Hôm nay,  

Châu Á Phục Hồi Nhanh

04/11/200900:00:00(Xem: 7384)

Châu Á Phục Hồi Nhanh

Nguyễn Xuân Nghĩa & Mai Vân RFI

Nhưng chỉ bền vững nếu cải cách và chuyển hướng...
Ngày 29/10/2009, Quỹ Tiền tệ Quốc tế IMF công bố dự báo về kinh tế Châu Á Thái Bình Dương với một số nhận định tương đối lạc quan. Tăng trưởng kinh tế khu vực sẽ là 5,75% trong năm 2010, so với 2,75% dự kiến năm nay. Trong lúc đó thì tăng trưởng các quốc gia nhóm G7 chỉ là 1,25% cho năm tới.
Nếu trước đây, các nền kinh tế Châu Á bị tác hại nặng nề, có khi nặng nề hơn những nước ở ngay trung tâm khủng hoảng, thì giờ đây Châu Á dẫn đầu thế giới ra khỏi khủng hoảng. Năm nay, Trung Quốc tăng trưởng khoảng 8,5%, còn năm tới đây, theo dự báo của IMF sẽ lên 9%. Nhật Bản cũng sẽ tăng trưởng trở lại vào năm 2010, tuy ở mực khiêm tốn, 1,75%, trong khi năm nay kinh tế thụt lùi xuống mức - 5,5%.
Các nước ASEAN, như Thái Lan, Malaysia, Philippines, mà kinh tế cũng thụt lùi trong năm 2009, cũng sẽ tăng trưởng trở lại, 2,5% đối với Malaysia, 3,5% cho Phillipines và Thái Lan 3,7%. Riêng Indonesia và Việt Nam có tăng trưởng cao hơn : từ 4,6 % năm 2009, Việt Nam sẽ đạt 5,3% vào năm 2010. Indonesia, từ 4% năm nay, sẽ nhích lên 4,8%.
Trong bản cập nhật về kinh tế Đông Á, công bố ngày 04/11, Ngân hàng thế giới cũng nêu bật đà phục hồi của Á Châu.
Về nguyên nhân giúp các nước Châu Á phục hồi nhanh như thế, IMF nêu lên bối cảnh thương mại và tài chính toàn cầu hoạt động bình thường trở lại, nhưng định chế này cũng khen ngợi các quốc gia Châu Á đã biết nhanh chóng đưa ra các đối sách hữu hiệu trên mặt tiền tệ, tài chính, kích thích kinh tế. Nhìn chung trong bối cảnh kinh tế toàn cầu vẫn chưa sáng sủa, trường hợp kinh tế Châu Á khả quan hơn là một hiện tượng đáng khích lệ.
Tuy nhiên bên cạnh những đánh giá tích cực trên, Quỹ tiền tệ Quốc tế cũng đưa ra những lời khuyến cáo rất đáng quan tâm. Đó là khu vực này vẫn phải cảnh giác về chính sách kích thích kinh tế, cần triệt để cải cách về cơ chế, chuyển hướng kinh tế, thích nghi với tình hình mới của thế giới, với nhu cầu của các thị trường xuất khẩu truyền thống của họ (Hoa Kỳ, Châu Âu…) sụt giảm. Nói cách khác, châu Á phải chú trọng hơn đến thị trường nội điạ.
Có làm như thế thì mới hy vọng duy trì được một mức tăng trưởng cao trong lâu dài trong khung cảnh kinh tế toàn cầu có nhiều thay đổi. Theo IMF, đà tăng trưởng tương đối khả quan hiện nay vẫn còn bấp bênh.
Trong phần trả lời RFI, kinh tế gia Nguyễn Xuân Nghiã phân tích cụ thể hơn về bài toán nói trên : về những nguyên nhân giúp các quốc gia Châu Á, trong đó có Việt Nam, vươn lên, cũng như những khó khăn phải vượt qua để duy trì được đà tăng trưởng, như khuyến cáo của IMF. Ngoài ra, chuyên gia Nguyễn Xuân Nghiã, cũng đánh giá là nếu không kể đến Trung Quốc, Ấn Độ, Hàn Quốc, tình hình kinh tế những nước còn lại của Châu Á không khả quan như người ta nghĩ..
