh này nằm trong tình trạng dang dở, và phải đến tận mười tám năm sau kể từ khi bắt đầu thực hiện, nó mới thực sự được hoàn thiện.
Hai chính trị gia tham dự buổi bàn thảo lịch sử. Một theo bảo thủ. Một theo cấp tiến. Chính trị gia bảo thủ: Liên Hiệp Quốc hôm nay đông như lễ đăng quang của một hoàng đế mới. Tôi có mặt vì muốn nghe lời thật – từ một người đang làm tổng thống, và một kẻ từng dạy các ông vua cách không bị giết. Tôi tin: quyền lực là bản năng, đạo đức là trang sức. Chính trị gia cấp tiến: Tôi đến vì tò mò: thế kỷ 21 có còn chỗ cho triết lý của thế kỷ 16? Hay chỉ còn những bản sao mệt mỏi của lòng tham? Tôi mang sổ tay, anh ta mang cờ quốc gia.
Chế độ Cộng Sản Việt Nam vừa cho tiến hành cuộc bầu cử Quốc hội vào ngày 15 tháng Ba năm 2026. Xét về hình thức, họ vẫn tiếp tục duy trì một nghi thức chính trị quen thuộc đã tồn tại nhiều thập niên. Tuy nhiên, nếu đặt sự kiện này dưới góc nhìn pháp lý và so sánh với các chuẩn mực bầu cử tự do được công nhận rộng rãi trong luật quốc tế, thì nhiều vấn đề hạn chế lại tiếp tục bộc lộ. Những vấn đề đó không chỉ liên quan đến cách thức tổ chức bầu cử, mà còn liên quan đến bản chất pháp lý của quyền bầu cử, quyền ứng cử và nguyên tắc đại diện trong một cơ quan lập pháp. Theo các tiêu chuẩn quốc tế về bầu cử dân chủ, đặc biệt được ghi nhận trong International Covenant on Civil and Political Rights (ICCPR) – Công ước mà Việt Nam đã phê chuẩn – rằng mọi công dân phải có quyền tham gia vào việc quản lý đất nước thông qua các đại diện được bầu ra bằng các cuộc bầu cử định kỳ, tự do, công bằng và bằng bỏ phiếu kín.
Tại Diễn Đàn Kinh Tế Thế Giới ở Davos, Thụy Sĩ vào tháng 1 năm 2026, Tổng Thư Ký Liên Hiệp Quốc Antonio Guterres đã cảnh báo rằng pháp quyền ngày càng bị thay thế bởi “luật rừng,” trích lại theo bài viết “The Uncertainties of the New World Order Affect the Middle East” [Những Bất Ổn Của Trật Tự Thế Giới Mới Ảnh Hưởng Trung Đông] của Amal Mudallali. Lời cảnh báo của Tổng Thư Ký LHQ không phải bắt nguồn từ những suy diễn không thật mà là từ thực tế đang diễn ra trên thế giới hiện nay. Trật tự thế giới từ sau Thế Chiến Thứ Hai đã thay đổi nhiều lần vì sự cạnh tranh quyền lực trên thế giới của các siêu cường hay các liên minh khu vực. Nhưng nhờ lá chắn pháp quyền được thể hiện qua luật pháp quốc tế mà Mỹ là nước dẫn đầu xây dựng và duy trì nên suốt tám mươi năm qua thế giới đã có thể tương đối giữ được trật tự và sự ổn định để không rơi vào khủng hoảng nghiêm trọng. Tuy nhiên, mấy năm gần đây thế giới ngày càng bất ổn vì một vài cường quốc bất chấp luật pháp quốc tế đã dùng vũ lực quân sự
Phía Cửa Bắc chợ Bến Thành, có một người đàn ông mấy mươi năm qua rất quen thuộc với người Sài Gòn. Có thể người ta không biết tên ông là Tạ Hữu Ngọc, nhưng nhắc đến người thợ sửa giày ở chợ Bến Thành, người Sài Gòn sẽ nhớ ngay đến ông. Giới thương gia, nghệ sĩ thường mang những đôi giày sang trọng, đắt tiền, nhờ ông sửa lại, vừa chân, để họ tự tin sải bước. Đôi giày càng vừa chân, càng thoải mái, người ta càng tự tin bước đến vạch thành công. Thế mà ở trời Tây xa xôi, có một anh chàng, đã phải loay hoay sửa mãi đôi giày của mình, chỉ để…vừa chân một người khác.
Về Thụy Điển thăm nhà vài tuần, đi tàu điện, uống cà phê, lang thang qua những góc phố, vỉa hè. Nhìn cách xã hội ở đây vận hành, tôi nghĩ đến những cuộc tranh luận ồn ào vô căn cứ của người Việt ở Mỹ về “xã hội chủ nghĩa”. “Xã hội chủ nghĩa Bắc Âu” thực ra chẳng hề giống với thứ “xã hội chủ nghĩa” mà Việt Nam từng trải qua. Đây cũng không phải cái “xã hội chủ nghĩa” mà nhiều người Việt ở Mỹ thường mang ra chụp mũ trong những cuộc cãi vã chính trị. Ba khái niệm tưởng cùng tên, nhưng bản chất rất khác nhau. Chỉ là từ lâu chúng vẫn bị đánh đồng một sàng một cách vô tình hay cố ý.
Ngày 5.03.2026, Khalaf Ahmad Al Habtoor đã công bố một bức thư sắc bén và thẳng thừng (1) gửi tới Tổng thống Donald Trump liên quan đến Iran, cũng như tầm ảnh hưởng của Benjamin Netanyahu trong việc định hình chính sách của Mỹ. Mặc dù các chính phủ vùng Vịnh không công khai ủng hộ hay bác bỏ bức thư này, sự im lặng của họ đã được hiểu như một dấu hiệu cho thấy những mối quan ngại của Habtoor đang âm thầm cộng hưởng trong khu vực.
Ngày 8/10/2025, trang mạng xã hội White House đăng tấm ảnh của tổng thống, tay ôm chồng hồ sơ, bước đi khoan thai trong Bạch Cung dưới ánh nắng vàng nhẹ chiếu qua gương mặt, đủ để lộ vẻ đăm chiêu về một chiến lược “Make America Great Again.” Tấm hình nổi bật thêm với dòng chữ to “THE PEACE PRESIDENT.” Trong những tháng trước cuộc bầu cử tổng thống năm 2024, một lời hứa vang vọng khắp các tiểu bang “chiến trường”, lặp đi lặp lại trong các cuộc phỏng vấn trên truyền hình, tạo ra sự tin tưởng gần như tuyệt đối: “Tôi sẽ bảo đảm an toàn cho con gái, con trai của quý vị. Tôi vốn dĩ là tổng thống đầu tiên của nước Mỹ thời hiện đại không châm ngòi những cuộc chiến mới, ” ứng cử viên Donald Trump tuyên bố.
Chúng ta đang sống trong một thời kỳ khủng hoảng niềm tin sâu rộng, khi những biến cố dồn dập khiến nhiều người rơi vào trạng thái hoang mang. Gần đây, vụ án Jeffrey Epstein đã trở thành tâm điểm tranh luận toàn cầu, buộc công chúng phải nhìn lại hình ảnh của giới tinh hoa quyền lực trong chính trường và thương trường quốc tế – những tầng lớp từng được xem là biểu tượng của trí thức và các giá trị đạo đức trong thượng tầng xã hội. Nhiều sự thật được phơi bày, trong khi nỗ lực phục hồi công lý vẫn còn được chờ đợi thực thi.
NHẬN TIN QUA EMAIL
Vui lòng nhập địa chỉ email muốn nhận.