Sau đây là toàn văn bài phỏng vấn (03/11/2009):
RFI: Quỹ Tiền tệ Quốc tế công bố dự báo về kinh tế châu Á Thái Bình Dương với nhiều thẩm định lạc quan hơn về triển vọng cho năm tới, cụ thể là sẽ đạt tốc độ tăng trưởng khoảng 5,75% vào năm tới so với vỏn vẹn có 2,75% trong năm nay. Cảm tưởng chung là dường như trong các khu vực kinh tế toàn cầu, Á châu đang bật dậy sớm hơn cả. Xin đề nghị anh phân tích cho những yếu tố nào đã khiến Á châu hồi phục mạnh hơn nơi khác "
Nguyễn Xuân Nghĩa: - Tôi xin được nói về bối cảnh trước rồi mình lần lượt xoáy vào từng khía cạnh đặc thù. Á châu là khu vực rộng lớn và đa diện với rất nhiều khác biệt. Nó gồm có cường quốc kinh tế thứ nhì thế giới là Nhật, ở trong nhóm thất hùng đã công nghiệp hóa là khối G-7 nhưng hiện chưa ra khỏi suy trầm.
Khi các định chế quốc tế nói tới kinh tế Á châu, ta nên hiểu là họ thường không kể Nhật Bản. Á châu cũng có Ấn Độ với hơn một tỷ dân và kinh tế tương đối ít bị chấn động, nhưng không thuộc Đông Á. Khu vực Đông Á thì có các nền kinh tế "tân hưng" mới nổi, như Nam Hàn, Đài Loan, có thể kể cả đại gia Trung Quốc và nhiều nước Đông Nam Á như Singapore, Malaysia, Indonesia, Thái Lan.
- Sau cùng, Á châu cũng có các nền kinh tế gọi là "có lợi tức thấp", như Việt Nam, Lào, Cam Bốt, Bangladesh, Mông Cổ, v.v... Vì vậy, khi nói về Á châu, ta có khá nhiều trường hợp cá biệt nhưng trong chương trình này, có lẽ mình tập trung vào các nước tân hưng vì có sức mạnh kinh tế đáng kể, và sẽ chú ý riêng vào trường hợp Việt Nam.
- Thứ hai, trước khi Hoa Kỳ bị khủng hoảng tài chính năm ngoái và gây ra trận suy thoái toàn cầu, trước tiên là trong nhóm G-7 đó thì kinh tế Mỹ đã bị suy trầm từ cuối năm 2008 sau bảy năm tăng trưởng liên tục. Khi cơn chấn động manh nha từ đầu năm 2008, người ta đã tưởng là kinh tế Á châu, đặc biệt là các nước tân hưng Đông Á, đã tách khỏi ba đầu máy tăng trưởng gọi là nhóm G-3 - là Mỹ, Âu Châu và Nhật Bản - vì đã có nội lực riêng sau mấy thập niên phát triển. Chuyện ấy không xảy ra, Á châu vẫn bị kéo vào suy thoái và chìm xuống đáy, nhưng lại bật lên sớm nhất. Các định chế quốc tế như Quỹ Tiền tệ hay Ngân hàng Thế giới đang nói về sức bật đó.
RFI: Thưa anh, những động lực nào đã tạo ra sức bật đó" Nhờ chính sách cấp cứu kinh tế hay nhờ họ buôn bán với nhau nhiều hơn là với các nước đã công nghiệp hoá, như ba đầu máy G-3 hay nhóm G-7 của Tây phương "
Nguyễn Xuân Nghĩa: - Một trong những động lực chính là bài học của vụ khủng hoảng kinh tế Đông Á năm 1997-1998 khiến các nước trong khu vực đều biết sợ nên cố xây dựng nền móng vĩ mô lành mạnh hơn, cụ thể là quân bình công chi thu trong ngân sách quốc gia và một khối dự trữ ngoại tệ tương đối khả quan. Nhờ nền móng ấy, khi nạn suy thoái bùng nổ, họ có thể tung ra nhiều biện pháp cấp cứu mạnh bạo về ngân sách như tăng chi để kích thích sản xuất, và về tiền tệ như hạ lãi suất và bơm thêm tín dụng vào kinh tế. Những biện pháp ấy đã phần nào bù đắp mức thất thâu khi các thị trường xuất khẩu vào khối G-3 đều co cụm.
- Khi khủng hoảng tài chính bùng nổ tại Hoa Kỳ rồi lan qua Âu Châu thì tư bản bị đông lạnh, tín dụng bị ách tắc nên các nước có tiền này bèn triệt thoái tư bản về để cấp cứu ở nhà khiến đầu tư vào các nước Đông Á cũng giảm mạnh. Nhưng nhờ các nước Đông Á đã gom sẵn một lượng dự trữ ngoại tệ dồi dào hơn sau vụ khủng hoảng 10 năm trước nên họ vẫn còn ngoại tệ để tung vào thị trường hầu tránh một vụ khủng hoảng ngoại hối vì xuất cảng với đầu tư trực tiếp từ nước ngoài đều giảm. Đó là tình hình chung, nhưng hoàn cảnh mỗi nước lại có những dị biệt.


RFI: Khi xuất cảng vào các nước công nghiệp hoá đều giảm thì các nước Đông Á đã có thể bán hàng cho nhau mà bù đắp vào sự thiếu hụt ấy hay không"
Nguyễn Xuân Nghĩa: - Hiện tượng ấy có nhưng không đồng bộ vì hoàn cảnh khác biệt của từng nước. Trước hết, cả Quỹ Tiền tệ Quốc tế lẫn Ngân hàng Thế giới đều nhận định là Trung Quốc đã ráo riết kích cầu và tìm lại mức tăng trưởng cao hơn cả nên trở thành một đầu máy cho các nền kinh tế kia. Thật ra hai định chế này đều có thói quen đánh giá kinh tế Trung Quốc một cách lạc quan - mà tôi thiển nghĩ là thái quá, nhất là trường hợp của Ngân hàng Thế giới.
- Các nước xuất cảng khoáng sản hay sản phẩm đệ nhất đẳng như nguyên nhiên liệu, thì quả là có bán được hàng cho Trung Quốc. Nhưng đa số các nước này đều thuộc thành phần có lợi tức thấp nên không phải là nhờ vậy mà kinh tế Đông Á nói chung đã đụng đáy và phục hồi sớm hơn cả. Các nước bán hàng chế biến thì chưa thể trông cậy vào việc bán hàng cho Trung Quốc mà ra khỏi suy thoái. Họ tìm sức bật ở nơi khác.
- Nói chung thì ngoài Trung Quốc, Ấn Độ và Nam Hàn, tình hình kinh tế Á châu chưa khả quan như người ta nghĩ. Chẳng hạn như nếu không kể đà tăng trưởng hơn 8% của Trung Quốc thì bình quân còn lại của các nước Đông Á khó có thể đạt 5,7 hay 5,8% như Quỹ Tiền tệ dự báo, mà chỉ ở khoảng 2-3% thôi và còn thấp hơn các nước Trung Đông hay Nam Á, trong đó có Ấn Độ. Một số nước nghèo, trong đó có Việt Nam với tốc độ tăng trưởng 5%, thật ra chưa ra khỏi cảnh ngộ ngặt nghèo. Vì vậy tôi mới phải dài dòng nói về những khác biệt trong khố kinh tế Á Châu.
RFI: Thưa anh, báo cáo của Quỹ Tiền tệ có nhấn mạnh là đà tăng trưởng tương đối khả quan này thật ra vẫn còn bấp bênh, nghĩa là không đều, và nhất là thiếu bền vững, tức là không kéo dài. Nguyên nhân là vì sao" Và muốn có đà tăng trưởng bền vững thì các nước này phải làm gì"
Nguyễn Xuân Nghĩa: - Nguyên nhân về thời cơ hay chu kỳ -là trong thời gian ngắn hạn một hai năm - đầu máy kinh tế của nhóm G-7 vẫn còn yếu với tăng trưởng bình quân chỉ ở khoảng 1,25% một năm vào năm tới. Lý do là sau nạn suy thoái vừa qua, giới tiêu thụ Âu Mỹ bị cháy túi nên tiêu xài ít đi và kinh tế cũng nhập cảng ít đi. Vì vậy sẽ không giúp gì nhiều cho các nước xuất cảng tại châu Á, ít ra trong một hai năm.
- Nguyên nhân thứ hai thuộc về hoàn cảnh nội tại của các nền kinh tế Á châu. Đó là chưa có trớn tăng trưởng đủ mạnh để khỏi cần tới lực đẩy của chính quyền, tức là nếu các biện pháp kích cầu mà chấm dứt là kinh tế sẽ lại bị suy trầm, đình trệ. Cũng vì vậy, Quỹ Tiền tệ Quốc tế mới khuyến cáo các chính quyền là phải cảnh giác để nếu cần và nếu có thể thì tiếp tục duy trì biện pháp kích thích kinh tế, nghĩa là vẫn phải tống ga, nếu không, cỗ xe sẽ dừng.
- Nguyên nhân thứ ba thuộc về cơ chế và có ý nghĩa trường kỳ, là các nền kinh tế Á châu phải tìm ra lực đẩy nội tại từ khu vực tư doanh và khả năng tiêu thụ của thị trường nội địa thay vì mong chờ bán hàng cho Mỹ cho Âu hoặc nhờ cậy vào chính sách kích cầu của nhà nước. Đây là thử thách lớn nhất cho châu Á vì phải quan niệm lại toàn bộ chiến lược phát triển và cơ chế sản xuất. Không riêng gì các định chế quốc tế như Quỹ Tiền tệ hay Ngân hàng Thế giới, mà nhiều quốc gia trong nhóm G-20 là 20 nền kinh tế mạnh nhất thế giới đã nói đến yêu cầu "quân bình hoá toàn cầu". Nghĩa là các nước giàu, nhất là Hoa Kỳ, cần tiêu thụ ít đi và tiết kiệm nhiều hơn trong khi các nước Đông Á nên tiêu thụ nhiều hơn để mở rộng thị trường nội địa lấy thị trường này làm đầu máy tăng trưởng hơn là thị trường xuất cảng.
RFI: Tức là sau nhiều thập niên thắt lưng buộc bụng để xuất cảng với giá thật rẻ, nay các nước Đông Á được khuyến cáo là nên cởi hầu bao và tiêu xài nhiều hơn hầu thị trường tiêu thụ nội địa sẽ thúc đẩy sản xuất "
Nguyễn Xuân Nghĩa: - Thưa đúng như vậy và đấy mới là bài toán không dễ giải quyết vì phải chuyển hóa nền kinh tế từ chiến lược hướng ngoại về hướng nội. Nghĩa là đầu tư mạnh hơn vào hệ thống giao thông và phân phối nội địa, đầu tư tinh tế hơn vào giáo dục và tay nghề, khai thông ách tắc luât lệ để tư doanh nội địa dễ tham gia sản xuất, mở rộng mạng lưới an sinh xã hội và trợ giúp y tế để người dân khỏi e sợ bất trắc mà duy trì mức tiết kiệm quá cao. Và trước hết, dừng duy trì tỷ giá đồng bạc nội địa quá thấp để tìm lợi thế cạnh tranh khi xuất cảng với giá rẻ mà nên điều chỉnh hối suất này cho cao hơn để khỏi gây thiệt thòi lợi tức của người dân.
RFI: Câu hỏi cuối thưa anh, Quỹ Tiền tệ Quốc tế và Ngân hàng Thế giới nhận định ra sao về trường hợp Việt Nam "
Nguyễn Xuân Nghĩa: - Họ ngợi khen Việt Nam đã quyết liệt ban hành chính sách kích thích kinh tế qua tăng chi, giảm thuế và nhất là bơm tín dụng, và còn cho rằng ngân khoản kích cầu thực tế có lẽ cao hơn con số chính thức rất nhiều và nhờ vậy mà kinh tế đã tăng trưởng khả quan, bình quân có thể là 5,5% cho cả năm nay.
- Tuy nhiên, họ cũng cảnh báo Việt Nam bốn chuyện nên thận trọng. Thứ nhất, sẽ bị bội chi ngân sách quá cao do số thu thì giảm vì sinh hoạt kinh tế bị đình đọng mà số chi lại tăng quá mạnh vì biện pháp kích cầu. Thứ hai, lượng tín dụng quá lớn bơm vào kinh tế có thể thổi lên bong bóng đầu cơ mà không rót vào đúng nơi cần cứu là tiểu doanh nghiệp tư nhân, lại còn làm hệ thống ngân hàng ôm vào một gánh nợ xấu khiến nhiều cơ sở tài trợ mất lời và bị rủi ro. Thứ ba, nguồn thu ngoại tệ suy giảm vì nhập siêu quá lớn, đầu tư nước ngoài và tiền gửi của thân nhân ở ngoài về đều sụt mạnh nên Việt Nam sẽ bị khó khăn về ngoại hối, dự trữ ngoại tệ chỉ còn hơn 16 tỷ vào tháng Tám vừa qua. Sau cùng, tình trạng nghèo đói đã gia tăng vì sinh hoạt kinh té đình trệ mà mạng lưới an sinh và cứu trợ xã hội vẫn còn quá thô sơ.
- Tổng kết lại, tôi nghĩ rằng bội chi ngân sách tới hơn 9% tổng sản lượng nội địa sẽ thu hẹp khả năng tăng chi cho yêu cầu an sinh xã hội trong khi tín dụng cấp phát quá nhiều lại không cứu đúng đối tượng cần cứu và khi nguồn tín dụng này được giảm thì nhiều trái bóng đầu cơ sẽ xì hoặc bể, thí dụ như trên thị trường chứng khoán vào cuối năm nay và bất động sản vào năm tới. Trong khi đó, tín dụng ào ạt vẫn có thể gây ra hậu quả lạm phát từ cuối năm nay trở đi.

Gửi ý kiến của bạn
Vui lòng nhập tiếng Việt có dấu. Cách gõ tiếng Việt có dấu ==> https://youtu.be/ngEjjyOByH4
Tên của bạn
Email của bạn
)
Hoa Kỳ đã bước sang tuần thứ ba của chiến tranh Iran. Mười ba binh sĩ Mỹ đã tử trận. Hàng ngàn thường dân Iran, bao gồm cả trẻ em, đã bỏ mạng. Các cuộc không kích liên tục diễn ra trên bầu trời Trung Đông, bất kể đó là trường học hay bệnh viện.
Ngay lối vào khu vực triển lãm tranh theo chủ nghĩa hiện thực lãng mạn ở bảo tàng Chrysler Museum of Art, Norfolk, Virginia, là bức tranh Washington Crossing the Delaware (ca. 1856–1871) của họa sĩ người Mỹ, George Caleb Bingham (1822–1979). Bức tranh này mô tả một thời khắc lịch sử của nước Mỹ trong thời lập quốc, nổi tiếng trong American Revolutionary War – Cuộc Cách Mạng Mỹ. Được vẽ vào năm 1871, tác phẩm Washington Crossing the Delaware tả cảnh George Washington cùng các binh sĩ của ông vượt qua sông Delaware vào năm 1776 (theo lịch sử là đêm 25-26/12/1776). Họa sĩ Bingham vẽ bức tranh này năm 1856, tức nhiều thập niên sau khi Cách Mạng Mỹ kết thúc, trong thời kỳ người Mỹ đang nghiền ngẫm về bản sắc quốc gia sau thời kỳ nội chiến. Trong suốt nhiều năm, bức tranh này nằm trong tình trạng dang dở, và phải đến tận mười tám năm sau kể từ khi bắt đầu thực hiện, nó mới thực sự được hoàn thiện.
Hai chính trị gia tham dự buổi bàn thảo lịch sử. Một theo bảo thủ. Một theo cấp tiến. Chính trị gia bảo thủ: Liên Hiệp Quốc hôm nay đông như lễ đăng quang của một hoàng đế mới. Tôi có mặt vì muốn nghe lời thật – từ một người đang làm tổng thống, và một kẻ từng dạy các ông vua cách không bị giết. Tôi tin: quyền lực là bản năng, đạo đức là trang sức. Chính trị gia cấp tiến: Tôi đến vì tò mò: thế kỷ 21 có còn chỗ cho triết lý của thế kỷ 16? Hay chỉ còn những bản sao mệt mỏi của lòng tham? Tôi mang sổ tay, anh ta mang cờ quốc gia.
Chế độ Cộng Sản Việt Nam vừa cho tiến hành cuộc bầu cử Quốc hội vào ngày 15 tháng Ba năm 2026. Xét về hình thức, họ vẫn tiếp tục duy trì một nghi thức chính trị quen thuộc đã tồn tại nhiều thập niên. Tuy nhiên, nếu đặt sự kiện này dưới góc nhìn pháp lý và so sánh với các chuẩn mực bầu cử tự do được công nhận rộng rãi trong luật quốc tế, thì nhiều vấn đề hạn chế lại tiếp tục bộc lộ. Những vấn đề đó không chỉ liên quan đến cách thức tổ chức bầu cử, mà còn liên quan đến bản chất pháp lý của quyền bầu cử, quyền ứng cử và nguyên tắc đại diện trong một cơ quan lập pháp. Theo các tiêu chuẩn quốc tế về bầu cử dân chủ, đặc biệt được ghi nhận trong International Covenant on Civil and Political Rights (ICCPR) – Công ước mà Việt Nam đã phê chuẩn – rằng mọi công dân phải có quyền tham gia vào việc quản lý đất nước thông qua các đại diện được bầu ra bằng các cuộc bầu cử định kỳ, tự do, công bằng và bằng bỏ phiếu kín.
Tại Diễn Đàn Kinh Tế Thế Giới ở Davos, Thụy Sĩ vào tháng 1 năm 2026, Tổng Thư Ký Liên Hiệp Quốc Antonio Guterres đã cảnh báo rằng pháp quyền ngày càng bị thay thế bởi “luật rừng,” trích lại theo bài viết “The Uncertainties of the New World Order Affect the Middle East” [Những Bất Ổn Của Trật Tự Thế Giới Mới Ảnh Hưởng Trung Đông] của Amal Mudallali. Lời cảnh báo của Tổng Thư Ký LHQ không phải bắt nguồn từ những suy diễn không thật mà là từ thực tế đang diễn ra trên thế giới hiện nay. Trật tự thế giới từ sau Thế Chiến Thứ Hai đã thay đổi nhiều lần vì sự cạnh tranh quyền lực trên thế giới của các siêu cường hay các liên minh khu vực. Nhưng nhờ lá chắn pháp quyền được thể hiện qua luật pháp quốc tế mà Mỹ là nước dẫn đầu xây dựng và duy trì nên suốt tám mươi năm qua thế giới đã có thể tương đối giữ được trật tự và sự ổn định để không rơi vào khủng hoảng nghiêm trọng. Tuy nhiên, mấy năm gần đây thế giới ngày càng bất ổn vì một vài cường quốc bất chấp luật pháp quốc tế đã dùng vũ lực quân sự
Phía Cửa Bắc chợ Bến Thành, có một người đàn ông mấy mươi năm qua rất quen thuộc với người Sài Gòn. Có thể người ta không biết tên ông là Tạ Hữu Ngọc, nhưng nhắc đến người thợ sửa giày ở chợ Bến Thành, người Sài Gòn sẽ nhớ ngay đến ông. Giới thương gia, nghệ sĩ thường mang những đôi giày sang trọng, đắt tiền, nhờ ông sửa lại, vừa chân, để họ tự tin sải bước. Đôi giày càng vừa chân, càng thoải mái, người ta càng tự tin bước đến vạch thành công. Thế mà ở trời Tây xa xôi, có một anh chàng, đã phải loay hoay sửa mãi đôi giày của mình, chỉ để…vừa chân một người khác.
Về Thụy Điển thăm nhà vài tuần, đi tàu điện, uống cà phê, lang thang qua những góc phố, vỉa hè. Nhìn cách xã hội ở đây vận hành, tôi nghĩ đến những cuộc tranh luận ồn ào vô căn cứ của người Việt ở Mỹ về “xã hội chủ nghĩa”. “Xã hội chủ nghĩa Bắc Âu” thực ra chẳng hề giống với thứ “xã hội chủ nghĩa” mà Việt Nam từng trải qua. Đây cũng không phải cái “xã hội chủ nghĩa” mà nhiều người Việt ở Mỹ thường mang ra chụp mũ trong những cuộc cãi vã chính trị. Ba khái niệm tưởng cùng tên, nhưng bản chất rất khác nhau. Chỉ là từ lâu chúng vẫn bị đánh đồng một sàng một cách vô tình hay cố ý.
Ngày 5.03.2026, Khalaf Ahmad Al Habtoor đã công bố một bức thư sắc bén và thẳng thừng (1) gửi tới Tổng thống Donald Trump liên quan đến Iran, cũng như tầm ảnh hưởng của Benjamin Netanyahu trong việc định hình chính sách của Mỹ. Mặc dù các chính phủ vùng Vịnh không công khai ủng hộ hay bác bỏ bức thư này, sự im lặng của họ đã được hiểu như một dấu hiệu cho thấy những mối quan ngại của Habtoor đang âm thầm cộng hưởng trong khu vực.
Ngày 8/10/2025, trang mạng xã hội White House đăng tấm ảnh của tổng thống, tay ôm chồng hồ sơ, bước đi khoan thai trong Bạch Cung dưới ánh nắng vàng nhẹ chiếu qua gương mặt, đủ để lộ vẻ đăm chiêu về một chiến lược “Make America Great Again.” Tấm hình nổi bật thêm với dòng chữ to “THE PEACE PRESIDENT.” Trong những tháng trước cuộc bầu cử tổng thống năm 2024, một lời hứa vang vọng khắp các tiểu bang “chiến trường”, lặp đi lặp lại trong các cuộc phỏng vấn trên truyền hình, tạo ra sự tin tưởng gần như tuyệt đối: “Tôi sẽ bảo đảm an toàn cho con gái, con trai của quý vị. Tôi vốn dĩ là tổng thống đầu tiên của nước Mỹ thời hiện đại không châm ngòi những cuộc chiến mới, ” ứng cử viên Donald Trump tuyên bố.
Chúng ta đang sống trong một thời kỳ khủng hoảng niềm tin sâu rộng, khi những biến cố dồn dập khiến nhiều người rơi vào trạng thái hoang mang. Gần đây, vụ án Jeffrey Epstein đã trở thành tâm điểm tranh luận toàn cầu, buộc công chúng phải nhìn lại hình ảnh của giới tinh hoa quyền lực trong chính trường và thương trường quốc tế – những tầng lớp từng được xem là biểu tượng của trí thức và các giá trị đạo đức trong thượng tầng xã hội. Nhiều sự thật được phơi bày, trong khi nỗ lực phục hồi công lý vẫn còn được chờ đợi thực thi.
NHẬN TIN QUA EMAIL
Vui lòng nhập địa chỉ email muốn nhận.